Hoàn thiện lập kế hoạch kiểm toán BCTC do Cty Cổ phần Kiểm toán và Tư vấn Thăng Long thực hiện - Pdf 81

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Lời mở đầu
Để đảm bảo cho cuộc kiểm toán đợc tiến hành một cách có hiệu quả thì
kiểm toán viên và công ty kiểm toán phải lập kế hoạch kiểm toán. Việc lập kế
hoạch kiểm toán không chỉ xuất phát từ yêu cầu chính của cuộc kiểm toán nhằm
chuẩn bị những điều kiện cơ bản trong công tác kiểm toán, mà còn là nguyên tắc
cơ bản trong công tác kiểm toán. Lập kế hoạch kiểm toán đã đợc quy định thành
chuẩn mực và đòi hỏi các kiểm toán viên phải tuân theo đầy đủ nhằm đảm bảo tiến
hành công tác kiểm toán có hiệu quả và chất lợng.
Thực tiễn hoạt động kiểm toán ở nớc ta trong những năm vừa qua cho thấy
kế hoạch kiểm toán đợc lập đầy đủ và chu đáo là một trong những nhân tố hàng
đầu đa đến sự thành công của cuộc kiểm toán cũng nh dẫn đến sự thành công của
các doanh nghiệp.
Nhận thức đợc tầm quan trọng của lập kế hoạch kiểm toán, trong quá trình
thực tập tại Công ty Cổ phần Kiểm toán và T vấn Thăng Long đợc tiếp xúc với
thực tế công việc lập kế hoạch kiểm toán tại Công ty, em đã chọn đề tài Hoàn
thiện lập kế hoạch kiểm toán Báo cáo tài chính do Công ty Cổ phần Kiểm toán
và T vấn Thăng Long thực hiện làm chuyên đề tốt nghiệp của mình . Chuyên đề
của em đợc chia thành 3 phần nh sau:
PhầnI :Những vấn đề lý luận cơ bản về lập kế hoạch kiểm toán trong kiểm
toán Báo cáo tài chính
Phần II: Thực trạng công tác lập kế hoạch kiểm toán Báo cáo tài chính do
Công ty Cổ phần Kiểm toán và T vấn Thăng Long thực hiện
Phần III:Hoàn thiện lập kế hoạch kiểm toán Báo cáo tài chính tại Công
ty Cổ phần Kiểm toán và T vấn Thăng Long
Em xin chân thành cảm ơn Giáo s -Tiến sỹ Nguyễn Quang Quynh và Ban
Giám đốc cùng các anh chị trong Công ty Cổ phần Kiểm toán và T vấn Thăng
Long đã giúp đỡ em hoàn thành tốt chuyên đề tốt nghiệp này.
Vũ Thị Thuỳ Linh Kiểm toán 43B
1
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp

nhận, có tuân thủ pháp luật liên quan và có phản ánh trung thực và hợp lý tình hình
tài chính trên các khía cạnh trọng yếu hay không? ( Trích mục 11 Chuẩn mực
Kiểm toán Việt Nam số 200 về mục tiêu và nguyên tắc cơ bản chi phối kiểm toán
Báo cáo tài chính ).
Với kiểm toán tài chính có hai cách cơ bản để phân chia các bảng khai tài
chính thành các phần hành kiểm toán: phân theo khoản mục hoặc phân theo chu
trình.
Phân theo khoản mục là cách phân chia máy móc từng khoản mục hoặc
nhóm các khoản mục theo thứ tự trong các Bảng khai vào một phần hành. Cách
chia này đơn giản song không hiệu quả do tách biệt những khoản mục ở vị trí khác
nhau nhng có liên hệ chặt chẽ với nhau nh hàng tồn kho và giá vốn hàng bán
chẳng hạn.
