Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
–––––––––––––––––––––––
PHẠM QUANG BẢO
CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ
HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC CỦA HỌC SINH
TRƯỜNG VĂN HOÁ I - BỘ CÔNG AN L
L
U
U
Ậ
Ậ
N
NV
OD
D
Ụ
Ụ
C
C
THÁI NGUYÊN, NĂM 2009 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
–––––––––––––––––––––––
N
NT
T
H
H
Ạ
Ạ
C
CS
S
Ĩ
ĨG
G
I
I
Á
Á
O
O
trình học tập và làm luận văn tốt nghiệp.
Xin cảm ơn Ban giám hiệu, cán bộ, giáo viên, công nhân viên và học sinh
trường Văn hoá I - Bộ Công an, cùng bạn bè đã giúp đỡ, động viên, tạo mọi điều
kiện tốt nhất và đóng góp những ý kiến quý báu cho tác giả trong quá trình học tập
và thực hiện luận văn tốt nghiệp.
Luận văn không tránh khỏi những sai sót, kính mong nhận được sự quan tâm
chỉ dẫn của các thầy giáo, cô giáo, các bạn đồng nghiệp để kết quả nghiên cứu được
hoàn chỉnh hơn.
Thái Nguyên, tháng 11 năm 2009
Phạm Quang Bảo Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
ii
MỤC LỤC
Trang
Lời cảm ơn
Mục lục
3.1. Định hướng phát triển và nguyên tắc đề xuất các biện pháp quản lý
50
3.2. Các biện pháp quản lý hoạt động tự học . . . . . . . . . . . . . . . .
51
* Biện pháp 1: Giáo dục động cơ tự học cho học sinh gắn liền với
nội quy kỷ luật của ngành Công an . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
51
* Biện pháp 2: Tập huấn cho giáo viên hướng dẫn học sinh kỹ năng,
phương pháp tự học . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
54
* Biện pháp 3: Tăng cường quản lý đổi mới phương pháp dạy học
trên lớp của giáo viên . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
57
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
iii
* Biện pháp 4: Hoàn thiện các điều kiện cơ sở vật chất, phương tiện
thiết bị, tăng cường quản lý và sử dụng có hiệu quả cho tự học . . 61
* Biện pháp 5: Đổi mới hình thức kiểm tra đánh giá hoạt động tự
học của học sinh. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .... . . 64
* Mối quan hệ giữa các biện pháp . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 67
3.3. Khảo nghiệm các biện pháp quản lý. . . . . . . . . . . . . . . . . .. . . . . . . . 69
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ. . . . . . . . . . ..... . . . . . . . . . . . . . . . . . . 73
TÀI LIỆU THAM KHẢO. . . . . . . . . . . . . . . . . . . ..... . . . . . .. . . . . . . . . . 76
PHỤ LỤC. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . ....... . . . . . . . . . . . . . . 79
GV Giáo viên
GVCN Giáo viên chủ nhiệm
HĐ Hội đồng
KHCN Khoa học công nghệ
KHTN Khoa học tự nhiên
KHXH Khoa học xã hội
KT Khen thưởng
KL Kỷ luật
NXB GD Nhà xuất bản giáo dục
QLHS Quản lý học sinh
SL Số lượng
TB Trung bình
THPT Trung học phổ thông
TN Thanh niên
TĐ Thi đua
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
v
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
Trang
Sơ đồ 1. Các chức năng và thông tin trong quản lý ........................................... 16
Sơ đồ 2. Bộ máy tổ chức của nhà trường .......................................................... 23
Bảng 2.1. Nhận thức của học sinh về vai trò, ý nghĩa của tự học......................... 26
Bảng 2.2. Việc lập kế hoạch và mức độ thực hiện kế hoạch tự học của học sinh ...... 27
nay, cần phải xây dựng lực lượng CAND cách mạng, chính quy, tinh nhuệ và từng
bước hiện đại, xứng đáng là công cụ của Đảng, đảm bảo giữ vững an ninh trật tự
của tổ quốc.
