Mục lục
Lời mở đầu
Chơng I: Lý luận chung về giai đoạn kết thúc kiểm toán báo
cáo tài chính.
I. Quy trình kiểm toán báo cáo tài chính
1. Giai đoạn chuẩn bị kiểm toán
2. Giai đoạn thực hiện kiểm toán
3. Giai đoạn thực hiện kiểm toán
II. Giai đoạn thực hiện kiểm toán
1. Xem xét các khoản công nợ dây da
2. Xem xét các sự kiện phát sinh sau ngày lập báo cáo
3. Xem xét giả thiết hoạt động liên tục
4. Tổng hợp kết quả kiểm toán
5. Các căn cứ để lập báo cáo kiểm toán
Chơng II: Thực trạng về các thủ tục kết thúc kiểm toán
báo cáo tài chính tại công ty kiểm toánViệt Nam
I. Đặc điểm quy trình kiểm toán của công ty kiểm toán
Việt Nam
1. Giới thiệu vài nét về Công ty kiểm toán Việt Nam.
2. Chơng trình thực hành kiểm toán tại Công ty kiểm toán Việt Nam.
II. các thủ tục kết thúc kiểm toán báo cáo tài chính tại
Công ty kiểm toán Việt Nam
1. Soát xét các sự kiện phát sinh sau ngày lập báo cáo
2. Thu tập thue giải trình của Ban giám đốc khách hàng
1
3. Tổng hợp kết quả kiểm toán
4. Lập báo cáo kiểm toán
Chơng III: Một số bài học kinh nghiệm và việc hoàn thiện các
thủ tục kết thúc kiểm toán báo cáo tài chính tại Công ty
kiểm toán Việt Nam
I. Nhận xét chung
a) Xác định mục tiêu, phạm vi cuộc kiểm toán:
Cuộc kiểm toán BCTC đợc tiến hành trên cơ sở thoả thuận giữa công ty
kiểm toán và đơn vị đợc kiểm toán thông qua Hợp đồng kiểm toán. Trong Hợp
3
đồng kiểm toán, công ty kiểm toán và đơn vị phải cùng nhau thống nhất về các
điều khoản và điều kiện sẽ thực hiện, bao gồm cả việc xác định cụ thể mục
tiêu và phạm vi cuộc kiểm toán.
Mục tiêu kiểm toán là đích cần đạt tới và là thớc đo kết quả cho mỗi
cuộc kiểm toán. Mục tiêu kiểm toán phải gắn liền với mục tiêu và yêu cầu của
quản lý. Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam (VSA) số 210 - Mục tiêu và nguyên
tắc chi phối kiểm toán BCTC - Điểm 11 nêu rõ: Mục tiêu của kiểm toán
BCTC là giúp cho kiểm toán viên và công ty kiểm toán đa ra ý kiến xác nhận
rằng BCTC có đợc lập trên cơ sở chuẩn mực và chế độ hiện hành (hoặc đợc
chấp nhận),có tuân thủ pháp luật liên quan và có phản ánh trung thực và hợp lý
trên các khía cạnh trọng yếu hay không?. Mục tiêu kiểm toán BCTC còn giúp
cho đơn vị đợc kiểm toán thấy rõ những tồn tại, sai sót để khắc phục nhằm
nâng cao chất lợng thông tin tài chính của đơn vị.
Phạm vi kiểm toán chính là sự xác định về mặt không gian và thời gian
của đối tợng kiểm toán và cả mức độ kiểm toán. Cũng trong Chuẩn mực này,
Điểm 25 giải thích: Phạm vi kiểm toán là những công việc và những thủ tục
kiểm toán cần thiết mà kiểm toán viên phải xác định và thực hiện trong quá
trình kiểm toán để đạt đợc mục tiêu kiểm toán.