Phân theo chu trình là cách tiếp cận thông dụng hơn căn cứ vào mối liên hệ
chặt chẽ lẫn nhau giữa các khoản mục, các quá trình cấu thành, các yếu tố trong
một chu trình chung của hoạt động tài chính. Cách phân chia này hiệu quả hơn do
xuất phát từ mối liên hệ vốn có của các nghiệp vụ và từ đó thu gom đợc các đầu
mối của các mối liên hệ trong kinh tế và trong ghi sổ kế toán chứa đựng trong
bảng khai tài chính. Theo cách phân chia này kiểm toán bảng khai tài chính thờng
gồm các phần hành cơ bản sau:
Kiểm toán chu trình bán hàng thu tiền
Kiểm toán tiền mặt
Kiểm toán chu trình mua hàng trả tiền
Kiểm toán chu trình thuê mớn nhân công và trả lơng
Kiểm toán hàng tồn kho
Kiểm toán huy động- hoàn trả vốn
1.1.2 Kế hoạch kiểm toán báo cáo tài chính
Quy trình một cuộc kiểm toán Báo cáo tài chính thờng tiến hành theo ba
giai đoạn nh sau: lập kế hoạch và thiết kế các phơng pháp kiểm toán, thực hiện kế
Vũ Thị Thuỳ Linh Kiểm toán 43B
3

viên thu thập đợc các bằng chứng kiểm toán đầy đủ và có giá trị làm cơ sở để các
kiểm toán viên đa ra ý kiến xác đáng về báo cáo tài chính. Từ đó giúp các kiểm
toán viên hạn chế những sai sót, giảm thiểu trách nhiệm pháp lý, nâng cao hiệu
quả công việc và giữ vững đợc uy tín nghề nghiệp đối với khách hàng. Ngoài ra kế
hoạch kiểm toán còn giúp các kiểm toán viên phối hợp hiệu quả với nhau và là căn
cứ để các công ty kiểm toán tránh xảy ra những bất đồng đối với khách hàng.
1.2 Trình tự lập kế hoạch kiểm toán trong kiểm toán báo cáo tài chính
1.2.1 Lập kế hoạch kiểm toán tổng quát
Việc lập kế hoạch kiểm toán là tiền đề để cuộc kiểm toán đạt kết quả tốt,
hoàn thành đúng hạn và đảm bảo bao quát hết các khía cạnh trọng yếu của cuộc
kiểm toán. Theo đó, việc lập kế hoạch kiểm toán thờng đợc triển khai qua các bớc
chi tiết sau.
1.2.1.1 Chuẩn bị cho kế hoạch kiểm toán
Chuẩn bị cho kế hoạch kiểm toán là bớc công việc đầu tiên nhằm tạo ra tất
cả tiền đề và điều kiện cụ thể cho việc lập kế hoạch kiểm toán tổng quát. Công
việc này bắt đợc bắt đầu khi kiểm toán viên và công ty kiểm toán thu nhận một
khách hàng. Thu nhận khách hàng là quá trình kiểm toán viên liên lạc với khách
hàng tiềm năng. Đó là những khách hàng có nhu cầu cần kiểm toán báo cáo tài
chính. Khi có yêu cầu kiểm toán từ phía khách hàng, kiểm toán viên phải đánh giá
nên hay không nên chấp nhận yêu cầu kiểm toán. Đối với những khách hàng hiện
tại, đã đợc công ty kiểm toán qua các năm trớc, kiểm toán viên phải quyết định có
nên tiếp tục kiểm toán hay chấm dứt kiểm toán. Trên cơ sở đã xác định đợc đối t-
ợng khách hàng có thể phục vụ trong tơng lai, công ty kiểm toán sẽ tiến hành các
công việc cần thiết để chuẩn bị lập kế hoạch kiểm toán tổng quát bao gồm: đánh
giá khả năng chấp nhận kiểm toán, nhận diện các lý do kiểm toán, lựa chọn đội
ngũ nhân viên kiểm toán và ký hợp đồng kiểm toán.
Vũ Thị Thuỳ Linh Kiểm toán 43B
5
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Đánh giá khả năng chấp nhận kiểm toán là việc kiểm toán viên xem xét

+ Liên lạc với kiểm toán viên tiền nhiệm:
Đối với những khách hàng tiềm năng: nếu khách hàng này trớc đây đã đợc
kiểm toán bởi một công ty kiểm toán khác thì kiểm toán viên mới ( kiểm toán viên
kế nhiệm) phải chủ động liên lạc với kiểm toán viên cũ ( kiểm toán viên tiền
nhiệm) vì đây là nguồn thông tin đầu tiên để đánh giá khách hàng. Chuẩn mực
kiểm toán yêu cầu kiểm toán viên kế nhiệm phải liên lạc với kiểm toán viên tiền
nhiệm về những vấn đề liên quan đến cuộc kiểm toán để quyết định có chấp nhận
kiểm toán hay không. Các vấn đề này bao gồm: những thông tin về tính liêm chính
của ban giám đốc, những bất đồng giữa ban giám đốc và kiểm toán viên tiền
nhiệm về các nguyên tắc kế toán, thủ tục kiểm toán hoặc các vấn đề quan trọng
khác và lý do thay đổi kiểm toán viên của khách hàng. Ngoài ra kiểm toán viên
có thể xem xét hồ sơ kiểm toán của kiểm toán viên tiền nhiệm để hỗ trợ cho kiểm
toán viên kế tục trong việc lập kế hoạch kiểm toán.