Chất lượng và sức mạnh của lực lượng CAND là tổng hợp của nhiều yếu tố tạo
thành, trong đó phẩm chất và năng lực của cán bộ là vô cùng quan trọng. Phẩm chất
và năng lực của người chiến sĩ Công an được hình thành và phát triển trong quá trình
đào tạo, trong công tác và thực tiễn chiến đấu. Tính độc lập, sáng tạo, năng động,
thích ứng, thận trọng, khôn khéo, chính xác trong tư duy và hành động nghề nghiệp là
phẩm chất, năng lực trực tiếp quyết định đến khả năng hoàn thành nhiệm vụ của
người chiến sĩ Công an. Chúng có mối quan hệ chặt chẽ với năng lực tự học của học
sinh, sinh viên ngay từ trong thời gian đào tạo tại các trường trong ngành.
Là một trường trong lực lượng CAND, trường Văn hoá I được Bộ Công an
giao nhiệm vụ đào tạo hoàn thiện văn hoá THPT, đồng thời hướng nghiệp theo
ngành Công an cho học sinh người dân tộc thiểu số, tạo nguồn cán bộ cho Công an
các tỉnh miền núi biên giới phía Bắc. Công tác đào tạo của trường không chỉ trang
bị cho học sinh kiến thức phổ thông mà còn rèn luyện thói quen lao động trí óc, khả
năng suy nghĩ, phán đoán độc lập, rèn luyện phẩm chất tự giác, tự giáo dục, ý thức
chấp hành nội quy, kỷ luật nghiêm ngặt của ngành theo điều lệnh CAND, xây dựng
thái độ, đạo đức nghề nghiệp, kỹ năng tự hoàn thiện bản thân cho mỗi học sinh.
Như vậy, năng lực tự học của học sinh vừa là yêu cầu, vừa là điều kiện để
nâng cao chất lượng đào tạo. Tự học là hình thức học tập không thể thiếu được của
mọi học sinh đang học tập tại trường. Tổ chức hoạt động tự học một cách hợp lý,
khoa học, có chất lượng, hiệu quả là trách nhiệm của giáo viên, học sinh và toàn bộ
lực lượng giáo dục trong nhà trường.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
2
Nhận thức rõ tầm quan trọng của tự học, trong những năm qua nhà trường
luôn quan tâm đến quản lý hoạt động tự học của học sinh. Tuy nhiên, chất lượng tự
học của học sinh còn hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của xã hội
5.2. Khảo sát thực trạng hoạt động tự học, các biện pháp quản lý hoạt động tự học
của học sinh trường Văn hoá I - Bộ Công an.
5.3. Đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động tự học của học sinh trường Văn hoá I -
Bộ Công an.
6. Phạm vi nghiên cứu
Do khuôn khổ luận văn thạc sĩ, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận
và thực tiễn quá trình quản lý hoạt động tự học của trường Văn hoá I - Bộ Công an
với tư cách là một trường làm nhiệm vụ đào tạo văn hoá THPT trong lực lượng
CAND. Từ đó đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động tự học nhằm nâng cao chất
lượng đào tạo tại trường Văn hoá I - Bộ Công an.
7. Phƣơng pháp nghiên cứu
7.1. Nhóm phƣơng pháp nghiên cứu lý luận
- Phương pháp phân tích, tổng hợp, khái quát hoá, hệ thống hoá các tài liệu và
các văn bản.
- Phương pháp nghiên cứu lịch sử vấn đề, phát hiện và khai thác những khía
cạnh mà các công trình nghiên cứu trước đây chưa đề cập đến, làm cơ sở cho việc
nghiên cứu tiếp theo.
7.2. Nhóm phƣơng pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp quan sát, điều tra bằng ankét về thực trạng hoạt động tự học và
quá trình quản lý hoạt động tự học của học sinh trường Văn hoá I - Bộ Công an.
- Phương pháp xin ý kiến chuyên gia góp ý về cách xử lý kết quả điều tra, các
biện pháp quản lý.