Xác định đúng mục tiêu và phạm vi kiểm toán là yếu tố quan trọng để
lập kế hoạch kiểm toán một cách có hiệu quả. Thông qua các mục tiêu và
phạm vi kiểm toán, kiểm toán viên có thể ớc lợng đợc các nguồn lực cần thiết
cho công việc kiểm toán.
b) Chuẩn bị nhân lực và yếu tố vật chất
Trên cơ sở mục tiêu và phạm vi kiểm toán đã xác định, cần sắp xếp đội
ngũ những ngời thực hiện cuộc kiểm toán sao trình độ nghiệp vụ và kinh
nghiệm của họ phải tơng xứng với công việc kiểm toán. Ngời thực hiện các thủ
toán viên khác. Kế hoạch kiểm toán thờng bao gồm các nội dung chính sau:
Tập hợp những hiểu biết về hệ thống kế toán, chế độ kế toán và quy chế
kiểm soát nội bộ của đơn vị.
Xác định mức độ tin cậy dự kiến đối với hệ thống kiểm soát nội bộ.
5
Xác định và chơng trình hoá nội dung, thời gian và phạm vi áp dụng các
phơng pháp kiểm toán.
Tổ chức phối hợp các bớc công việc.
Cụ thể, trong kế hoạch kiểm toán tổng thể, kiểm toán viên xác định, ớc
lợng các công việc cần làm, phân công công việc, lên biểu thời gian cho các
công việc, lập ngân sách chi phí và các thủ tục kiểm toán có liên quan dựa trên
mục tiêu, phạm vi kiểm toán và các nguồn lực sẵn có.
Trên cơ sở kế hoạch tổng thể, kiểm toán viên lập kế hoạch kiểm toán
chi tiết và thiết kế chơng trình kiểm toán. Đó là những dự kiến chi tiết, tỉ mỉ về
những công việc để tiến hành kiểm toán từng khoản mục hay từng phần hành
công việc, hoặc kế hoạch của những công việc cần phải tiến hành trong từng
khoảng thời gian. Khi lập kế hoạch kiểm toán chi tiết, kiểm toán viên phải thu
thập thêm những thông tin cần thiết về những bộ phận, khoản mục cần đợc
kiểm toán để phân tích, xem xét các quyết định đặt ra trong kế hoạch có hợp
lý, thích đáng hay không?
Lập kế hoạch kiểm toán là giai đoạn đầu tiên của quy trình kiểm toán
có ý nghĩa quan trọng chi phối đến chất lợng và hiệu quả của toàn bộ cuộc
kiểm toán.
Công việc lập kế hoạch kiểm toán phải do các kiểm toán viên có trình
độ chuyên môn cao và nhiều kinh nghiệm thực hiện và cũng đồng thời là các
kiểm toán viên sẽ thực hiện các thủ tục kết thúc cuộc kiểm toán sau này. Điều
này sẽ giúp các kiểm toán viên đảm bảo rằng ý kiến cuối cùng mà họ đa ra về
BCTC đợc kiểm toán là phù hợp.
Nh vậy, mặc dù kết quả của các công việc trong giai đoạn lậpkkh kiểm
toán không ảnh hởng trực tiếp đến chất lợng của giai đoạn kết thúc kiểm toán,
của bằng chứng kiểm toán, mà do đó các yêu cầu về tính hiệu lực và đầy đủ
cũng sẽ thay đổi tuỳ theo loại bằng chứng và nguồn hình thành, chúng sẽ có
ảnh hởng khác nhau đến việc hình thành kết luận kiểm toán. Kiểm toán viên
cần nhận thức cụ thể về các loại bằng chứng để có thể đánh giá chúng một
cách hữu hiệu khi thực hành kiểm toán. Từ đó, sự thành công của toàn bộ cuộc
kiểm toán phụ thuộc trớc hết vào việc thu thập và sau đó là đánh giá bằng
chứng kiểm toán của kiểm toán viên. Một khi kiểm toán viên không thu thập
7
đầy đủ và đánh giá đúng các bằng chứng kiểm toán thích hợp thì kiểm toán
viên khó có thể đa ra một nhận định xác đáng về đối tợng đợc kiểm toán.