Đối với những khách hàng mà trớc đây cha từng đợc công ty kiểm toán nào
kiểm toán thì để có thông tin về khách hàng, kiểm toán viên có thể thu thập các
thông tin này qua việc nghiên cứu sách báo, tạp chí chuyên ngành, thẩm tra các
bên liên quan nh ngân hàng, cố vấn pháp lý, các bên có mối quan hệ tài chính
buôn bán với khách hàng Ngoài ra kiểm toán viên có thể thuê các nhà điều tra
chuyên nghiệp để điều tra về vấn đề cần thiết khác. Cách thu thập tin tức này cũng
có thể áp dụng trong trờng hợp khách hàng đã đợc kiểm toán bởi một công ty kiểm
toán trớc đây nhng khách hàng không đồng ý cho kiểm toán viên mới tiếp xúc với
kiểm toán viên tiền nhiệm. Hoặc do trớc đây có những bất đồng nghiêm trọng giữa
khách hàng và kiểm toán viên tiền nhiệm nên kiểm toán viên tiền nhiệm không
cung cấp đủ các thông tin cần thiết vho kiểm toán viên mới.
Đối với khách hàng cũ, hàng năm kiểm toán viên phải cập nhật các thông
tin về khách hàng và đánh giá xem liệu có rủi ro nào khiến kiểm toán viên phải
Vũ Thị Thuỳ Linh Kiểm toán 43B
7
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
ngừng cung cấp các dịch vụ kiểm toán cho khách hàng. Những mâu thuẫn về các

hai yếu tố chính ảnh hởng đến số lợng bằng chứng kiểm toán phải thu thập và mức
độ chính xác của ý kiến kiểm toán viên đa ra trong báo cáo kiểm toán. Cụ thể, nếu
các báo cáo tài chính cần đợc sử dụng rộng rãi thì mức độ trung thực, hợp lý của
các thông tin trên báo cáo tài chính đòi hỏi càng cao. Do đó số lợng bằng chứng
kiểm toán cần thu thập cũng nh quy mô và độ phức tạp của cuộc kiểm toán sẽ càng
tăng lên. Điều này lại càng đòi hỏi phải có một số lợng và cơ cấu kiểm toán viên
thích hợp để thực hiện kiểm toán. Do đó lựa chọn đội ngũ nhân viên thực hiện
kiểm toán là bớc quan trọng tiếp theo trong giai đoạn chuẩn bị kế hoạch kiểm
toán.
Lựa chọn đội ngũ nhân viên kiểm toán thích hợp cho cuộc kiểm toán
không chỉ hớng tới hiệu quả của cuộc kiểm toán mà còn tuân thủ các Chuẩn mực
kiểm toán chung đợc thừa nhận ( Generally accepted auditing standards - gass).
Chuẩn mực Kiểm toán chung đầu tiên nêu rõ: quá trình kiểm toán phải đợc thực
hiện bởi một hoặc nhiều ngời đã đợc đào tạo đầy đủ thành thạo nh một kiểm toán
viên( trích trang 248 Lý thuyết kiểm toán ).Việc lựa chọn này đợc tiến hành trên
yêu cầu về số ngời, trình độ khả năng và yêu cầu chuyên môn kỹ thuật và thờng do
ban giám đốc công ty kiểm toán trực tiếp chỉ đạo.
Trong quá trình lựa chọn đội ngũ nhân viên thực hiện kiểm toán, công ty
kiểm toán cần quan tâm tới ba vấn đề:
Thứ nhất: Nhóm kiểm toán viên có những ngời có khả năng giám sát một
cách thích đáng các nhân viên mới và cha có nhiều kinh nghiệm, và điều này cũng
đợc Chuẩn mực đầu tiên trong nhóm các chuẩn mực về công việc tại chỗ trong
GAAS qui định.
