Bộ GIáO DụC Và ĐàO TạO
Bộ NÔNG NGHIệP Và ptNT
TrƯờng đại học lâm nghiệp
Lê Văn Thành
NGHIÊN CứU một số đặc điểm sinh thái và kỹ thuật
gây trồng thảo quả (Amomum aromaticum Roxb.) ở MộT Số
tỉnh miền núi phía bắc LàM CƠ Sở Đề XUấT Kỹ THUậT
trồng Và PHáT TRIểN Mở RộNG
Chuyên ngành:
MÃ số:
Lâm học
60.62.60
Luận văn thạc sỹ khoa học lâm nghiệp
Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Huy Sơn
Hà Tây, 2006
1
Đặt vấn đề
Thảo
quả
được 6,0 ha hàng năm cho thu nhập từ 40-60 triệu đồng. Riêng năm 2001 giá
tăng tới 150.000 đ/kg khô, nhiều hộ gia đình ở huyện Sa Pa, Bát Sát, Văn Bàn
của tỉnh Lào Cai thu được 60-70 triệu đồng, thậm chí có hộ gia đình thu được
trên 100 triệu đồng từ Thảo quả trong năm này điển hình có gia đình ông Páo
ở Bản Nậm Khâm xà Nậm Chày, hộ ông Ly ở Thôn Nậm Chày xà Nậm Chày
huyện Văn Bàn. Qua các báo cáo bằng văn bản của chính quyền và các cơ
quan quản lý cho thấy việc phát triển gây trồng Thảo quả đà và đang góp phần
2
phát triển kinh tế xà hội, xoá đói giảm nghèo nên nhiều địa phương đà coi cây
Thảo quả là cây trồng chính thay thế cây Thuốc Phiện ở vùng cao.
Vì Thảo quả có giá trị kinh tế cao như vậy nên diện tích trồng loài cây
này trong những năm qua tăng rất nhanh, nhưng chủ yếu là tự phát, nên kỹ
thuật trồng rất khác nhau, bên cạnh những diện tích có năng suất tương đối
cao, còn tồn tại nhiều diện tích cho năng suất thấp. Tuy một số địa phương ®·
cã híng dÉn kü tht g©y trång nhng do cha có cơ sở khoa học dựa trên
những công trình nghiên cứu cơ bản nên đây mới chỉ là bản hướng dẫn kỹ
thuật tạm thời, dựa vào kinh nghiệm và mang tính địa phương. Hơn nữa, nhiều
hộ gia đình do không hiểu đặc tính sinh thái của cây Thảo quả đà tự động mở
tán rừng dẫn đến làm suy giảm vốn rừng, giảm chức năng phòng hộ và năng
suất Thảo quả. Vì vậy, để có thể trồng cây Thảo quả cho năng suất và chất
lượng cao, phù hợp với điều kiện tự nhiên nơi trồng, đáp ứng nhu cầu tiêu
dùng trong nước và xuất khẩu cần thiết phải thực hiện đề tài "Nghiên cứu
một số đặc điểm sinh thái và kỹ thuật gây trồng Thảo quả (Amomum
aromaticum Roxb.) ở một số tỉnh miền núi phía Bắc làm cơ sở đề xuất kỹ
thuật trồng và phát triển mở rộng"
Bản luận văn này được hoàn chỉnh trên cơ sở kết quả nghiên cứu của đề
tài cấp Bộ "Xây dựng hướng dẫn kỹ thuật trồng Thảo quả (Amomum
aromaticum Roxb.) ở các tỉnh miền núi phía Bắc" giai đoạn 2004-2005 do
kết quả trồng thường phụ thuộc vào nhiều nhân tố như: giống trång, mËt ®é
4
trồng, phương pháp và phương thức trồng, đặc biệt là đặc tính sinh thái của
cây trồng, chính vì vậy việc nghiên cứu đặc điểm sinh thái và hình thái cây
Thảo quả đà được một số nhà nghiên cứu cây thuốc tại Vân Nam Trung
Quốc năm 1968 [20], Tiền Tín Trung (1996) [43] quan tâm nghiên cứu và mô
tả một số đặc điểm hình thái, sinh thái của Thảo quả giúp người trồng rừng
xác định điều kiện gây trồng cho năng suất và chất lượng cao. Các tác giả đÃ
cho biết vùng phân bố và sản xuất chủ yếu ở Trung Quốc là các huyện Tây
Trù, MÃ Quan, Văn Sơn, Bình Biên, MÃ Lật Ba tỉnh Vân Nam, huyện Tĩnh
Tây, Đức Bảo, Lục Biên, Lăng Lạc tỉnh Quảng Tây và huyện La Miến tỉnh
Quý Châu. Về hình thái, Thảo quả là loại cây thân thảo, sống lâu năm, mọc
bụi hay cụm, cao khoảng 2-2,5m. Thân gốc nằm ngang, to mập có nhiều mắt,
đường kính khoảng 2,7cm. Cây hình trụ tròn, đứng thẳng hoặc hơi nằm
nghiêng. Lá mọc so le có cuống ngắn hoặc không có cuống. Lá hình bầu dục
dài, dài khoảng 60 cm, rộng khoảng 20 cm, đuôi lá nhọn, mép lá nguyên.