Do vai trò quan trọng đó của bằng chứng kiểm toán , VSA500 đã yêu
cầu: Kiểm toán viên và công ty kiểm toán phải thu thập đầy đủ các bằng
chứng kiểm toán thích hợp để làm cơ sở của mình về BCTC của đơn vị đợc
kiểm toán. Có nh vậy, kết luận đa ra trong giai đoạn kết thúc kiểm toán mới
có sức thuyết phục và đảm bảo trách nhiệm cho kiểm toán viên.
b) Thủ tục kiểm toán
Để tiến hành thu thập đợc đầy đủ và thích hợp bằng chứng kiểm toán
làm cơ sở cho việc đa ra ý kiến của mình, tuỳ theo mục tiêu và phạm vi kiểm
toán đã vạch ra, kiểm toán viên thực hiện một số thủ tục kiểm toán - hay còn
gọi là các phơng pháp kỹ thuật kiểm toán. Thông thờng có ba thủ tục kiểm
toán cơ bản là: thủ tục kiểm soát, thủ tục phân tích và thủ tục kiểm tra chi tiết.
Thủ tục kiểm soát (Control Procedures): thủ tục kiểm soát chỉ đợc thực
hiện sau khi kiểm toán viên tìm hiểu hệ thống kiểm soát nội bộ với đánh
giá ban đầu là đơn vị có hệ thống kiểm soát nội bộ hoạt động có hiệu lực.
Khi đó, theo VSA 500, thủ tục kiểm soát đợc triển khai nhằm thu thập bằng
chứng kiểm toán về sự thiết kế phù hợp và vận hành hữu hiệu của hệ thống
kiểm soát nội bộ. Cụ thể, bằng chứng kiểm toán phải chứng minh đợc: thiết
kế của các hoạt động kiểm soát cụ thể của đơn vị đợc kiểm toán là thích
hợp để ngăn ngừa, phát hiện và sửa chữa các sai phạm trọng yếu; hoạt động
kiểm soát đã đợc triển khai theo đúng yêu cầu của thiết kế trong thực tế.
phân tích áp dụng đối với thông tin tài chính của từng đơn vị thành viên
sẽ hiệu quả hơn là chỉ áp dụng đối với thông tin tổng hợp của các đơn vị
)
- Khả năng sẵn có của các thông tin tài chính và phi tài chính.
- Độ tin cậy của các thông tin.
- Tính thích đáng của các thông tin.
- Nguồn gốc thông tin và khả năng so sánh của thông tin.
Trờng hợp quy trình phân tích phát hiện đợc những chênh lệch trọng
yếu hoặc có mối liên hệ không hợp lý giữa các thông tin tơng ứng hoặc có
chênh lệch lớn với số liệu dự tính, kiểm toán viên phải thực hiện các thủ tục
điều tra để thu thập đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp.
9
Các thủ tục phân tích, ngoài ra, cũng đợc áp dụng trong giai đoạn soát
xét tổng thể cuộc kiểm toán. Trong giai đoạn này, kiểm toán viên áp dụng các
thủ tục phân tích để có kết luận tổng quát về sự phù hợp trên các khía cạnh
trọng yếu của BCTC với những hiểu biết của mình về tình hình kinh doanh của
đơn vị. Quy trình phân tích giúp kiểm toán viên khẳng định lại những kết luận
có đợc trong suốt quá trình kiểm tra các tài khoản hoặc các khoản mục trong
BCTC. Trên cơ sở đó giúp kiểm toán viên đa ra kết luận tổng quát về tính
trung thực, hợp lý của toàn bộ BCTC.
Thủ tục kiểm tra chi tiết (Test of Details): kiểm tra chi tiết là việc áp dụng
các biện pháp kỹ thuật cụ thể của thử nghiệm cơ bản các nghiệp vụ
(substantive test of transactions) thuộc kiểm tra nghiệp vụ và kiểm tra trực
tiếp số d để kiểm toán từng khoản mục hoặc nghiệp vụ tạo nên số d trên
khoản mục hay loại nghiệp vụ.