Thứ hai: Công ty kiểm toán cần tránh thay đổi kiểm toán viên trong các
cuộc kiểm toán cho một khách hàng trong nhiều năm. Việc tham gia kiểm toán
cho một khách hàng trong nhiều năm có thể giúp cho kiểm toán viên tích luỹ đợc
Vũ Thị Thuỳ Linh Kiểm toán 43B
9
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
nhiều kinh nghiệm cũng nh có đợc hiểu biết sâu sắc về ngành nghề kinh doanh của

+ Mục đích và phạm vi kiểm toán: Mục tiêu của cuộc kiểm toán là cái đích
cần đạt tới đồng thời là thớc đo kết quả của mỗi cuộc kiểm toán cụ thể. Trong cuộc
kiểm toán Báo cáo tài chính do kiểm toán độc lập tiến hành, mục tiêu của cuộc
kiểm toán thờng là xác định tính trung thực và hợp lý của các thông tin trên Báo
cáo tài chính. Phạm vi kiểm toán là sự giới hạn về không gian, thời gian của đối t-
ợng kiểm toán, thờng đợc xác định cùng với việc xác định mục tiêu của cuộc kiểm
toán. Trong cuộc kiểm toán Báo cáo tài chính, phạm vi kiểm toán thờng là toàn bộ
Báo cáo tài chính của một năm tài chính.
+ Trách nhiệm của ban giám đốc công ty khách hàng và kiểm toán viên:
Ban Giám đốc có trách nhiệm trong việc lập và trình bày trung thực các thông tin
trên Báo cáo tài chính, kiểm toán viên có trách nhiệm đa ra ý kiến độc lập về Báo
cáo tài chính dựa trên kết quả của cuộc kiểm toán. Và trách nhiệm của công ty
khách hàng trong việc cung cấp các tài liệu và thông tin liên quan đến công việc
kiểm toán.
+ Hình thức thông báo kết quả kiểm toán: Kết quả kiểm toán thờng đợc
biểu hiện cụ thể dới một báo cáo kiểm toán và có kèm theo một th quản lý trong
đó nêu rõ những khiếm khuyết của hệ thống kiểm soát nội bộ hoặc những gợi ý
sửa chữa những khuyết điểm này.
+ Thời gian tiến hành cuộc kiểm toán: thời gian nghiên cứu sơ bộ, thời gian
kiểm toán chính thức, thời điểm kết thúc kiểm toán và phát hành báo cáo kiểm
toán.
+ Căn cứ tính giá phí cuộc kiểm toán và hình thức thanh toán: Khẳng định
rằng kiểm toán viên không chịu trách nhiệm những sai sót do bản chất và hạn chế
vốn có của hệ thống kế toán, kiểm soát nội bộ.
Hợp đồng kiểm toán là cơ sở pháp lý để kiểm toán viên thực hiện các bớc
tiếp theo của cuộc kiểm toán và có thể ảnh hởng đến trách nhiệm pháp lý của kiểm
toán viên đối với khách hàng. Sau khi hợp đồng kiểm toán đợc ký kết, công ty
kiểm toán trở thành chủ thể chính thức của công ty khách hàng.
Vũ Thị Thuỳ Linh Kiểm toán 43B
11

12
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Mỗi ngành nghề sản xuất kinh doanh có những hệ thống kế toán riêng và áp dụng
những nguyên tắc kế toán cũng thay đổi theo ngành nghề kinh doanh của khách
hàng.
Kiểm toán viên có thể có đợc hiểu biết này bằng nhiều cách nhng phơng
pháp thờng đợc sử dụng nhiều nhất là trao đổi với các kiểm toán viên, những ngời
đã tiến hành kiểm toán cho khách hàng những năm trớc hoặc đã kiểm toán cho
những khách hàng khác trong cùng ngành nghề kinh doanh hoặc trao đổi trực tiếp
với nhân viên, ban giám đốc công ty khách hàng.
Ngoài ra kiểm toán viên có thể thu thập đợc những thông tin hữu ích về
công việc kinh doanh của khách hàng khi xem xét lại kết quả của cuộc kiểm toán
trớc và hồ sơ kiểm toán chung.