Cụm hoa dạng bông mọc từ gốc dài khoảng 13cm. Quả mọc thành chùm, quả
hình trứng dài khoảng 2,7-5cm đường kính khoảng 2,7cm, quả chín màu đỏ
sẫm, từng quả riêng có cuống dài 2-5,7mm. Thời gian ra hoa từ tháng 5-6 quả
chín vào tháng 9-10. Về sinh thái, Thảo quả là cây chịu bóng độ tàn che
khoảng 0,4. ưa khí hậu ôn hoà râm mát, có thể chịu đựng được băng tuyết
trong thời gian ngắn của mùa đông. Sinh trưởng tốt trên núi cao cách mặt biển
700-1200m. Cây thích nghi nhất ở đất cát pha, giàu mùn, thoát nước tốt, màu
mỡ và ẩm. Về biện pháp gây trồng và phát triển Thảo quả các tác giả chỉ đề
cập một cách ngắn gọn và sơ lược như: kỹ thuật nhân giống, chưa đưa ra
phương pháp tạo giống bằng hạt mà chỉ sử dụng phương pháp nhân giống
bằng hom gốc có chồi, hom gốc có tuổi khoảng 12 tháng tuổi, được đánh ở
những bụi đà cho hoa kết quả, có kèm một đoạn thân ngầm dài 7-10cm, phần
chữa đau bụng, đầy trướng, ỉa chảy, ngực đau, nôn ọe, chữa ho, chữa đau răng,
viêm lợi, trị sốt rét, lách to,…
6
Kết quả nghiên cứu về bảo tồn, khai thác nguồn tài nguyên cây thuốc
thiên nhiên và phát triển trồng cây thuốc trên đất rừng ở Việt Nam, Đoàn Thị
Nhu (1982) [13], Nguyễn Tập (1990) [19] cho biết Thảo quả là cây dược liệu
quí, cần được bảo vệ và nhân rộng.
Trong công trình Vấn đề nghiên cứu và bảo vệ tài nguyên thực vật và
sinh thái núi cao Sa Pa LÃ Đình Mỡi, Nguyễn Thị Thuỷ và Phạm Văn Thính
(1995) [12] cũng cho thấy cây Thảo quả có giá trị xuất khẩu cao, tăng thu
nhập cho người dân địa phương, chính vì thế loài cây này là nguồn thu nhập
chính cho người dân ở một số địa bàn vùng cao.
Khi nghiên cứu về giá trị của lâm sản ngoài gỗ đối với người dân ở thôn
Xéo Mý Tỷ xà Tả Van hun Sa Pa tØnh Lµo Cai, Ngun TËp (2001) [20], đÃ
chỉ ra rằng, các hộ gia đình ở đây khi chuyển từ trồng Lúa nương sang trồng
Thảo quả thì thu nhập của gia đình hàng năm tăng gấp 10-15 lần.
Dự án Sử dụng bền vững lâm sản ngoài gỗ phối hợp giữa Viện Khoa
học Lâm nghiệp Việt Nam với Tổ chức bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN),
năm 2002 [25] đà Tổng quan ngành lâm sản ngoài gỗ của Việt Nam và
khảng định cây Thảo quả là loài cây có giá trị kinh tế cao có thể thay thế cây
Thuốc Phiện cho đồng bào Hơ Mông và đồng bào các dân tộc khác sống ở
vùng cao.