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm trong quản lý hoạt động tự học.
7.3. Nhóm phƣơng pháp xử lý số liệu
Sử dụng phương pháp thống kê toán học để xử lý kết quả điều tra. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
4
CHƢƠNG 1
- Tự học” do Nguyễn Cảnh Toàn chủ biên và các tác giả, “Phát triển tính tích cực,
tính tự lực của học sinh trong quá trình dạy học” của tác giả Nguyễn Ngọc Bảo, “Tổ
chức dạy học cho học sinh dân tộc miền núi” của tác giả Phạm Hồng Quang .v.v.
Thời gian qua, dưới sự hướng dẫn của các thầy, cô giảng viên các trường đại
học sư phạm, trường cán bộ quản lý giáo dục nhiều luận văn thạc sĩ nghiên cứu về
vấn đề tự học đã hoàn thành như: "Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng tự
học của sinh viên Học viện Quân Y" của tác giả Quản Thành Minh,“Một số biện
pháp quản lý hoạt động tự học của học sinh THPT nội trú Đồ Sơn” của tác giả
Trịnh Khắc Hậu .v.v
Như vậy, vấn đề tự học của học sinh, sinh viên đã được nhiều nhà khoa học,
nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu ở những khía cạnh khác nhau. Trong các công
trình nghiên cứu, các tác giả đã chỉ rõ vai trò, tầm quan trọng của hoạt động tự học,
biện pháp sư phạm của người thầy nhằm hướng dẫn cho người học phương pháp tự
học, hình thành ở người học kỹ năng tự học. Đồng thời cũng đề ra một số biện pháp
tổ chức, quản lý hoạt động tự học của học sinh, sinh viên.
Tuy nhiên, về phương diện quản lý hoạt động tự học của học sinh, sinh viên
trong lực lượng Công an thì hiện nay chưa có tác giả nào đề cập đến. Do đó đề tài
tập trung nghiên cứu sâu về cơ sở lý luận của hoạt động tự học, thực trạng các biện
pháp quản lý hoạt động tự học, trên cơ sở đó đề xuất các biện pháp quản lý nâng
cao chất lượng tự học của học sinh trường Văn hoá I - Bộ Công an.
1.2. Những vấn đề lý luận về tự học
1.2.1. Khái niệm tự học
Có rất nhiều công trình nghiên cứu về tự học, các tác giả đưa ra những khái
niệm khác nhau về tự học:
"Tự học là quá trình lĩnh hội tri thức, kinh nghiệm xã hội lịch sử trong thực
tiễn hoạt động cá nhân bằng cách thiết lập các mối quan hệ cải tiến kinh nghiệm ban
đầu, đối chiếu với các mô hình phản ánh hoàn cảnh thực tại, biến tri thức của loài
người thành vốn tri thức, kinh nghiệm, kỹ năng, kỹ xảo của bản thân chủ thể". [35]
"Tự học là công việc tự giác của mỗi người do nhận thức được đúng đắn vai
trò quyết định của nó đến sự tích lũy kiến thức cho bản thân, cho chất lượng công
các lực lượng giáo dục trong nhà trường.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
7
- Tự học độc lập nhằm thoả mãn nhu cầu hiểu biết riêng, mở rộng tri thức ở
bên ngoài. Đây là dạng tự học ở mức độ cao nhất, đòi hỏi tính tự giác cao của người
học nên biện pháp quản lý tốt nhất là quản lý nhiệm vụ học tập hay sản phẩm người
học hoàn thành.
Như vậy, phạm vi của tự học là rất rộng, đề tài không nghiên cứu các biện
pháp quản lý dạng hoạt động tự học độc lập của học sinh mà chỉ tập trung nghiên
cứu các biện pháp quản lý hoạt động tự học của học sinh trong và ngoài thời gian
lên lớp, dưới sự tổ chức của nhà trường thông qua sự điều khiển trực tiếp hay gián
tiếp của giáo viên.