Các hồ sơ kiểm toán năm trớc thờng chứa đựng rất nhiều thông tin về khách
hàng, về công việc kinh doanh, cơ cấu tổ chức và các đặc điểm hoạt động khác.
Ngoài ra đa phần các công ty kiểm toán đều duy trì hồ sơ kiểm toán thờng xuyên
đối với khách hàng . Hồ sơ này có các bản sao của các tài liệu nh : sơ đồ tổ chức
bộ máy , điều lệ công ty, chính sách tài chính , kế toán Qua đó kiểm toán viên
sẽ tìm thấy những thông tin hữu ích về công việc kinh doanh của khách hàng. Việc
cập nhật và xem xét các sổ sách của công ty là rất cần thiết vì qua đó kiểm toán
viên không chỉ xác định đợc các quyết định của nhà quản lý có phù hợp với chính
sách pháp luật của Nhà nớc, với các chính sách hiện hành của công ty hay không
mà còn giúp kiểm toán viên hiểu đợc bản chất của các số liệu cũng nh sự biến
động của chúng trên các báo cáo tài chính đợc kiểm toán.
Để có đợc những hiểu biết rõ hơn về tình hình kinh doanh thực tế của
khách hàng kiểm toán viên tiến hành công việc tham quan nhà xởng. Việc tham
quan nhà xởng , quan sát trực tiếp hoạt động kinh doanh của khách hàng sẽ cung
cấp cho kiểm toán viên những điều mắt thấy tai nghe về quy trình sản xuất kinh
doanh của khách hàng và nó cũng cho phép kiểm toán viên gặp những nhân vật
chủ chốt cũng nh cung cấp cho kiểm toán viên một cái nhìn tổng thể về công việc

chuyên môn hoặc khả năng về lĩnh vực nào đó để thực hiện các thủ tục kiểm toán
Vũ Thị Thuỳ Linh Kiểm toán 43B
14
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
cần thiết nhất định ( ví dụ nh khi đánh giá một tác phẩm nghệ thuật , vàng bạc đá
quý, hoặc khi cần t vấn pháp lý về các hợp đồng ) khi đó công ty kiểm toán có
thể quyết định sử dụng chuyên gia bên ngoài.
Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 620 Sử dụng t liệu của một chuyên gia
, hớng dẫn sử dụng chuyên gia, kiểm toán viên phải đánh giá khả năng chuyên
môn, hiểu mục đích và công việc của họ cũng nh sự phù hợp của việc sử dụng t
liệu đó cho các mục tiêu dự định. Kiểm toán viên cũng nên xem xét mối quan hệ
giữa chuyên gia với khách hàng, những yếu tố có thể ảnh hởng tới tính khách quan
của chuyên gia đó.
1.2.1.3 Thu thập thông tin về nghĩa vụ pháp lý của khách hàng
Nếu các thông tin cơ sở đợc thu thập ở trên
giúp cho các kiểm toán viên hiểu đợc về các mặt hoạt động kinh doanh của khách
hàng thì việc thu thập các thông tin về nghĩa vụ pháp lý của khách hàng giúp cho
các kiểm toán viên nắm bắt đợc các quy trình mang tính pháp lý có ảnh hởng đến
các mặt hoạt động kinh doanh này, những thông tin này đợc thu thập trong quá
trình tiếp xúc với ban giám đốc công ty khách hàng, bao gồm các loại sau:
+ Giấy phép thành lập và Điều lệ công ty: Việc nghiên cứu những tài liệu
này giúp kiểm toán viên hiểu đợc về quá trình hình thành, mục tiêu hoạt động và
các lĩnh vực kinh doanh hợp pháp của đơn vị cũng nh nắm bắt đợc những vấn đề
mang tính nội bộ của đơn vị nh: cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của các
phòng ban, thủ tục phát hành cổ phiếu, trái phiếu
+ Các báo cáo tài chính, báo cáo kiểm toán, biên bản thanh tra, kiểm tra
của năm hiện hành hay trong vài năm trớc: Các báo cáo tài chính cung cấp dữ
liệu về tình hình tài chính và kết quả hoạt đông kinh doanh của đơn vị, giúp kiểm
toán viên nhận thức đợc tổng quát về vấn đề đó và dựa trên cơ sở đó, áp dụng các
kỹ thuật phân tích các báo cáo này để nhận thức đợc xu hớng phát triển của khách

Thủ tục phân tích, theo định nghĩa của Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số
520 là việc phân tích các số liệu, thông tin, các tỷ suất quan trọng, qua đó tìm ra
những xu huớng biến động và tìm ra mối quan hệ có mâu thuẫn với các thông tin
Vũ Thị Thuỳ Linh Kiểm toán 43B
16
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
liên quan khác hoặc có sự chênh lệch lớn so với giá trị đã dự kiến.( Trích mục 4
Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 520 Quy trình phân tích ). Các thủ tục phân
tích đợc áp dụng cho tất cả các cuộc kiểm toán và chúng thờng đợc thực hiện trong
tất cả các giai đoạn của cuộc kiểm toán .