Tổ chức Bảo tồn Động thùc vËt hoang d· Quèc tÕ (2004) [22] trong
B¸o c¸o tổng hợp trồng Thảo quả thuộc Dự án Bảo tồn vùng núi Hoàng Liên
dựa vào cộng đồng đà đưa ra kết quả điều tra, hơn 90% hộ gia đình trong thôn
Kham Tren xà Nậm Chày huyện Văn Bàn tỉnh Lào Cai trồng Thảo quả có thu
nhập cao nên đà không nằm trong diện đói nghèo theo tiêu chí của Nhà nước
và ở đây không có loài cây nào có tiềm năng góp phần vào xoá đói giảm
trồng thì Đoàn Thị Nhu (1982) [13] đà công bố kết quả nghiên cứu của mình
về Bảo tồn, khai thác nguồn tài nguyên cây thuốc thiên nhiên và phát triển
trồng cây thuốc trên đất rừng ở Việt Nam” cã chØ ra r»ng: Th¶o qu¶ thÝch nghi
tèt ë điều kiện dưới tán rừng nhưng chưa có cơ sở khoa häc ®Ĩ chøng minh.
8
Tổng hợp những kinh nghiệm của địa phương, Năm 1998 [23] và năm
2002, Trung tâm khuyến nông Lào Cai đà đưa ra kỹ thuật trồng, chăm sóc, thu
hoạch Thảo quả bằng tờ rơi và xuất bản tài liệu khuyến nông Kỹ thuật nuôi
trồng một số cây, con chính ở Lào Cai. Các tài liệu này chỉ đề cập ngắn gọn
một số đặc tính sinh thái như: Thảo quả ưa khí hậu ôn hoà, râm mát, độ cao
trên 800m so với mặt nước biển, có mây mù che phủ, có thể chịu được giá rét,
thậm chí có tuyết vào mùa đông trong một thời gian ngắn, thích hợp với đất
giàu mùn, đất cát pha, thoát nước nhưng ẩm ướt. Còn kỹ thuật gây trồng được
giới thiệu một cách sơ lược từ nhân giống, làm đất, trồng, chăm sóc và thu
hoạch, phạm vi áp dụng trong nội bộ. Trong đó, mật độ trồng được đưa ra
hướng dẫn cho người dân địa phương trồng từ 500-600 cây/ha.
Thảo quả cũng như nhiều loại cây khác chỉ sinh trưởng và phát triển tốt
trên một điều kiện lập địa nhất định. Nên khi biên tập các ấn phẩm kỹ thuật
gây trồng một số loài cây đặc sản rừng trong đó có cây Thảo quả Nguyễn
Ngọc Bình, Phạm Đức Tuấn năm 2000 [1], Triệu Văn Hùng, Nguyễn Xuân
Quát, Hoàng Chương (2002) [7] đà chỉ ra một số đặc điểm sinh thái cơ bản
giúp cho việc xác định nơi trồng Thảo quả phù hợp ở một số địa phương vùng
núi cao của Việt Nam như: Thảo quả ưa khí hậu nhiệt đới ẩm và cận nhiệt đới,
nhiệt độ trung bình năm từ 15-200C, lượng mưa trên 2000mm/năm, độ ẩm
không khí cao. Chịu được tuyết và băng giá trong một thời gian ngắn. Thích
hợp ở độ cao 1000-2000m so với mặt nước biển. Phù hợp với loại đất tốt,
nhiều mùn, giàu đạm và Kali, ưa đất ẩm nhưng không chịu được đất úng nước.
Là cây chịu bóng luôn cần có độ tàn che 0,3-0,7, những nơi bị nắng nhiều,
Thắng (2002) [20] chỉ nghiên cứu ảnh hưởng của sinh trưởng đến năng suất Thảo
quả. Tác giả không nghiên cứu ảnh hưởng của nhân tố hoàn cảnh đến năng suất
mà nghiên cứu ảnh hưởng của một số nhân tố này đến sinh trưởng chiều cao của
Thảo quả. Vì vậy, cần có những nghiên cứu tiếp theo bằng phương pháp định
lượng. Mặt khác tác giả cũng chỉ nghiên cứu Thảo quả trồng dưới tán rừng tự
nhiên còn Thảo quả trồng dưới tán rừng trồng không được đề cập đến.
