CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
LỜI MỞ ĐẦU
Hoạt động kinh doanh trong nền kinh tế thị trường tiềm ẩn các rủi ro.
Trong điều kiện hiện tại, khi mà xu hướng tự do hóa và toàn cầu hóa nền kinh
tế ngày càng phát triển thì nguy cơ gặp phải rủi ro của các doanh nghiệp ngày
càng lớn. Việc chủ động phòng ngừa rủi ro, đảm bảo an ninh tài chính và khả
năng phát triển bền vững của các doanh nghiệp trở thành vấn đề thực sự cấp
thiết trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
Trong quá trình quản lý và điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh,
một trong những yếu tố quan trọng tác động đến kết quả hoạt động của doanh
nghiệp là việc huy động và sử dụng tài sản bằng tiền. Do đó, nhiệm vụ quan
trọng của nhà quản lý là luôn giữ được sự cân bằng hợp lý giữa các luồng tiền
vào và luồng tiền ra của doanh nghiệp, hay nói cách khác là duy trì được một
lượng tiền nhất định đủ để đáp ứng các nhu cầu của hoạt động sản xuất kinh
doanh. Theo luật doanh nghiệp, khi một doanh nghiệp không có khả năng
thanh toán các khoản nợ đến hạn phải trả thì chủ nợ có quyền yêu cầu phá sản
doanh nghiệp. Hiểu được tầm quan trọng của việc đảm bảo khả năng thanh
toán trong mọi thời điểm, mỗi doanh nghiệp đều phải quan tâm tới quản lý
ngân qũy của mình.
Công ty Điện lực 1 là đơn vị trực thuộc Tổng công ty điện lực Việt Nam.
Với chiến lược phát triển của ngành điện lực trong xu thế hội nhập, cạnh tranh,
quản lý tốt ngân quỹ đã và đang là một yêu cầu đối với công ty Điện lực 1.
Vì vậy, sau thời gian thực tập tại Công ty Điện lực 1, em đã chọn đề tài
“Hoàn thiện công tác quản lý ngân quỹ tại công ty Điện lực 1” cho chuyên
đề tốt nghiệp của mình.
Trần Thị Đào Viên Tài chính doanh nghiệp - 44E
1
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
Nội dung chuyên đề gồm có 3 chương:
Chương I: Công tác quản lý ngân quỹ của doanh nghiệp
Chương II: Thực trạng quản lý ngân quỹ tại công ty Điện lực 1
nghiệp mua sắm hàng hóa, nguyên vật liệu và thanh toán các khoản chi cần
thiết cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong hiện tại cũng
như những khoản chi bất thường hay những nhu cầu về tiền đột xuất trong
tương lai. Tiền giúp doanh nghiệp thực hiện được điều đó vì tiền có các chức
Trần Thị Đào Viên Tài chính doanh nghiệp - 44E
3
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
năng chủ yếu: tiền là phương tiện lưu thông, phương tiện thanh toán, phương
tiện đo lường giá trị, phương tiện dự trữ về mặt giá trị.
1.1.1.2. Vai trò công tác quản lý ngân quỹ trong hoạt động tài chính doanh
nghiệp
Chu trình tài chính của doanh nghiệp có 3 chu kỳ: Chu kỳ tạo vốn, chu
kỳ sử dụng vốn, chu kỳ phân chia thu nhập. Đối với một doanh nghiệp đang
hoạt động thì ba chu kỳ này đan xen nhau, có lúc kế tiếp, có lúc song hành và
cũng có lúc gián đoạn. Điều này tương ứng với tính chất đan xen trong việc
hình thành nhu cầu cũng như khả năng tài trợ của doanh nghiệp trong suốt
một thời kỳ nhất định. Trong giai đoạn ngắn hạn, việc đảm bảo cân bằng giữa
khả năng và nhu cầu tài trợ thường xuyên được xem là mục tiêu chính của
quản lý tài chính. Việc đảm bảo cân bằng tài chính ngắn hạn sẽ giúp cho
doanh nghiệp hoạt động ổn định, có hiệu quả, cơ sở của sự tăng trưởng đều
đặn và liên tục theo định hướng chiến lược. Vì vậy, ngân quỹ đóng vai trò rất
quan trọng trong hoạt động của doanh nghiệp, với mục tiêu kiểm soát quá
trình hoạt động của doanh nghiệp theo thời gian.