ở giai đoạn lập kế hoạh kiểm toán, sau khi đã thu thập đợc các thông tin cơ
sở và thông tin về nghĩa vụ pháp lý của khách hàng, kiểm toán viên tiến hành các
thủ tục phân tích đối với các thông tin đã thu thập để hỗ trợ cho việc lập kế hoạch
về bản chất, thời gian và nội dung các thủ tục phân tích sử dụng cho việc lập kế
hoạch kiểm toán nhằm các mục tiêu sau đây:
- Thu thập hiểu biết về nội dung các báo cáo tài chính và những biến đổi
quan trọng về kế toán và hoạt động kinh doanh của khách hàng vừa mới diễn ra từ
lần kiểm toán trớc.
- Tăng cờng sự hiểu biết của kiểm toán viên về hoạt động kinh doanh của
khách hàng và giúp kiểm toán viên xác định các vấn đề nghi vấn về khả năng hoạt
động liên tục của công ty khách hàng.
- Đánh giá sự hiện diện các sai số có thể có trên báo cáo tài chính doanh
nghiệp.
Nh vậy, qua việc thực hiện các thủ tục phân tích trong giai đoạn lập kế
hoạch kiểm toán, kiểm toán viên có thể xác định nội dung cơ bản của cuộc kiểm
toán Báo cáo tài chính. Mức độ, phạm vi, thời gian áp dụng các thủ tục phân tích
thay đổi tuỳ vào quy mô và tính phức tạp trong hoạt động kinh doanh của khách
hàng.
Việc xây dựng các thủ tục phân tích bao hàm một số bớc đặc thù nh: xác
định mục tiêu, thiết kế các cuộc khảo sát, tiến hành khảo sát, phân tích kết quả và

mà trong bối cảnh cụ thể nếu dựa vào các rhông tin này để xét đoán thì không thể
chính xác hoặc là sẽ rút ra những kết luận sai lầm.
Trong giai đoạn lập kế hoạch, kiểm toán viên phải đánh giá mức độ trọng
yếu để ớc tính mức độ sai sót của báo cáo tài chính có thể chấp nhận đợc, xác định
phạm vi của cuộc kiểm toán và đánh giá ảnh hởng của các sai sót lên báo cáo tài
Vũ Thị Thuỳ Linh Kiểm toán 43B
18
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
chính để từ đó xác định bản chất, thời gian và phạm vi thực hiện các khảo sát ( thử
nghiệm ) kiểm toán. ở đây, kiểm toán viên cần đánh giá mức trọng yếu cho toàn
bộ báo cáo tài chính và phân bổ mức đánh giá đó cho từng khoản mục trên báo cáo
tài chính.
- Ước lợng ban đầu về trọng yếu
Ước lợng ban đầu về trọng yếu là lợng tối đa kiểm toán viên tin rằng ở mức
đó các báo cáo tài chính có thể bị sai lệch nhng vẫn cha ảnh hởng đến quyết định
của ngời sử dụng thông tin tài chính. Nói các khác đó chính là những sai sót có thể
chấp nhận đợc đối với toàn bộ báo cáo tài chính.
Việc ớc lọng ban đầu về trọng yếu giúp các kiểm toán viên lập kế hoạch thu
thập bằng chứng kiểm toán thích hợp. Cụ thể là nếu các kiểm toán viên ớc lợng
mức trọng yếu càng thấp, nghĩa là độ chính xác của các số liệu trên Báo cáo tài
chính càng cao, thì số lợng bằng chứng kiểm toán phải thu thập càng nhiều và ng-
ợc lại.