10
Trong Báo cáo tổng hợp trồng Thảo quả thuộc Dự án Bảo tồn vùng núi
Hoàng Liên dựa vào cộng đồng, Tổ chức Bảo tồn Động thực vật hoang dÃ
Quốc tế (2004) [22] đà đề cập đến Chu trình trồng Thảo quả nhưng hết sức
sơ lược và ngắn gọn. Kết quả mới chỉ đưa ra được thời gian chuẩn bị đất trồng
vào cuối năm, năm đầu chăm sóc 3 lần/năm, các năm sau chăm sóc 1 lần/năm,
còn mật độ trồng, độ cao nơi trồng, chưa được đề cập đến.
Năm 2004 [24], Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam phối hợp với
Chương trình Quản lý Tài nguyên - Bảo vệ Môi trường và Phòng chống thiên
tai Bộ NN&PTNT tổ chức hội Thảo với nội dung Tình hình sản xuất, chế
biến và thị trường lâm sản ngoài gỗ ở Việt Nam trong đó có một số bài tham
luận đề cập đến cây Thảo quả nhưng số liệu thống kê của các tác giả chưa cập
nhật đầy đủ và không đề cập đến kỹ thuật gây trồng phát triển loài cây này.
Qua đánh giá thực trạng sản xuất, chế biến, kinh doanh và tiêu thụ lâm
sản ngoài gỗ, Phạm Xuân Phương (2005) [14] đà đề xuất định hướng phát
triển lâm sản ngoài gỗ giai đoạn 2006 - 2010 cho 8 vùng sinh thái trên cả nước
trong đó cây Thảo quả là một trong các loài cây có giá trị cao cần được gây
trồng phát triển ở vùng Tây Bắc và Đông Bắc.
Tóm lại: Điểm qua các công trình ở trong và ngoài nước cho thấy đa số
các công trình mới chỉ tập trung nghiên cứu về giá trị sử dụng, còn kỹ thuật
gây trồng thì có rất ít công trình đề cập đến, hoặc có đề cập thì rất sơ lược và
ngắn gọn. Đặc biệt gần đây đà có một số công trình đề cập đến kỹ thuật gây
thu nhập từ Thảo quả.
- Các nhà quản lý có liên quan tại các địa phương có gây trồng Thảo quả.
Về phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu ở một số địa điểm có diện tích trồng Thảo quả
tương đối lớn như: Huyện Quản Bạ, Vị Xuyên tỉnh Hà Giang, huyện Bát sát, Sa
Pa, Văn Bàn và Thị xà Lào Cai thuộc tỉnh Lào Cai. Tại các địa phương này, đề
tài nghiên cứu một số đặc điểm sinh thái, tình hình gây trồng, xác định năng
12
suất và kinh nghiệm gây trồng Thảo quả của hộ gia đình. Từ đó làm cơ sở xây
dựng hướng dẫn kỹ thuật trồng và đề xuất mở rộng vùng trồng.
2.2.2. Khối lượng thực hiện
Tổng số cá nhân và hộ gia đình đề tài tiến hành điều tra phỏng vấn, so
sánh đánh giá phân tích là 115 hộ thuộc 3 tỉnh Lào Cai, Hà Giang và Lai Châu.
Số OTC điển hình được đề tài thiết lập để xác định độ tàn che, chiều
cao dưới cành tầng cây gỗ, độ cao so với mặt nước biển, địa hình,... là 22 OTC
trên đó thu thập số liệu sinh trưởng phát triển và năng suất của 727 bụi Thảo
quả đảm bảo mỗi OTC có dung lượng mẫu > 30 bụi, thuộc 2 tỉnh Lào Cai và
Hà Giang.
Tổng số mẫu đất được phân tích là 28 mẫu của 14 phẫu diện, thời gian
đào phẫu diện và lấy mẫu thuộc tháng 7 và tháng 8.
2.3. Nội dung nghiên cứu
Để đáp ứng được mục tiêu nghiên cứu đà đặt ra, đề tài thực hiện một số
nội dung chính sau đây:
2.3.1. Tình hình gây trồng và vai trò của Thảo quả trong kinh tế hộ gia đình ở
vùng cao.