1.2.2. Đặc điểm hoạt động học tập của học sinh dân tộc thiểu số
Qua nghiên cứu tài liệu của tác giả Phạm Hồng Quang và một số tác giả khác,
chúng tôi rút ra một số đặc điểm tâm lý và hoạt động tự học của học sinh dân tộc
nội trú như sau:
* Đặc điểm tâm lý trong học tập
Đặc điểm về nhận thức
Nhìn chung, các nét tâm lý như ý chí rèn luyện, óc quan sát, trí nhớ, tính kiên
trì .v.v. của học sinh chưa được chuẩn bị chu đáo. Quá trình chuyển hoá nhiệm vụ,
yêu cầu học tập cũng như cơ chế hình thành ở bản thân học sinh diễn ra chậm. Tuy
nhiên, bên cạnh đó nhận thức cảm tính của học sinh phát triển khá tốt: cảm giác, tri
giác của các em có những nét độc đáo, tuy còn thiếu tính hoàn thiện, cảm tính, mơ
hồ, không thấy được bản chất của sự vật hiện tượng. Quá trình tri giác thường gắn
với hành động trực tiếp, đối tượng tri giác chủ yếu là sự vật gần gũi.
Khả năng tư duy kinh nghiệm của học sinh đạt mức cao so với trình độ chung của
lứa tuổi, song khả năng tư duy lý luận còn thấp so với yêu cầu; trình độ các thao tác tư
duy, khả năng phân tích, tổng hợp, khái quát nhiều khi thiếu toàn diện, hệ thống. Tri
thức, thói quen được hình thành bằng con đường kinh nghiệm ảnh hưởng đến quá trình
của ngành là một trong những nhu cầu thiết yếu để giáo dục học sinh, đặc biệt là về
ý thức tập thể và kỷ luật học tập. Vấn đề là tổ chức học tập làm sao cho hiệu quả,
phù hợp với đặc điểm nhận thức, hứng thú của học sinh. Tuy nhiên, việc hình thành
và phát triển nhu cầu cho học sinh cần gắn liền với cải tiến nội dung, phương pháp,
hình thức tổ chức học tập thích hợp, để nâng cao kết quả học tập.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
9
Đặc điểm giao tiếp
Học sinh dân tộc thiểu số chịu ảnh hưởng mạnh của giao tiếp cộng đồng.
Trong quá trình học tập tại trường, không gian nội trú là môi trường giao tiếp sư
phạm mới, có ý nghĩa lớn đối với các em. Khi được giao tiếp trong môi trường mới
đa dạng, phong phú về các hình thức tổ chức học tập, thời gian tiếp xúc của học
sinh với các lực lượng giáo dục trong nhà trường nhiều hơn so với các môi trường
khác. Tuy nhiên, tính tích cực trong giao tiếp của học sinh chưa cao, khả năng giao
tiếp, nhận thức và nhu cầu còn có mâu thuẫn.
Từ những đặc điểm trên, đòi hỏi hình thức tổ chức tự học cũng như quản lý hoạt
động tự học của học sinh phải đổi mới cho phù hợp với nhu cầu đúng đắn của học sinh.
* Đặc điểm hoạt động tự học của học sinh dân tộc nội trú
Trong môi trường nội trú, thời gian dành cho học tập và sinh hoạt ngoài giờ
chính khoá chiếm phần lớn thời gian đào tạo. Trong các dạng hoạt động giáo dục
ngoài giờ chính khoá như vui chơi, văn hoá văn nghệ, thể thao, sinh hoạt câu lạc bộ,
tham quan, học tập ngoại khoá thì hoạt động tự học nhằm củng cố, bổ sung, nâng
cao, mở rộng kiến thức đã học, phát triển hứng thú học tập, rèn luyện kỹ năng tự
học cho học sinh. Như vậy, môi trường tự học hoàn toàn thuận lợi dưới sự quản lý,
tổ chức điều khiển thống nhất ở các địa điểm nhất định.