Việc ớc lợng ban đầu về trọng yếu là một việc làm mang tính chất xét đoán
nghề nghiệp của kiểm toán viên. Do đó ớc lợng ban đầu về trọng yếu không cố
định mà có thể thay đổi trong suốt cuộc kiểm toán nếu kiểm toán viên thấy rằng
mức ớc lợng ban đầu là quá cao hoặc quá thấp hoặc một trong các nhân tố dùng để
xác định mức ớc lợng ban đầu về tính trọng yếu bị thay đổi.
Khi xây dựng mức ớc lợng ban đầu về trọng yếu, kiểm toán viên phải lu ý
tới những yếu tố ảnh hởng sau:
- Trọng yếu là một khái niệm tơng đối hơn là một đối tợng tuyệt đối, gắn

ra những đờng lối chỉ đạo để hỗ trợ cho các kiểm toán viên của mình trong việc ớc
lọng ban đầu về trọng yếu qua việc hớng dẫn các chỉ tiêu đợc chọn làm gốc trong
từng trờng hợp cụ thể, tỷ lệ tính mức trọng yếu đối với từng chỉ tiêu.
Sau khi kiểm toán viên đã có đợc ớc lợng ban đầu về trọng yếu cho toàn bộ
báo cáo tài chính, kiểm toán viên cần phân bổ mức ớc lọng này cho từng khoản
Vũ Thị Thuỳ Linh Kiểm toán 43B
20
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
mục trên báo cáo tài chính. Đó cũng chính là sai số có thể chấp nhận đợc đối với
từng khoản mục.
Mục đích của việc phân bổ này là để giúp kiểm toán viên xác định đợc số l-
ợng bằng chứng kiểm toán thích hợp phải thu thập đối với từng khoản mục ở mức
chi phí thấp nhất có thể mà vẫn đảm bảo tổng hợp các sai sót trên Báo cáo tài
chính không vựot quá mức ớc lợng ban đầu về tính trọng yếu.
Do hầu hết các thủ tục kiểm toán tập trung vào các tài khoản trên bảng cân
đối kế toán nên kiểm toán viên thờng phân bổ mức ớc lợng cho các tài khoản trên
bảng cân đối kế toán thay vì cho các tài khoản trên báo cáo kết quả kinh doanh.
Việc phân bổ đợc thực hiện theo cả hai chiều hớng mà các sai phạm có thể diễn ra:
đó là tình trạng khai khống ( số liệu trên sổ sách lớn hơn trên thực tế ) và khai
thiếu ( số liệu trên sổ sách nhỏ hơn thực tế )
Cơ sở để tiến hành phân bổ là: bản chất của các khoản mục, rủi ro tiềm
năng và rủi ro kiểm soát đợc đánh giá sơ bộ đối với các khoản mục, kinh nghiệm
kiểm toán của kiểm toán viên và chi phí kiểm toán đối với từng khoản mục.
Trong thực tế, rất khó dự đoán về khả năng xảy ra sai sót cũng nh chi phí
kiểm toán cho từng khoản mục nên công việc này mang tính chủ quan và đòi hỏi
sự xét đoán mang tính nghề nghiệp của kiểm toán viên. Do vậy công ty kiểm toán
thờng phân công các kiểm toán viên có trình độ chuyên môn cao nhiều kinh
nghiệm để thực hiện công việc này.
Việc đánh giá mức trọng yếu tổng thể và phân bổ cho các khoản mục mang
nhiều tính chất chủ quan và rất khó dự đoán. Vì vậy, kiểm toán viên cần đánh giá

viên và công ty kiểm toán phải đơng đầu trong tơng lai.
Việc dự đoán thất bại về mặt tài chính của công ty khách hàng trong tơng
lai là điều khó khăn nhng kiểm toán viên có thể dựa vào các yếu tố sau để phán
đoán sự kiện này, đó là: khả năng hoán chuyển thành tiền mặt, các khoản lãi ( lỗ )
trong các năm trớc, các biện pháp nhằm gia tăng quá trình tài trợ, bản chất hoạt
động của công ty khách hàng.