Quá trình kiểm tra chi tiết bao gồm các bớc cơ bản sau: Lập kế hoạch
kiểm tra chi tiết, lựa chọn các khoản mục để kiểm tra chi tiết, lựa chọn khoản
mục chính và thực hiện các biện pháp kỹ thuật kiểm tra chi tiết trên các khoản
mục đã chọn. Trong đó, bớc lựa chọn các khoản mục để kiểm tra chi tiết thờng
liên quan đến việc lựa chọn những khoản mục chính hoặc mẫu đại diện hoặc
về những vấn đề xét đoán chuyên môn và các kết luận liên quan. Đối với
những vấn đề khó xử lý về nguyên tắc hay khó xét đoán chuyên môn, ngoài
việc đa ra kết luận, kiểm toán viên còn phải lu giữ những thông tin có thực,
cần thiết đã thu thập đợc. Hồ sơ kiểm toán phải lu giữ kết quả kiểm tra, soát
xét chất lợng kiểm toán của từng cấp có thẩm quyền theo quyết định của công
trọng yếu kiểm toán.
Phạm vi và nội dung của Hồ sơ kiểm toán đợc lập tuỳ thuộc vào sự đánh
giá của kiểm toán viên. Hồ sơ kiểm toán phải đảm bảo đầy đủ cơ sở cho kiểm
toán viên đa ra ý kiến nhận xét của mình và đảm bảo cho kiểm toán viên khác
không tham gia vào cuộc kiểm toán và ngời kiểm tra, soát xét hiểu đợc công
việc kiểm toán và cơ sở ý kiến của kiểm toán viên. Với ý nghĩa đó, Hồ sơ kiểm
toán có tác dụng nhiều mặt:
- Là căn cứ để lập kế hoạch kiểm toán.
- Ghi chép những bằng chứng thu thập đợc và kết quả của các thủ tục
kiểm toán.
11
- Là dữ kiện cho việc lập BCKT.
- Là căn cứ để các giám sát viên kiểm toán (supervisors) và các chủ phần
hùn (parteners) kiểm tra.
Hồ sơ kiểm toán thuộc quyền sở hữu và là tài sản của công ty kiểm
toán. Khách hàng hay bên thứ ba có quyền xem xét, sử dụng một phần hay
toàn bộ tài liệu này khi đợc sự đồng ý của Giám đốc (hay ngời đứng đầu) công
ty kiểm toán theo quy định của Nhà nớc và của tổ chức nghề nghiệp. Kiểm
toán viên đợc phép cung cấp một phần hay toàn bộ tài liệu làm việc trong Hồ
sơ kiểm toán của mình cho khách hàng tuỳ theo từng trờng hợp cụ thể do công
ty kiểm toán quyết định. Trong mọi trờng hợp, tài liệu làm việc của kiểm toán
viên không thể thay thế chứng từ kế toán, BCTC của khách hàng.
Nh vậy, Hồ sơ kiểm toán có mối quan hệ chặt chẽ với bằng chứng kiểm
toán. Chất lợng của bằng chứng kiểm toán, do đó mà nội dung và chất lợng
của Hồ sơ kiểm toán, sẽ có ảnh hởng quyết định đến BCKT. Nói cách khác, ý
và các bảo lãnh về công nợ của ngời khác ... Kiểm toán viên cần thực hiện một
số thủ tục kiểm toán để phát hiện các khoản công nợ ngoài dự kiến trọng yếu
nh:
- Trao đổi với ngời quản lý đơn vị về khả năng có các khoản công nợ
ngoài dự kiến cha đợc khai báo, các khoản công nợ ngoài dự kiến cần đ-
ợc trình bày trên BCTC. Tiếp đó, kiểm toán viên sẽ yêu cầu ngời quản
lý đơn vị cung cấp một Th giải trình xác định đã khai báo đầy đủ các
khoản công nợ ngoài dự kiến mà đơn vị đã biết.
- Gửi th yêu cầu luật s hay t vấn pháp lýcủa đơn vị cung cấp th xác nhận,
trong đó mô tả nội dung các vụ kiện hay bất đồng về thuế, đánh giá hậu
quả, khả năng thiệt hại.
- Xem xét các biên bản họp Hội đồng quản trị hoặc ban lãnh đạo đơn vị
để biết đợc các hợp đồng,các vụ kiện quan trọng ...