Hình thức tự học trong môi trường nội trú đa dạng, phong phú, học sinh có thể
tự học một mình, học trao đổi nhóm với bạn hay với giáo viên, học có giáo viên
hướng dẫn chung và riêng; thời gian dành cho tự học trong ngày nhiều, được phân
chia theo thời gian cụ thể. Đối với học sinh trường Văn hoá I, thời gian học tập
yếu tố ảnh hưởng lớn tới năng lực và hiệu quả tự học của học sinh.
- Các điều kiện cơ sở vật chất như ký túc xá, phòng học, thư viện, hệ thống
mạng Internet, phương tiện thiết bị, sách giáo khoa và các tài liệu tham khảo .v.v.
phục vụ cho dạy học.
- Thời gian dành cho tự học: Hoạt động tự học đòi hỏi phải có quỹ thời gian
phù hợp, nên học sinh phải bố trí kế hoạch thật khoa học để đảm bảo quá trình tự
học đạt hiệu quả.
- Tổ chức quản lý học sinh tự học: Hoạt động tự học là hoạt động mang tính tự
giác, độc lập cao nhưng không thể tách rời công tác tổ chức quản lý để học sinh
nâng cao tính tích cực, tự giác học tập.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
11
- Sự tác động của gia đình như sự quan tâm của bố mẹ, truyền thống học tập
của gia đình .v.v.
* Yếu tố chủ quan là các yếu tố bên trong quyết định trực tiếp đến kết quả của
hoạt động tự học. Trong quá trình tự học, yếu tố nội lực của cá nhân người học là
yếu tố cơ bản nhất quyết định chất lượng và hiệu quả của hoạt động tự học. Sự trợ
giúp của yếu tố ngoại lực chỉ có tác dụng hỗ trợ, kích thích các yếu tố nội lực phát
triển. Nội lực của học sinh bao gồm:
- Những yếu tố với tư cách là thành phần cấu trúc của hoạt động tự học đó là
nhận thức về tự học, động cơ tự học, thái độ tự học, kỹ năng tự học.
- Yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động tự học với tư cách là tiềm năng tự học của
học sinh như yếu tố bẩm sinh, di truyền và một số kỹ năng tự học.
- Yếu tố sức khoẻ cá nhân: Hoạt động tự học là hoạt động căng thẳng, mất
nhiều năng lượng thần kinh. Do vậy, đòi hỏi học sinh phải có sức khoẻ tốt thì mới
đảm bảo cho hoạt động tự học đạt hiệu quả.
Tóm lại: Có nhiều yếu tố chi phối đến hoạt động tự học, trong đó các yếu tố
chủ quan đóng vai trò cốt lõi, các yếu tố khách quan đóng vai trò chi phối. Nắm
được các yếu tố chi phối hoạt động tự học sẽ giúp quản lý tốt hoạt động tự học của
trong quá trình dạy học mà giáo viên đóng vai trò chủ đạo, kích thích, động viên,
dẫn đường cho học sinh học tập có hiệu quả và đúng cách. Thông qua tự học giúp
học sinh nắm vững tri thức, kỹ năng, kỹ xảo và nghề nghiệp trong tương lai; giúp
học sinh không ngừng nâng cao chất lượng và hiệu quả học tập khi còn học trong
trường, đồng thời giúp học sinh rèn luyện nhân cách, hình thành nền nếp làm việc
khoa học, rèn luyện ý chí phấn đấu, đức kiên trì, óc phê phán và hứng thú học tập;
không ngừng làm phong phú, hoàn thiện thêm vốn hiểu biết của mình, giúp họ tránh
được lạc hậu trước sự “bùng nổ thông tin” trong thời đại hiện nay.
Tự học đối với học sinh trường Văn hoá I còn có ý nghĩa vô cùng quan trọng
nhằm giúp các em rèn luyện thói quen lao động trí óc, khả năng suy nghĩ, phán đoán
độc lập, rèn luyện phẩm chất tự giác, tự giáo dục, ý thức chấp hành nội quy, kỷ luật
của ngành Công an, xây dựng thái độ, đạo đức nghề nghiệp, kỹ năng tự hoàn thiện
bản thân để có thể vận dụng linh hoạt trong thực tiễn chiến đấu sau này.