Vũ Thị Thuỳ Linh Kiểm toán 43B
22
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Căn cứ vào các yếu tố trên kiểm toán viên kiểm toán viên sẽ xác định một
mức rủi ro kiểm toán mong muốn cho toàn bộ Báo cáo tài chính đợc kiểm toán.
Ngoài ra, kiểm toán viên cần đánh giá các loại rủi ro kiểm toán sau:
- Rủi ro cố hữu: là khả năng từng nghiệp vụ, từng khoản mục trong Báo cáo
tài chính chứa đựng sai sót trọng yếu khi tính riêng rẽ hoặc tính gộp, mặc dù có
hay không có hệ thống kiểm soát nội bộ.
Để đánh giá rủi ro cố hữu, kiểm toán viên dựa vào các yếu tố ảnh huởng
sau:
Bản chất kinh doanh của khách hàng: Rủi ro cố hữu thờng bị tăng lên
bởi những đặcthù của ngành nghề kinh doanh mà nó có thể tạo nên
những khó khăn cho kiểm toán do tồn tại những khoản không chắc chắn
hoặc khả năng tồntại một cách tiền tàng những gian lận hoặc sai sót trên
Báo cáo tài chính. Ví dụ: khách hàng kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ
tín dụng thòng có nhiều rủi ro trong việc quản lý tiền mặt và các phong
tiện thanh toán, do đó việc kiểm toán vốn bằng tiền sẽ khó khăn hơn đối
với các doanh nghiệp sản xuất thông thờng.
Tính trung thực của ban giám đốc: Ban giám đốc không thể xem là hoàn
toàn trung thực trong mọi trờng hợp. Khi Ban giám đốc bị kiểm soát bởi
một hoặc một số ít các cá nhân thiếu tính trung thực thì khả năng các
báo cáo tài chính bị báo cáo sai sẽ tăng lên, do vậy rủi ro cố hữu sẽ đợc
đánh giá ở mức cao.

phạm trọng yếu do hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị khách hàng không hoạt
động hoặc hoạt động không hiệu quả do đó đã không phát hiện và ngăn chặn các
sai phạm này.
Rủi ro kiểm soát đợc kiểm toán viên đánh giá đối với từng khoản mục trên
báo cáo tài chính thông qua việc tìm hiểu hệ thống kiểm soát nội bộ của khách
hàng đối với khoản mục này. Rủi ro kiểm soát luôn có và khó tránh khỏi do những
hạn chế cố hữu của bất kỳ hệ thống kiểm soát nội bộ nào.
Vũ Thị Thuỳ Linh Kiểm toán 43B
24
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
- Rủi ro phát hiện: Là khả năng xảy ra các sai sót hoặc gian lận trên báo cáo
tài chính mà không đựoc ngăn chặn hay phát hiện bởi hệ thống kiểm soát nội bộ
và cũng không đựoc kiểm toán viên phát hiện trong quá trình kiểm toán.
Trong quá trình kiểm toán, rủi ro phát hiện phát sinh do ảnh hởng của các
nhân tố sau:
+ Các bớc kiểm toán không thích hợp, điều này thờng xảy ra đối với những
kiểm toán viên mới, thực hiện không hợp lý quy trình kiểm toán cho mỗi phần
hành.
+ Phát hiện ra bằng chứng nhng không nhận thức đợc sai sót, nên thờng đa
ra kết luận sai về phần hành đó cũng nh về Báo cáo tài chính.
+ Kiểm toán viên hoàn toàn không phát hiện ra sai sót do có sự thông đồng,
nhất trí bên trong doanh nghiệp làm sai các chính sách và chế độ do Ban giám đốc
đề ra.
Rủi ro phát hiện đợc xác định từ ba loại rủi ro: rủi ro kiểm toán mong
muốn, rủi ro cố hữu và rủi ro kiểm soát. Vì ba loại rủi ro này thay đổi đối với từng
khoản mục trên Báo cáo tài chính nên rủi ro phát hiện và số lợng bằng chứng kiểm
toán cần thu thập cũng thay đổi theo đối với từng khoản mục.
Theo Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 320 Tính trọng yếu trong kiểm
toán, mức độ trọng yếu và rủi ro kiểm toán có mối quan hệ ngợc chiều nhau nghĩa
là nếu mức trọng yếu càng cao thì rủi ro kiểm toán càng thấp và ngợc lại. Kiểm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status