Sau cùng, kiểm toán viên cần đánh giá tầm quan trọng của các khoản
công nợ ngoài dự kiến và nội dung cần thiết khai báo trên BCTC. Nếu khả
năng xảy ra của các khoản công nợ ngoài dự kiến này đã rõ, và số tiền thiệt hại
có thể ớc tính gần đúng, nó cần đợc ghi nhận vào sổ sách kế toán nh một
khoản công nợ thực sự. Nếu khả năng xảy ra của các khoản công nợ này là
13
hiếm hoặc khoản công nợ không trọng yếu, lúc đó việc khai báo trên BCTC là
không cần thiết. Việc đánh giá của kiểm toán viên phải đợc tiến hành một
cách độc lập chứ không dựa vào ý kiến của đơn vị.
2. Xem xét các sự kiện xảy ra sau ngày kết thúc niên độ
Phần lớn công việc quan trọng của một cuộc kiểm toán đợc tiến hành
sau ngày kết thúc niên độ. Riêng từ ngày kết thúc niên độ cho đến khi hoàn
thành BCKT, có thể xảy ra các sự kiện có thể ảnh hởng đến việc đánh giá hoặc
khai báo trên BCTC. Do đó, kiểm toán viên còn có trách nhiệm xem xét các sự
kiện xảy trong thời gian này, và đợc gọi là các sự kiện xảy ra sau ngày kết
thúc niên độ, đó là những sự kiện hay nghiệp vụ xảy ra sau ngày kết thúc niên
độ cho đến trớc ngày hoàn thành kiểm toán và phát hành BCKT.
vào số liệu kế toán chứ không thể khai báo dới dạng chú thích đợc.
- Một tài sản cố định không sử dụng đợc nhợng bán sau ngày 31/12 với
một giá thấp hơn giá đã đợc hạch toán trên sổ sách. Trờng hợp này cần
điều chỉnh lại giá tài sản cố định trên BCTC vì giá hạch toán trên sổ
sách là không chính xác vv...
Các sự kiện không ảnh hởng trực tiếp đến BCTC nhng cần phải khai báo
trên BCTC: Các sự kiện này chỉ thực sự phát sinh sau ngày kết thúc niên
độ, nên không phải điều chỉnh lại số liệu trên BCTC. Tuy nhiên, vì tính
chất quan trọng của nó nên càn phải khai báo trên BCTC để tránh sự hiểu
lầm khi sử dụng BCTC. Ví dụ: sau ngày kết thúc niên độ, một trận hoả
hoạn đã xảy ra và thiêu huỷ phần lớn nhà xởng thiết bị của đơn vị. Trong
trờng hợp này, giá trị của nhà xởng thiết bị trên BCTC không thể điều
chỉnh giảm vì nó thực sự còn tốt cho đến cuối năm. Tuy nhiên, ngời sử
dụng BCTC có thể bị ngộ nhận nếu họ không đợc cho biết rằng hầu hết các
tài sản đó không còn khả năng sử dụng nữa.
Dới đây là một số sự kiện xảy ra sau ngày kết thúc niên độ thuộc loại
này:
- Sự hợp nhất của một công ty đang cạnh tranh với đơn vị.
- Sự phát hành trái phiếu hay cổ phần.
- Sự sụt giảm giá thị trờng của hàng tồn kho do Nhà nớc không khuyến
khích việc kinh doanh loại sản phẩm đó.
15
Để phân biệt một sự kiện xảy ra sau ngày kết thúc niên độ thuộc loại
nào trong hai loại trên, kiểm toán viên cần xem xét thời điểm mà điều kiện chủ
yếu hình thành xảy ra trớc hay sau ngày kết thúc niên độ. Nếu trớc ngày kết
thúc niên độ, sự kiện đó sẽ ảnh hởng trực tiếp đến BCTC và cần phải điều
chỉnh lại số liệu đó. Trờng hợp ngợc lại, nếu sau ngày kết thúc niên độ, sự kiện
cần khai báo trên BCTC. Ví dụ sau đây sẽ làm rõ sự khác biệt giữa hai loại sự
kiện xảy ra sau ngày kết thúc niên độ. Giả sử trong một thời gian ngắn sau
ngày kết thúc niên độ, một khách hàng chủ yếu của đơn vị bị phá sản, kết quả
bảng tổng kết tài sản và các vấn đề đã thảo luận tại đại hội mà biên bản
cha ghi.