Các doanh nghiệp dự trữ tiền mặt vì 3 động lực: động lực giao dịch,
động lực dự phòng, động lực đầu cơ.
Động lực dự trữ tiền để giao dịch là doanh nghiệp dự trữ tiền để có thể
mua sắm hàng hóa, nguyên vật liệu và thanh toán các chi phí cho hoạt động
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Tùy vào đặc điểm hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp mà doanh nghiệp có thể cần nhiều tiền hay ít. Đối
với các doanh nghiệp bán lẻ, hầu như hoạt động nào cũng đòi hỏi cần đến
Mục tiêu của quản lý tài chính là cực đại hóa giá trị của doanh nghiệp.
Một cách cụ thể, quản lý tài chính là việc thiết lập và thực hiện thủ tục phân
tích, đánh giá và hoạch định tài chính, giúp cho nhà quản lý đưa ra các quyết
Trần Thị Đào Viên Tài chính doanh nghiệp - 44E
5
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
định đúng đắn cũng như kiểm soát hữu hiệu quá trình thực hiện các quyết
định về mặt tài chính với các nguyên tắc:
-Không bao giờ để thiếu tiền đảm bảo khả năng thanh toán
-Đưa ra các quyết định đầu tư đúng, đạt hiệu quả cao
-Đưa ra các quyết định tài trợ hợp lý với chi phí vốn thấp
Ngân quỹ là một bộ phận của vốn lưu động có tính lỏng cao nhất, với hai
bộ phận chủ yếu là tiền mặt và tiền gửi ngân hàng liên quan đến các dòng tiền
vào ra doanh nghiệp – có nghĩa là nó liên quan tới các khoản phải thu, chi
bằng tiền. Bất cứ khi nào phát sinh các khoản thu chi liên quan đến tiền, mức
dự trữ tiền trong ngân quỹ đều biến động. Mặt khác, các khoản thu chi tiền
mặt lại không đồng thời và thường diễn ra bất thường, ảnh hưởng không nhỏ
tới mức dự trữ tiền. Vì vậy, để tránh những trường hợp biến động bất thường
của ngân quỹ đòi hỏi các doanh nghiệp phải quản lý ngân quỹ.
1.1.2.1. Đảm bảo khả năng thanh toán của doanh nghiệp
Doanh nghiệp luôn quan tâm tới mức dự trữ tiền vì ngân quỹ biến động
theo chiều hướng bất lợi sẽ ảnh hưởng tới sự tồn tại và phát triển của mỗi
doanh nghiệp. Như vậy, một vai trò quan trọng của quản lý ngân quỹ là giúp
cho doanh nghiệp đảm bảo khả năng thanh toán. Khả năng thanh toán là khái
niệm dùng để chỉ khả năng đáp ứng các khoản nợ hay các khoản chi khi đến
hạn. Do sự khác biệt về thời điểm ghi nhận giữa thu nhập và chi phí với thu
và chi ngân quỹ, lợi nhuận trên báo cáo kết quả kinh doanh của doanh nghiệp
chỉ là con số trên sổ sách kế toán, lợi nhuận này nếu không được thực hiện
dưới hình thái tiền, thì cho dù cao đến mức nào cũng không thể hiện được khả
năng tái sản xuất mở rộng cũng như đảm bảo khả năng thanh toán của doanh
những lí do đó, doanh nghiệp không thể tìm được nguồn chi phí thấp mà phải
vay các tổ chức, vay cá nhân, hay huy động từ các nguồn có chi phí cao hơn.