2.3.2. Điều kiện khí hậu và đất đai khu vực trồng Thảo quả.
2.3.3. Đặc điểm nơi trồng Thảo quả dưới tán rừng tự nhiên (độ tàn che, chiều
cao dưới cành tầng cây gỗ, độ cao nơi trồng, dạng địa hình).
Điều
Mật
điểm dưới cành tầng độ.
Thảo đất.
cây gỗ. Độ
Thảo đất.
cây gỗ. Độ
quả.
cao so với mặt
quả.
cao so với mặt
nước biển. Địa
nước biển. Địa
hình (sườn,
hình (sườn,
sinh trưởng và xác định năng suất quả.
2.4.2. Phương pháp thu thập số liệu
- Sử dụng phương pháp điều tra OTC điển hình với dung lượng mẫu 30
bụi/OTC. Trên các OTC xác định chiều cao dưới cành tầng cây che bóng,
độ cao so với mặt nước biển, độ tàn che, địa hình, năng suất quả,
- Sử dụng Phương pháp điều tra nhanh nông thôn (RRA) kết hợp Phương
pháp đánh giá nhanh nông thôn cã sù tham gia (PRA) ®Ĩ thu thËp kinh
nghiƯm trång Thảo quả, năng suất, giá cả, của cá nhân, hộ gia đình trong
đó áp dụng các công cụ:
+ Phỏng vấn định hướng: dùng tập hợp các câu hỏi chính thức để có thể
được các câu trả lời ngắn gọn.
+ Phỏng vấn bán định hướng: với tính chất đàm thoại và hai chiỊu, dïng
nã ®Ĩ võa ®a ra võa tiÕp nhËn thông tin.
- Năng suất quả được xác định bằng phương pháp thống kê toàn bộ số chùm
quả trong bụi, sau đó đếm ngẫu nhiên số quả của khoảng 2/3 số chùm của
bụi, tiến hành cân ngẫu nhiên 1 kg quả tươi lặp lại 5 lần/1 điểm để tính số
quả tươi/kg. Ngoài ra, còn kết hợp với điều tra phỏng vấn kinh nghiệm của
người dân về số lượng quả tươi/kg và số kg tươi/kg khô sau sấy.
- Đường kính gốc trung bình của các cây trong bụi Thảo quả được xác định
từ kết quả đo ít nhất 2/3 số cây trong bụi bằng thước kẹp chính xác đến
mm, theo phương pháp ngẫu nhiên.
- Đường kính tán bụi Thảo quả được tính trung bình theo 2 chiều đo Đông
tây - Nam Bắc.
- Độ tàn che của OTC được xác định bằng phương pháp xác định điểm, trên
OTC được chia làm các tuyến song song cách đều 3 m một tuyến. Trên
mỗi tuyến đặt các điểm cách nhau 3 m, tại các điểm này dùng thước ngắm
lên theo phương thẳng đứng. Nếu gặp tán cây giá trị tàn che được ghi là 1,
15
16
+ Ca và Mg trao đổi phân tích theo phương pháp Trilon B
+ Thành phần cơ giới phân tích theo phương pháp Robinson (Mỹ)
- Số liệu khí tượng thuỷ văn sử dụng phương pháp kế thừa tài liệu đà công bố
của Tổng cục khí tượng thuỷ văn và tài liệu niên giám thống kê tại các trạm
quan trắc trên các vùng nghiên cứu.
2.4.3. Phương pháp phân tích và xử lý số liệu
Xử lý số liệu bằng thống kê toán học có sự hỗ trợ của phần mền SPSS và
Excel với các phương pháp như:
- Phương pháp kiểm định Kruskal-Wallis.
- Phương pháp phân tích phương sai một nhân tố.
- So sánh b»ng tiªu chn U cđa Mann-Whitney.
17
Chương 3
Đặc điểm điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu
3.1. Vị trí địa lý
Tỉnh Lào Cai có tọa độ địa lý: 2105234 - 2205041 vĩ độ Bắc,
10303152 - 10403749 kinh độ Đông. Phía Bắc giáp Trung Quốc, phía Nam
giáp tỉnh Yên Bái, phía Đông giáp tỉnh Lào Cai, phía Tây giáp tỉnh Lai Châu
và Sơn La.