- Thẩm tra hoặc đánh giá các phiếu thẩm tra của bộ phận t vấn pháp lý
của đơn vị về các vấn đề đang tranh chấp trớc đó.
- Hỏi các nhà quản lý xem các sự kiện này đã đợc thể hiện trong BCTC
cha, nh các vấn đề: có phát hành cổ phiếu hoặc giấy nợ mới không?, có
tổn thất gì về tài sản của đơn vị không?, có sự xáo trộn về tổ chức
không?, có sự điều chỉnh bất thờng nào hoặc có ý định điều chỉnh
BCTC sau ngày lập BCTC không? ...
Nếu xét thấy các sự kiện tiếp theo có thể ảnh hởng trọng yếu đến BCTC,
thì kiểm toán viên phải áp dụng bổ sung những biện pháp kiểm tra để xác định
xem các sự kiện đó có đợc công bố trong BCTC hay không? Kiểm toán viên
cũng có thể yêu cầu cung cấp Th giải trình xác định đã khai báo các sự kiện
trọng yếu. Nếu kiểm toán viên nhận thấy cần phải điều chỉnh BCTC hay công
bố nhng các quản lý đơn vị không chịu thực hiện, thì hành động của kiểm toán
viên tuỳ thuộc vào nội dung BCKT mà kiểm toán viên sẽ đa ra cho đơn vị.
3. Xem xét về giả thuyết hoạt động liên tục
Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam và chuẩn mực kiểm toán Quốc tế đều
yêu cầu kiểm toán viên khi lên kế hoạch kiểm toán, cũng nh khi đánh giá và
thông báo kết luận của mình phải luôn đánh giá xem liệu giả thiết về tính liên
tục của hoạt động kinh doanh khi lập BCTC có đứng vững hay không. Do báo
cáo của kiểm toán viên nhằm làm tăng độ tin cậy của BCTC mà không thể
đảm bảo cho sự tồn tại lâu dài trong tơng lai của đơn vị đợc kiểm toán, nên ý
17
kiến của kiểm toán viên về BCTC trớc hết phải đảm bảo rằng các BCTC đó đ-
ợc xây dựng trên giả thuyết Hoạt động liên tục của đơn vị.
Chuẩn mực kế toán Quốc tế (IAS 1) đa ra khái niệm về giả thuyết Hoạt
động liên tục nh sau: Thông thờng một doanh nghiệp đợc coi là đang hoạt
động khi mà nó tiếp tục hoạt động cho một tơng lai định trớc. Ngời ta quan
niệm rằng doanh nghiệp không có ý định và cũng không cần phải giải tán hoặc
nhận toàn phần, có thêm một đoạn nhận xét để làm sáng tỏ một số yếu tố
ảnh hởng không trọng yếu đến BCTC, nhng không ảnh hởng đến BCKT.
Khi nhận thấy rằng giả thiết này bị vi phạm, thì kiểm toán viên sẽ xem
doanh nghiệp có công bố trong BCTC hay không? Nếu doanh nghiệp
không công bố, kiểm toán viên có thể lập báo cáo chấp nhận từng phần hay
báo cáo không chấp nhận. Nghĩa là khi cần thiết thì kiểm toán viên sẽ phải
nêu rõ là giả thiết hoạt động liên tục mà doanh nghiệp sử dụng khi lập
BCTC là không đúng đắn, sự công bố đó sẽ giúp kiểm toán viên hạn chế
trách nhiệm pháp lý của mình.