Nếu doanh nghiệp có kế hoạch phòng ngừa trường hợp này, doanh nghiệp đã
có thể có biện pháp khắc phục tối ưu. Chẳng hạn, doanh nghiệp có thể giảm
các khoản phải thu của khách hàng, tăng cường quan hệ tốt với các nhà cung
Trần Thị Đào Viên Tài chính doanh nghiệp - 44E
7
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
cấp bằng cách thanh toán nhanh để có thể được hưởng các ưu đãi về giá hay
trả chậm trong tương lai; đầu tư tiền vào chứng khoán và đặc biệt là có kế
hoạch vay ngân hàng và các tổ chức tín dụng, hạn chế các khoản vay không
cần thiết để vay trong tương lai. Nếu doanh nghiệp không có kế hoạch chủ động
trước sẽ khiến doanh nghiệp có thể phải “vay nóng” từ các tổ chức, cá nhân có
chi phí cao, phải chịu các điều kiện ràng buộc bất lợi cho doanh nghiệp.
Như vậy, các hình thức tài trợ với chi phí lớn khiến chi phí vốn của
doanh nghiệp cao, làm chi phí của doanh nghiệp trong tương lai tăng lên, ảnh
hưởng tới lợi nhuận đồng thời hạn chế khả năng huy động vốn của doanh
nghiệp trong tương lai. Và đặc biệt trong trường hợp doanh nghiệp không thể
tìm được nguồn tài trợ nào, doanh nghiệp sẽ có nguy cơ mất khả năng thanh
toán. Rõ ràng, nếu không có sự quản lý chặt chẽ ngân quỹ, để tình trạng thâm
hụt ngân quỹ bất lợi xảy ra, hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
sẽ bị ảnh hưởng và việc tối thiểu hóa chi phí vốn sẽ không đạt được.
Đối với doanh nghiệp dịch vụ, mọi khoản chi lớn thường đã phát sinh
vào kỳ trước, đến kỳ sau, doanh nghiệp mới thực hiện cung dịch vụ và đồng
thời nhận được các khoản thu bằng tiền. Như vậy, ngân quỹ của doanh nghiệp
sẽ thặng dư tiền vì thu bằng tiền của doanh nghiệp vượt trội các khoản chi trả
bằng tiền trong kỳ. Tiền để tại két của doanh nghiệp hay gửi không kỳ hạn
vào ngân hàng không đem lại nhiều lợi nhuận. Doanh nghiệp cũng không thể
tính tới việc đầu tư dài hạn vì đây chỉ là khoản tiền tạm thời nhàn rỗi trong
ngắn hạn; cho dù đầu tư dài hạn sẽ hứa hẹn nhiều lợi nhuận thì nó cũng tiềm
• Thực thu từ hoạt động kinh doanh:
Thu bằng tiền từ doanh thu bán hàng của hoạt động kinh doanh là nguồn
thu chủ yếu của doanh nghiệp, về lý thuyết, nguồn thu này tính theo công thức:
Thu bằng
tiền trong kỳ
=
Phải thu
đầu kỳ
+
Doanh thu bán
hàng trong kỳ
-
Phải thu
cuối kỳ
Trần Thị Đào Viên Tài chính doanh nghiệp - 44E
9
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
=
Doanh thu bán hàng
trong kỳ
+
Chênh lệch
khoản phải thu
Trong đó:
- Thu tiền bán hàng trong kỳ:
Trong kỳ doanh nghiệp bán hàng cho khách và thu được tiền luôn trong
kỳ theo đúng các điều khoản trong hợp đồng được ký kết, nó bao gồm: giá
bán thành phẩm, thuế gián thu như: thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế giá trị gia tăng,
thuế xuất nhập khẩu…
- Thu nợ tiền hàng kỳ trước của khách hàng (giảm các khoản phải thu):
chính, hoạt động bất thường
•Thực chi cho hoạt động sản xuất kinh doanh
-Chi tiền mua hàng trong kỳ:
Chi bằng tiền
trong kỳ
=
Phải trả
người bán
đầu kỳ
+
Chi mua hàng
trong kỳ
-
Phải trả
người bán
trong kỳ
=
Chi mua hàng trong
kỳ
+
Chênh lệch khoản
phải trả người bán
- Chi mua hàng kỳ trước: Khi nhà cung cấp cấp cho một khoản tín
dụng cho phép trả chậm số tiền hàng đã nhận vào kỳ trước, đến hạn,
doanh nghiệp phải chi tiền trả cho nhà cung cấp
Trần Thị Đào Viên Tài chính doanh nghiệp - 44E
11
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
- Chi tiền đầu tư cơ bản (chi đầu tư tài sản cố định), chi tiền thanh
toán lương, các chi phí quản lý, chi phí bán hàng và chi phí khác
của trái phiếu Chính phủ.