Từ những phân tích trên có thể thấy tự học đóng vai trò quyết định đến sự hình
thành và phát triển nhân cách của học sinh, bởi nhân cách người học sinh chính là
phẩm chất và năng lực được hình thành và phát triển trong quá trình đào tạo tại nhà
trường phổ thông.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
13
1.3. Những vấn đề lý luận về quản lý hoạt động tự học của học sinh
1.3.1. Một số khái niệm cơ bản về quản lý và bản chất quản lý
* Khái niệm về quản lý
Quản lý là hoạt động đặc biệt, là yếu tố không thể thiếu được trong đời sống xã
hội, gắn liền với quá trình phát triển, đặc biệt trong xã hội phát triển như hiện nay
thì quản lý có vai trò rất lớn. Có nhiều cách tiếp cận quản lý khác nhau, ở mỗi cách
tiếp cận, có những cách định nghĩa khác nhau:
“Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo sự phối hợp những nỗ lực cá
nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm. Mục tiêu của mọi nhà quản lý là nhằm
hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của
nguyên lý giáo dục của Đảng. Thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội
chủ nghĩa, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ
thống giáo dục đến mục tiêu dự kiến tiến lên trạng thái mới về chất". [33, tr.35]
Từ những khái niệm khác nhau về quản lý giáo dục ta có thể khái quát: quản lý
giáo dục là quá trình tác động có định hướng của nhà quản lý giáo dục trong việc
vận dụng nguyên lý, phương pháp chung nhất của khoa học nhằm đạt được những
mục tiêu đề ra.
Dựa vào phạm vi quản lý, người ta chia quản lý giáo dục thành hai loại:
- Quản lý hệ thống giáo dục: Quản lý giáo dục được diễn ra ở tầm vĩ mô, trong
phạm vi toàn quốc, trên địa bàn lãnh thổ địa phương (tỉnh, thành phố).
- Quản lý nhà trường: Quản lý giáo dục ở tầm vi mô trong một đơn vị, một cơ
sở giáo dục.
* Khái niệm quản lý nhà trƣờng
Nhà trường vừa là khách thể chính của mọi cấp quản lý từ Trung ương đến địa
phương, vừa là một hệ thống độc lập trong xã hội. Chất lượng của giáo dục và đào
tạo chủ yếu do các nhà trường chịu trách nhiệm. Vì vậy, khi nói đến quản lý giáo
dục phải nghĩ đến quản lý nhà trường cũng như hệ thống các nhà trường. Các nhà
nghiên cứu về quản lý đã đưa ra một số khái niệm về quản lý nhà trường như sau:
“Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi
trách nhiệm của mình tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để
tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và
với từng học sinh". [21, tr.61]
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
15
“Việc quản lý nhà trường phổ thông là quản lý hoạt động dạy và học tức là làm
sao đưa hoạt động đó từ trạng thái này sang trạng thái khác để dần dần tiến tới mục
tiêu giáo dục". [33, tr.71]
Như vậy, quản lý nhà trường là một chuỗi hoạt động quản lý mang tính tổ
chức sư phạm của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên và học sinh, đến các lực
Kiểm tra Thông tin Tổ chức Chỉ đạo
1.3.2. Quản lý hoạt động dạy học
Quản lý quá trình dạy học là quản lý hệ thống bao gồm các nhân tố: mục đích, nội
dung, phương pháp, phương tiện, hoạt động dạy của thầy, hoạt động học của trò .v.v.