4. Đánh giá tổng hợp kết quả
Trớc khi lập BCKT, kiểm toán viên càn phải đánh giá tổng quát về các
kết quả thu thập đợc. Công việc này nhằm soát xét lại toàn bộ quá trình kiểm
toán, kết quả thu đợc và cân nhắc các cơ sở để đa ra ý kiến về BCTC. Để đạt đ-
ợc mục đích này, kiểm toán viên thờng tiến hành các thủ tục sau:
áp dụng các thủ tục phân tích để đánh giá tính đồng bộ và xác thực của
thông tin tài chính thu thập đợc nhất là các số liệu kiểm toán của các khoản
mục trên BCTC. Mọi diễn biến bất thờng của các thông tin này so với số
liệu đơn vị, số liệu kế hoạch, số liệu năm trớc, số liệu bình quân trong
ngành, các thông tin tài chính khác, và các thông tin không có tính chất tài
chính đều cần đợc giải thích thấu đáo. Thủ tục này giúp kiểm toán viên xác
định đợc những bộ phận cần phải thu thập thêmbch kiểm toán để làm vững
chắcthêm ý kiến cuả kiểm toán viên. Đồng thời nó hạn chế những thiếu sót,
tính phiến diện của các thủ tục kiểm toán áp dụng cho từng bộ phận riêng
lẻ.
Đánh giá sự đầy đủ của bằng chứng: là công việc của kiểm toán viên
chính để đảm bảo rằng mọi khía cạnh quan trọng của cuộc kiểm toán đã đ-
ợc kiểm tra và đánh giá đầy đủ. Để thực hiện mục tiêu này, kiểm tra lại ch-
19
ơng trình kiểm toán để xem mọi bộ phận của nó đã đợc hoàn tất đúng đắn
và lập hồ sơ kiểm toán đầy đủ không. Kiểm toán viên cũng cần xem xét ch-
20
khoản mục, gọi là sai sót dự kiến. Sai sót dự kiến sẽ đợc đem so sánh
với mức sai sót có thể bỏ qua để quyết định xem có thể chấp nhận
khoản mục đó hay không? Kiểm toán viên cần tổng hợp toàn bộ sai sót
dự kiến của các khoản mục để xem xét chúng có vợt mức trọng yếu của
BCTC hay không, và kết hợp với ảnh hởng của các sai sót cha đợc điều
chỉnh. Nếu sai sót tổng hợp này vợt mức trọng yếu hoặc xấp xỉ mức
trọng yếu, kiểm toán viên không đa ra báo cáo chấp nhận toàn phần.
Trong trờng hợp này, kiểm toán viên sẽ yêu cầu đơn vị điều chỉnh lại
các sai sót cha đợc điều chỉnh, hoặc tiến hành thêm các thủ tục kiểm
toán bổ sung hoặc đa ra báo cáo chấp nhận từng phần về BCTC.
Rà soát lại hồ sơ kiểm toán: Vào giai đoạn hoàn thành kiểm toán, kiểm
toán viên cần phải rà soát lại hồ sơ kiểm toán. Đây là bớc công việc cần
thiết nhằm:
- Đánh giá công việc của kiểm toán viên phụ, vì tuy đây là những ngời
đảm nhiệm một khối lợng công viêc rất lớn trong một cuộc kiểm toán,
đợc đào tạo đầy đủ nhng họ lại thiếu kinh nghiệm, điều này làm hạn chế
khả năng xét đoán nghề nghiệp của họ, nhất là trong những tình huống
phức tạp.
- Bảo đảm sự tuân thủ các chuẩn mực kiểm toán.
- Khắc phục những thiên lệch trong xét đoán của kiểm toán viên trong
những cuộc kiểm toán lớn, kéo dài và cần giải quyết nhiều vấn đề phức
tạp.
Việc rà soát lại hồ sơ kiểm toán thờng đợc tiến hành vào thời điểm kết
thúc giai đoạn thực hiện kiểm toán và thờng đợc tiến hành qua các cấp: kiểm
toán viên chính kiểm tra giấy tờ làm việc của các kiểm toán viên phụ, chủ
nhiệm kiểm toán kiểm tra công việc của kiểm toán viên chính và một số điểm
chính trong hồ sơ kiểm toán của kiểm toán viên phụ, chủ phần hùn - ngời ký
tên trên BCKT - phải kiểm tra toàn bộ hồ sơ kiểm toán lần cuối và thờng tập
trung vào công việc của các chủ nhiệm.
viên cần yêu cầu đơn vị điều chỉnh lại các thông tin này. Nếu đơn vị từ
chối, kiểm toán viên có thể sửa lại BCKT để diễn tả sự thiếu nhất quán này,
hoặc thậm chí rút lui khỏi hợp đồng kiểm toán đó.