Yếu tố thứ hai chính là từ các nội dung của quản lý ngân quỹ. Tùy thuộc
vào đặc điểm riêng có, nhu cầu của mình, doanh nghiệp sẽ xác định mức tồn
quỹ tiền mặt hợp lý. Các nhà tài chính đã nghiên cứu và đưa ra một số mô
hình cho quản lý tiền mặt của doanh nghiệp.
Mô hình 1: Mô hình EOQ
Người đầu tiên vận dụng mô hình độ lớn của đơn hàng tối ưu (EOQ) vào
quản trị tiền mặt là nhà khoa học Hoa Kỳ William J. Baumol (1952). Mô hình
này cho rằng, mỗi doanh nghiệp đều có một dòng lưu kim thuần ổn định, là
kết quả của dòng lưu kim chi phí và dòng lưu kim thu nhập trên phương diện
kế hoạch.
Trong quá trình hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp phải tính toán mức
tiền mặt dự trữ hợp lý và hiệu quả nhất sao cho chi phí cơ hội của doanh
nghiệp là nhỏ nhất đồng thời doanh nghiệp gặp ít rủi ro thanh toán nhất. Vì
vậy, doanh nghiệp sẽ thường tìm cách đầu tư số tiền mặt nhàn rỗi vào hình
thức đầu tư ít rủi ro nhất đó là tín phiếu kho bạc.
Tín phiếu kho bạc là loại chứng khoán được coi là ít rủi ro nhất và dễ
chuyển hóa thành tiền nhất. Vì thế chúng ta có thể coi chi phí cơ hội của việc
giữ tiền là lãi suất tín phiếu kho bạc. Việc dùng tiền nhàn rỗi để đầu tư vào tín
phiếu kho bạc sẽ đem lại cho doanh nghiệp khoản lợi nhất định. Tuy nhiên,
Trần Thị Đào Viên Tài chính doanh nghiệp - 44E
13
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
tín phiếu kho bạc không phải là phương tiện thanh toán nên doanh nghiệp khi
cần tiền mặt phải tìm cách bán tín phiếu. Điều này làm phát sinh chi phí bán
các tín phiếu kho bạc. Như vậy, chi phí cơ hội tăng lên nếu dự trữ tiền tăng
lên đồng thời chi phí bán tín phiếu sẽ giảm đi nếu số lần phải bán tín phiếu ít
đi tức là dự trữ tiền tăng lên. Do đó mức tiền dự trữ hợp lý và hiệu quả nhất
đạt được khi tổng chi phí cho việc duy trì lượng tiền đó trong ngân quỹ là nhỏ
nhất.