Tỉnh Hà Giang có tọa độ địa lý: 22010 2- 23023 35 vĩ độ Bắc, 104019
58- 10503530 kinh độ Đông. Phía Bắc giáp Trung Quốc, phía Nam giáp tỉnh
Tuyên Quang, phía Đông giáp tỉnh Cao Bằng, phía Tây giáp tỉnh Lào Cai.
3.2. Khí hậu
3.2.1. KhÝ hËu tØnh Lµo Cai
Lµo Cai lµ tØnh miỊn nói phía bắc, có khí hậu nhiệt đới gió mùa, mùa
đông lạnh, mưa vào mùa hè, lượng mưa hàng năm cao, từ 1.800 2.500 mm.
Để phản ánh được điều kiện khí hậu đề tài đà thu thập và tổng hợp số
7
8
9
18.9
20.8
21.8
21.9
21.6
20.4
10
11
12
T
10.7 12.0 15.7
R
89.3
5.3
5.2
3.8
4.0
4.2
4.0
3.4
6.6
3.8
4.6
6.4
17.3
6.9
6.6
100.0
90.0
80.0
70.0
60.0
50.0
40.0
30.0
20.0
10.0
0.0
440.0
420.0
400.0
380.0
360.0
340.0
320.0
300.0
280.0
260.0
240.0
220.0
200.0
180.0
160.0
140.0
120.0
100.0
12
R: Lượng mưa (mm)
U
6.4
T: Nhiệt độ
T
17.9 14.5 11.7
T
R
19
Biều đồ 3.1 cho biết: Hai đường biến trình nhiệt độ và lượng mưa được
xây dựng với một tỷ lệ tương ứng không đổi là 100C tương ứng với 20 mm
tổng lượng mưa. ở tỷ lệ này nhà địa lý học thực vật Gaussen Walter đà phân
chia như sau:
Thời kỳ khô là khi đường biến trình lượng mưa nằm dưới đường biến
trình nhiệt độ.
Thời kỳ ẩm là khi đường biến trình của lượng mưa vượt lên trên đường
biến trình của nhiệt độ.
Từ biểu đồ 3.1 cho thấy lượng mưa của tất cả 12 tháng trong năm đều
nằm trên đường biến trình của nhệt độ do vậy không có thời kỳ khô đối với
chu kỳ sinh trưởng của thực vật.
4
5
23.3
26.2
9
10
11
12
26.9
25.8
23.1
19.5 16.1
14.9 16.4 19.8
R
41.2 44.7 62.5 150.5 448.9 560.6 589.7 453.2 282.8 216.8 116.4 48.1 3015.5
7.7
5.8
4.8
5.8
5.6
4.7
4.2
2.3
6.6
2.8
3.5
8.2
22.2
8.0
7.9
84.0 84.3
110.0
100.0
90.0
80.0
70.0
60.0
50.0
40.0
30.0
20.0
10.0
0.0
600.0
580.0
560.0
540.0
520.0
500.0
480.0
460.0
440.0
420.0
400.0
380.0
360.0
340.0
320.0
300.0
280.0
9
10
11
R: Lng ma (mm)
S
7.3
T: Nhit
U
6.9
27.2
8
T
T
27.1
Năm
Tấn Phương (2005) vùng này có những nhóm đất chính sau:
- Đất mùn alít trên núi cao, thường gặp phổ biến hai loại đất: đất mùn thô
than bùn và đất mùn alít trên núi cao.
-
Nhóm đất mùn đỏ vàng trên núi bao gồm các loại đất chính trên các đá
mẹ khác nhau: đá vôi, macma kiềm và trung tính, đá sét và biến chất, đá
cát. Nhóm đất này chiếm diện tích lớn vùng đồi núi và cũng là đối
tượng đất kinh doanh lâm nghiệp, trong đó đất mùn vàng đỏ trên đá sét
và biến chất, trên macma axít chiếm diện tích chủ yếu.