22
Kết thúc công việc đánh giá tổng hợp các kết quả kiểm toán, kiểm toán
viên đã có một cái nhìn toàn diện về đơn vị đợc kiểm toán. Việc đánh giá một
cách khoa học trong giai đoạn này sẽ cung cấp cho kiểm toán viên các bằng
chứng kiểm toán thích hợp chuẩn bị cho việc lập và phát hành BCKT. Đây
chính là một trong những căn cứ quan trọng giúp kiểm toán viên đa ra một
BCKT có chất lợng cao. Trong nội dung cuối cùng để hoàn thành cuộc kiểm
toán dới đây, thủ tục Lập BCKT chỉ đề cập đến những căn cứ để lập BCKT
nhằm thấy rõ BCKT của kiểm toán viên đợc lập dựa trên những căn cứ nào, và
liệu các căn cứ đó có xác đáng không? Cách tiếp cận này nhằm mục đích tạo
nên một sự nhất quán, kế thừa có tính liên tục kết quả của các thủ tục đã trình
bày ở trên.
5. Các căn cứ để lập Báo cáo kiểm toán
Căn cứ vào mục đích, yêu cầu của cuộc kiểm toán đã xác định trong kế
hoạch kiểm toán: Đây là căn cứ đầu tiên để kiểm toán viên lập BCKT. Nh
phần trớc đã trình bày, việc xác định một cách cụ thể mục tiêu và phạm vi
cuộc kiểm toán sẽ giúp kiểm toán viên xác định đúng đắn mục đích và yêu
cầu đối với công việc mà mình sẽ thực hiện, hớng các công việc đó tập
trung vào việc tìm kiếm các bằng chứng kiểm toán thích hợp, hỗ trợ cho
việc đa ra kết luận trên các khía cạnh hiệu quả hay hiệu năng của các hoạt
động. Từ đó, nội dung của BCKT sẽ đề cập đến những vấn đề liên quan đến
các khía cạnh trên.
Căn cứ vào thông lệ và chuẩn mực kiểm toán: Đây là yêu cầu có tính
nguyên tắc đối với việc lập BCKT. Kiểm toán viên phải căn cứ vào quy
định của các chuẩn mực nghề nghiệp để lập BCKT. Chuẩn mực kiểm toán
Quốc tế và chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 700 - Báo cáo kiểm toán về
Báo cáo tài chính - quy định các nguyên tắc và thủ tục cơ bản đối với nội
Sau khi kết thúc đánh giá tổng quát kết quả kiểm toán, dựa trên những
bằng chứng kiểm toán thu thập đợc, kiểm toán viên có thể lập BCKT sơ bộ.
Nội dung của BCKT này có thể thay đổi nếu kiểm toán viên xét thấy những
điều chỉnh trên BCTC của đơn vị là quan trọng và nội dung BCKT cần phải
xem xét lại để phù hợp với những thay đổi đó. Khi các bớc công việc trên hoàn
tất, BCKT chính thức đợc phát hành.
24
Trên đây là những lý thuyết cơ bản về quy trình kiểm toán nói chung
cũng nh giai đoạn kết thúc cuộc kiểm toán nói riêng đợc xây dựng trên cơ sở
các ISA và VSA. Từ lý thuyết đó, xem xét và so sánh với thực tiễn sẽ rút ra
những nhận xét và kiến nghị phù hợp với điều kiện thực tế.
Chơng II
Thực trạng về các thủ tục kết thúc kiểm toán
báo cáo tài chính tại công ty kiểm toánViệt
Nam
i. Đặc điểm quy trình kiểm toán của công ty kiểm toán
Việt Nam
1. Giới thiệu vài nét về Công ty kiểm toán Việt Nam.
(Tóm tắt lại báo cáo tổng hợp)
25