ữtrdựtiềnvịnơđmộtcủahộicophíChi
tiềnthiếulầnmỗidophíChixmăntrongnơđáhocácảtrchiểđtiềncầunhuTổngx2
Theo gi nh ban u, ton b tin nhn ri khi ó tớnh lng tin d
tr hp lý c u t ton b vo tớn phiu kho bc nờn ỏp dng cho trng
hp ny ta suy ra c cụng thc tớnh lng tin d tr ti u:
Q =
suấtiãL
phiếutínnáblầnmỗidophíChixmăntrongnơđáhocácảtrchiểđtiềncầunhuTổngx2
Nh vy mụ hỡnh Baumol gi nh vic chi tr cỏc húa n l u n,
ch ng m khụng tớnh n s bt thng ca cỏc dũng tin i ra doanh
nghip, hn th na khụng tớnh n cỏc khon thu bng tin ca doanh nghip
cng lm thay i mc d tr tin mt m gi nh khi thu v, tin c dựng
chuyn húa luụn thnh tớn phiu. Do ú, cỏc nh kinh t hc ó xõy dng
mụ hỡnh phự hp hn vi thc t, tc l mụ hỡnh ny cú tớnh n c nhng
kh nng tin ra vo ngõn qu.
Mụ hỡnh 2: Mụ hỡnh Miller Orr
khc phc tỡnh trng bin ng tin mt trong doanh nghip, cỏc nh
kinh t hc ó a ra mụ hỡnh kim soỏt ngõn qu cn c s bin ng ca
dũng vo v dũng ra vi n v thi gian l ngy. Mụ hỡnh ny cho phộp nh
qun lý nm gi tin mc hon ton t do khi nú t ti im gii hn
trờn v gii hn di.
Trn Th o Viờn Ti chớnh doanh nghip - 44E
16
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
Ta có đồ thị sau:
Trong mô hình này, nhà quản lý cần xác định được 3 chỉ tiêu: Giới hạn
trên, giới hạn dưới của cân đối tiền mặt và mức tồn quỹ theo thiết kế. Tại giới
hạn trên hoặc giới hạn dưới, doanh nghiệp sẽ phải điều chỉnh mức tồn quỹ
bằng cách đầu tư ngắn hạn hoặc tài trợ cho ngân quỹ để có mức tiền mặt theo
thiết kế ban đầu. Khoảng dao động của mức cân đối tiền mặt trong mô hình
Mức tiền mặt
giới hạn dưới
+
Khoảng dao động tiền
3
Mô hình Miller – Orr trên đây chỉ ra rằng nếu doanh nghiệp duy trì được
mức tiền theo như thiết kế ban đầu thì doanh nghiệp sẽ tối thiểu hóa chi phí
giao dịch và chi phí do lãi suất gây ra.
Mô hình Miller – Orr có thể thích ứng với nhu cầu kiểm soát ngân quỹ
trong đơn vị thời gian rất ngắn (ngày) và phù hợp với một thị trường tài chính
năng động. Mô hình này xem xét mức dao động của ngân quỹ trong hành lang
giới hạn trên, giới hạn dưới của mức cân đối tiền và coi một nửa của mức dao
động này thể hiện nhu cầu cần điền mức thiếu hụt tiền. Cách đặt vấn đề này
cho phép xem xét đồng thời dòng vào và ra nhưng đòi hỏi doanh nghiệp phải
dự báo được dòng vào và dòng ra một cách chi tiết (hàng ngày là tốt nhất). Vì
vậy, khi doanh nghiệp có những trở ngại trong công tác dự báo ngân quỹ, mô
hình Baumol vẫn có giá trị ứng dụng nhất định vì sự đơn giản của nó.
1.2.3. Cân đối ngân quỹ
1.2.3.1. Xử lý thâm hụt ngân quỹ
-Bán chứng khoán ngắn hạn và các giấy tờ có giá khác
Các loại chứng khoán gần như tiền mặt giữ vai trò như một “bước đệm”
cho tiền mặt, khi cần thiết có thể chuyển đổi chúng sang tiền mặt một cách dễ
dàng mà ít tốn kém chi phí. Thế nhưng mỗi loại chứng khoán lại có tính lỏng
khác nhau. Tính lỏng cao nhất là trái phiếu chính phủ, trái phiếu hay tín phiếu
kho bạc nhà nước.