- Nhóm đất đỏ vàng gồm các loại đất chính: đất nâu đỏ, nâu vàng trên đá
vôi, đất đỏ vàng trên đá sét và biến chất, trên macma axit, đất vàng nhạt
trên đá cát. Đất đỏ vàng trên đá sÐt vµ biÕn chÊt cã diƯn tÝch lín nhÊt vµ
cịng là loại đất có độ phì khá, đặc biệt đất phát triển trên đá phiến
22
thạch mica-gơnai có vỏ phong hoá dày hàm lượng các chất dinh dưỡng
khá, đất có cấu trúc tốt đoàn lạp bền trong nước nên ngoài diện tích có
rừng che phủ đất này được gây trồng cây công nghiệp và cây ăn quả
như: Chè, cam, vải, nhÃn, chuối,
- Đất nâu vàng trên phù sa cổ. Nhóm đất này có diện tích nhỏ, ở bậc
thềm thấp.
Nhìn chung vùng này cấp độ dốc III (25-350) và cấp độ dốc IV (>350)
chiếm ưu thế (79%). Cấp độ dày I và II (>100 cm) và cÊp III (50-100 cm)
chiÕm u thÕ tut ®èi víi 80% diện tích, trong đó đất không có rừng
chiếm diện tích lớn hơn đất có rừng. Đây là điều kiện thuận lợi phát huy
tiềm năng sản xuất đất lâm nghiệp. Mặt khác đại đa số đất lâm nghiệp
thuộc đất thịt, cấp rÊt giµu mïn vµ giµu mïn chiÕm tû lƯ lín (54%), mùn
1.246,9
182,1
Yên Minh
Quản Bạ
Vị Xuyên
2,0
50,0
105,0
Tam
Đường
685,0
Phong
Thổ
572,0
Sìn Hồ
52,0
Tổng (ha)
TX Lào
Cai
Kết quả điều tra thống kê (bảng 4.1) cho thấy. Diện tích Thảo quả được
thống kê ở các tỉnh trên là diện tích được trồng dưới tán rừng tự nhiên. Số liệu
thống kê của các tỉnh về diện tích trồng Thảo quả nhìn chung chưa đầy đủ so
với diện tích thực tế, nguyên nhân: Thảo quả không được trồng tập trung trong
rừng, diện tích trồng Thảo quả của một hộ gia đình thường nằm ở các địa điểm
khác nhau nên khi báo cáo chủ yếu là ước lượng do đó việc xác định chính
xác diện tích là rất khó khăn và tốn kém. Hơn nữa, diện tÝch trång Th¶o qu¶
24
lại thay đổi liên tục do những năm gần đây giá Thảo quả tăng cao nên người
dân tự phát trồng thêm nhiều diện tích mới.
Ví dụ:
Diện tích trồng Thảo quả trên toàn huyện Văn Bàn tỉnh Lào Cai tính
đến 31/12/2003 là 935,0 ha, diện tích báo cáo của tỉnh 182,1 ha.
Diện tích trồng Thảo quả của huyện Quản Bạ qua báo cáo thống kê của
tỉnh Hà Giang chỉ có 50,0 ha (5/12/2003), thực tế đến ngày 13/5/2004 trên
toàn huyện có 547,0 ha trong đó: diện tích trồng mới là 100 ha, diện tích đang
trong thời gian chăm sóc là 257 ha, diện tích cho thu hoạch là 190 ha.
Mấy năm gần đây tỉnh Hà Giang khuyến khích phát triển Thảo quả
nhằm xoá đói giảm nghèo cho đồng bào các dân tộc thiểu số vùng cao, nên đÃ
hỗ trợ 1.000.000 đ/ha trồng mới.
Tỉnh Lào Cai cũng đà ban hành Quyết định số 237/Quyết định UB ngày
1/11/1993 về việc trồng Thảo quả thay thế cây Thuốc phiện, quyết định này đÃ
chỉ ra các nhà quản lý ở các cấp cơ sở phải khuyến khích việc trồng Thảo quả.
Sau đó 2 năm Công văn số 32/CV-UB, ngày 17/02/1995 về việc khuyến khích
trồng và các hoạt động buôn bán Thảo quả đà định hướng cho các ngành hỗ
trợ và hướng dẫn đồng bào thiểu số phát triển trồng Thảo quả cùng với các
hoạt động buôn bán trao đổi. Chính vì vậy, những năm sau đó diện tích trồng
Thảo quả đà tăng đáng kể, đặc biệt sau năm 2000 và 2001 giá Thảo quả khô ở