Các nhân tố cấu trúc này có mối quan hệ mật thiết với nhau, tác động lẫn nhau
nhằm tạo ra chất lượng, hiệu quả của quá trình dạy học. Trong các nhân tố trên, hoạt
động dạy của thầy và hoạt động học của trò là nhân tố trung tâm của quá trình dạy
học bởi các hoạt động khác của nhà trường đều hướng vào hai hoạt động trọng tâm
này. Do vậy, trọng tâm của quản lý nhà trường chính là quản lý quá trình dạy học và
giáo dục, đó chính là quản lý quá trình lao động sư phạm của người thầy và hoạt
động học tập, rèn luyện của người trò diễn ra chủ yếu trong quá trình dạy học.
Quá trình dạy học là một quá trình thống nhất, theo tác giả Đặng Quốc Bảo:
10 yếu tố hạt nhân hình thành và phát triển quá trình đào tạo thì mối quan hệ
giữa dạy và học có tác động qua lại lẫn nhau, thầy dạy là truyền thụ kiến thức
(sản phẩm có sẵn) và tổ chức điều khiển các hoạt động nhận thức của học sinh
nhằm hình thành cho học sinh năng lực, phương pháp và ý chí học tập. Người
học khai phá kiến thức, tự đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao trình độ nhận thức và
nắm chắc kiến thức. Người thầy phải giữ vai trò quyết định trong quá trình nhận
thức của học sinh với tư cách là người tổ chức và kiểm tra, chất lượng dạy học sẽ
đạt hiệu quả cao khi hoạt động dạy của người thầy và hoạt động học của người
trò có sự cộng hưởng lẫn nhau.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
17
Quá trình dạy học là sự phối hợp thống nhất và biện chứng của yếu tố ngoại
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
18
Nội dung quản lý hoạt động tự học của học sinh bao gồm nhiều hoạt động
như: quản lý việc bồi dưỡng động cơ tự học; xây dựng và thực hiện kế hoạch tự
học; xây dựng nội dung tự học; bồi dưỡng phương pháp tự học; xây dựng kế hoạch
kiểm tra đánh giá kết quả tự học; các điều kiện đảm bảo cho hoạt động tự học.
* Quản lý việc bồi dưỡng động cơ tự học
Mọi hoạt động của con người đều có mục đích, được thúc đẩy bởi động cơ,
động cơ hoạt động là lực đẩy giúp chủ thể vượt khó khăn để đạt được mục đích đã
định. Hoạt động tự học của học sinh THPT phải được xây dựng bởi động cơ tự học,
mà động cơ tự học lại được hình thành từ nhu cầu bản chất của vấn đề giáo dục,
trong đó hình thành nhu cầu, động cơ tự học cho học sinh là yếu tố quyết định.
* Quản lý việc xây dựng và thực hiện kế hoạch tự học
Kế hoạch tự học là bảng phân chia nội dung tự học theo thời gian một cách
hợp lý dựa trên yêu cầu, nhiệm vụ tự học, khả năng của bản thân và các điều kiện
được đảm bảo nhằm hướng tới việc nắm vững kiến thức của từng môn học. Có kế
hoạch tự học, người học sẽ thực hiện nhiệm vụ học tập một cách khoa học, năng
động, sáng tạo và hiệu quả hơn.
* Quản lý việc xây dựng nội dung tự học
Nội dung tự học là hệ thống kiến thức học tập có tính bắt buộc phải hoàn
thành và hệ thống kiến thức tự đào sâu, mở rộng các vấn đề, nội dung học tập mà
thầy cô giảng trên lớp.
* Quản lý việc bồi dưỡng phương pháp tự học
Tự học phải được xác định bắt đầu từ mục đích, động cơ học tập đúng đắn,
qua đó hình thành cách học, biện pháp học, kỹ thuật học .v.v. mà có thể gọi là kỹ
năng tự học. Do vậy, người học cần phải được hướng dẫn, bồi dưỡng và rèn luyện
kỹ năng tự học ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường phổ thông, từ đó mới có
thể xây dựng được phương pháp tự học. Xây dựng phương pháp tự học của bản thân
theo một kế hoạch hợp lý, là điều kiện đảm bảo giúp cho người học đạt hiệu quả
học tập cao hơn. Mỗi học sinh cần phải xác định và chọn cho mình phương pháp tự