Trần Thị Đào Viên Tài chính doanh nghiệp - 44E
18
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
Nhưng khi sử dụng loại hình tài trợ này phải lưu ý nhiều tới chi phí của
việc bán chứng khoán. Nếu chi phí quá cao thì doanh nghiệp phải tìm kiếm
nguồn vốn tài trợ cho hoạt động của doanh nghiệp.
-Các hình thức tài trợ khác
Doanh nghiệp có thể tài trợ cho việc mức tồn quỹ thấp hơn mức tồn quỹ
tối ưu bằng cách đi vay từ chính cán bộ nhân viên, đơn vị có mối quan hệ chặt
chẽ hay bán các khoản nợ.
Đây là những phương thức tài trợ trong ngắn hạn được sử dụng khi cần
thiết. Đi vay từ cán bộ doanh nghiệp hay của các đơn vị phụ thuộc, công ty
mẹ được thực hiện một cách dễ dàng và với chi phí thấp. Bán các khoản nợ là
cách chiết khấu, cầm cố thương phiếu cho các ngân hàng hay các tổ chức tín
dụng khác. Số tiền thu được phụ thuộc vào mức độ khó đòi của các thương
phiếu.
1.2.3.2. Xử lý thặng dư ngân quỹ
Khi tồn quỹ tiền mặt của doanh nghiệp vượt mức tối ưu có nghĩa là khả
năng thanh toán của doanh nghiệp đã được đảm bảo, số tiền dư (khoản chênh
lệch giữa giới hạn trên với mức tồn quỹ tối ưu) sẽ phải được sử dụng hợp lý
để đạt được mục đích tối đa hóa giá trị vốn chủ sở hữu.
-Đầu tư chứng khoán
Doanh nghiệp có thể dễ dàng tiếp cận với thị trường chứng khoán và trở
thành nhà đầu tư. Theo đó, doanh nghiệp sẽ nhận được khoản lãi do chênh
lệch giữa giá mua và giá bán chứng khoán. Thường thì họ sẽ đầu tư vào
những chứng khoán an toàn, tính lỏng cao như: trái phiếu chính phủ, trái
phiếu kho bạc nhà nước, cổ phiếu của các công ty mạnh như: Vinamilk, Kinh
Đô.
Khi tham gia vào hình thức đầu tư này, doanh nghiệp cần phải có một
trình độ chuyên môn cao về tài chính, thị trường tài chính.
Trần Thị Đào Viên Tài chính doanh nghiệp - 44E
20
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
Có nhiều loại chứng khoán với những đặc điểm khác nhau, nhưng trong
khuôn khổ chuyên đề, em chỉ đề cập tới một số loại chứng khoán thường
và được chấp nhận thanh toán giống như séc, tiền mặt nhưng lãi suất của nó
cao hơn lãi suất tiền gửi không kỳ hạn.
-Trả trước cho người cung cấp
Doanh nghiệp có thể sử dụng nguồn tiền nhàn rỗi của mình để thanh
toán trước cho người cung cấp. Khi đó, họ sẽ được người cung cấp cho hưởng
một khoản chiết khấu tiền mặt.
Trả trước cho người cung cấp sẽ giúp đẩy nhanh tốc độ thu tiền. Bên
cạnh đó, áp dụng phương thức tài trợ này còn làm tăng mối quan hệ lâu dài
đối với người cung cấp, tăng uy tín của bản thân doanh nghiệp.
1.2.4. Lập kế hoạch quản lý ngân qũy
Việc lập kế hoạch quản lý ngân quỹ bao gồm các quyết định để sử dụng
nguồn tiền nhàn rỗi khi có thặng dư ngân quỹ vuợt quá giới hạn trên theo mô
hình mà doanh nghiệp áp dụng và các quyết định tìm nguồn tài trợ khi có
ngân quỹ xuống thấp hơn giới hạn cho phép của mô hình. Đối với hình thức
tài trợ hay sử dụng ngân quỹ nào thì doanh nghiệp cần phải xem xét có phù
hợp với chu kỳ kinh doanh và chu kỳ tiền mặt của đơn vị mình hay không.
Chu kỳ kinh doanh là khoảng thời gian mà tất cả các bước của quá trình
tái sản xuất phải trải qua như: nguyên vật liệu – sản phẩm dở dang – bán
thành phẩm – thành phẩm - giao hàng – chờ thu tiền về.
Chu kỳ kinh doanh = Chu kỳ dự trữ + Chu kỳ chờ thu tiền
Chu kỳ dự trữ là khoảng thời gian từ lúc bắt đầu mua nguyên vật liệu
nhập kho cho đến khi xuất kho sản phẩm giao cho khách hàng.
Chu kỳ chờ thu tiền được tính từ khi giao hàng cho khách đến khi nhận
lại tiền bán hàng.
Trần Thị Đào Viên Tài chính doanh nghiệp - 44E
22
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
Chu kỳ kinh doanh còn được tính theo chu kỳ trả tiền và chu kỳ tiền mặt
Chu kỳ kinh doanh = Chu kỳ trả tiền + Chu kỳ tiền mặt
Chu kỳ tiền mặt là khoảng thời gian từ khi trả tiền cho nhà cung cấp cho
khả năng thanh toán của doanh nghiệp
-Khả năng thanh toán hiện hành
Tỷ lệ khả năng thanh toán hiện hành =
Tài sản lưu động
Nợ ngắn hạn
Tỷ lệ này cho biết một đồng nợ ngắn hạn của doanh nghiệp được đảm
bảo bằng bao nhiêu đồng giá trị tài sản lưu động. Tài sản lưu động thường bao
gồm tiền, các chứng khoán ngắn hạn dễ chuyển nhượng, các khoản phải thu
và dự trữ (tồn kho). Nợ ngắn hạn thường bao gồm các khoản vay ngắn hạn
ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác, các khoản phải trả nhà cung cấp, các
khoản phải trả, phải nộp khác…
Tỷ lệ khả năng thanh toán hiện hành thể hiện khả năng thanh toán tổng
quát của doanh nghiệp, nó cho biết mức độ các khoản nợ của các chủ nợ ngắn
hạn được trang trải bằng các tài sản có thể chuyển thành tiền trong một giai
đoạn tương đương với thời hạn của các khoản nợ. Nếu tỷ lệ khả năng thanh
toán hiện hành >1 thì doanh nghiệp được coi như đang ở trạng thái thuận lợi.
Tuy nhiên hệ số này chưa đủ chặt chẽ trong việc đánh giá cân bằng tài chính
ngắn hạn vì còn tính đến khoản mục hàng tồn kho. Nếu khoản mục này chiếm
tỷ trọng đáng kể trong tài sản lưu động và thời gian chuyển hóa cần thiết đủ
dài thì vẫn tồn tại nguy cơ mất cân bằng ngắn hạn.
- Khả năng thanh toán nhanh
Trần Thị Đào Viên Tài chính doanh nghiệp - 44E
24
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
Tỷ lệ khả năng thanh toán nhanh = TS lưu động – TS dự trữ
Nợ ngắn hạn
Đây là tỷ số giữa các tài sản quay vòng nhanh với nợ ngắn hạn. Tài sản
quay vòng nhanh là những tài sản có thể nhanh chóng chuyển đổi thành tiền,
bao gồm: tiền, chứng khoán ngắn hạn, các khoản phải thu. Tài sản dự trữ (tồn
kho) là các tài sản khó chuyển thành tiền hơn trong tổng tài sản lưu động và