ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
PHẠM THỊ HOÀI
NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG RỪNG TRỒNG SẢN XUẤT
CỦA HUYỆN ĐỊNH HOÁ THÁI NGUYÊN VÀ ĐỀ XUẤT
CÁC GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP Thái Nguyên, 2008
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu,
kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa có ai công bố trong một
công trình nào khác. Tác giả Phạm Thị Hoài
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
ii
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành chương trình đào tạo cao học chuyên ngành lâm học tại
trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, nhằm vận dụng kiến thức đã được học
vào thực tiễn sản xuất, được sự nhất trí của trường Đại học Nông Lâm, khoa Sau
đại học, tôi thực hiện đề tài:
“Nghiên cứu thực trạng rừng trồng sản xuất của huyện Định Hoá – Thái
Nguyên và đề xuất các giải pháp phát triển”
Sau thời gian thực tập hết sức khẩn trương và nghiêm túc, với sự cố gắng
của bản thân và sự hướng dẫn chỉ bảo tận tình của TS. Nguyễn Huy Sơn, các
thầy cô giáo trong khoa Lâm nghiệp, đến nay luận văn đã hoàn thành.
Nhân dịp này tác giả xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, khoa Sau đại
học, các thầy cô giáo trong khoa Lâm nghiệp đã giúp đỡ trong quá trình học tập.
Tác giả xin đặc biệt cảm ơn: TS. Nguyễn Huy Sơn đã giành nhiều thời gian quý
báu tận tình hướng dẫn chỉ bảo những kiến thức về chuyên môn thiết thực và
giúp đỡ tác giả trong quá trình thực tập và hoàn thành luận văn
1.1.4. Nghiên cứu ảnh hưởng của bón phân đến sinh trưởng và năng
suất rừng trồng
5
1.1.5. Nghiên cứu về chính sách, thị trường 5
1.2. Ở Việt Nam 7
1.2.1. Nghiên cứu về lập địa 8
1.2.2. Nghiên cứu về giống 9
1.2.3. Nghiên cứu ảnh hưởng của biện pháp làm đất 10
1.2.4. Nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón đến năng suất rừng
trồng
11
1.2.5. Nghiên ảnh hưởng của mật độ đến năng suất rừng trồng 13
1.2.6. Nghiên cứu về chính sách, kinh tế và thị trường 15
1.3. Đánh giá chung 16
Chƣơng 2. ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, KINH TẾ, XÃ HỘI
HUYỆN ĐỊNH HOÁ
18
2.1. Điều kiện tự nhiên 18
2.1.1. Vị trí địa lý 18
2.1.2. Khí hậu, thuỷ văn 18
2.1.3. Đặc điểm địa hình 19
2.1.4. Tài nguyên đất đai 19
2.1.5. Hiện trạng đất đai và tài nguyên Rừng 21
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
iv
2.2. Điều kiện kinh tế-xã hội 22
2.2.1. Dân số và lao động 22
2.2.2. Cơ cấu tổ chức ngành Lâm nghiệp của huyện Định Hóa 23
2.2.3. Giao thông và cơ sở hạ tầng 23
2.2.4. Văn hóa – giáo dục 24
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
v
4.1.2. Nguồn vốn, mục tiêu và cơ cấu cây trồng rừng sản xuất ở
Huyện Định Hóa
36
4.1.3. Diện tích rừng trồng và rừng sản xuất ở huyện Đinh Hóa 39
4.2. Tổng kết đánh giá các mô hình trồng rừng sản xuất trong huyện 43
4.2.1. Loài cây 43
4.2.2. Các biện pháp kỹ thuật đã áp dụng trong các mô hình 45
4.2.3. Tình hình sinh trưởng và năng suất của các mô hình điển hình 48
4.2.4. Đánh giá hiệu quả kinh tế-xã hội và môi trường của các mô
hình điển hình.
49
4.2.4.1. Đánh giá hiệu quả kinh tế 49
4.2.4.2. Đánh giá về hiệu quả xã hội 54
4.2.4.3. Đánh gía hiệu quả môi trường 55
4.2.4.4. Đánh giá hiệu quả tổng hợp 56
4.3. Tình hình chế biến sử dụng gỗ và thị trường tiêu thụ sản phẩm. 57
4.3.1. Tình hình chế biến sử dụng gỗ 56
4.3.2. Thị trường lâm sản rừng trồng huyện Định Hoá-Thái Nguyên 59
4.4. Đánh giá ảnh hưởng của các chính sách và thị trường tới phát
triển rừng trồng sản xuất tại huyện Định Hoá
60
4.4.1. Ảnh hưởng của các chính sách tới phát triển rừng trồng sản
xuất ở huyện Định Hóa
60
4.4.2. Đánh giá ảnh hưởng của thị trường lâm sản đến phát triển rừng
trồng sản xuất huyện Định Hoá-Thái Nguyên
81
4.5. Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển trồng RSX ở huyện
D Đường kính trung bình
OTC Ô tiêu chuẩn
∆D Tăng trưởng bình quân hàng năm về đường kính
∆H Tăng trưởng bình quân hàng năm về chiều cao
FAO Tổ chức Nông lương quốc tế
NN&PTNT Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
NPV Giá trị lợi nhuận ròng
BCR Tỷ suất thu nhập và chi phí
IRR Tỷ lệ thu hồi vốn nội bộ
Ect Hiệu quả tổng hợp của các mô hình
RSX Rừng sản xuất
TBKT Tiến bộ kỹ thuật
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
viii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng Nội dung Trang
2.1 Nhân khẩu và lao động của huyện Định Hóa năm 2006 23
3.1 Thang điểm độ dốc và thành phần cơ giới đất 30
3.2 Thang điểm, độ tàn che và độ che phủ của rừng trồng 30
3.3 Tổng hợp điểm cấp phòng hộ rừng trồng 31
4.1 Nguồn vốn đầu tư trồng rừng sản xuất ở huyện Định Hóa 37
4.2 Cơ cấu cây trồng và sản phẩm trồng rừng sản xuất 38
4.3 Tổng hợp diện tích và độ che phủ rừng theo huyện ở Tỉnh
Thái Nguyên
39
4.4 Diện tích rừng và đất lâm nghiệp Huyện Định Hóa 40
4.5 Diện tích rừng và đất lâm nghiệp huyện phân theo chức năng 41
4.6 Diện tích đất rừng huyện Định Hóa chia theo xã 42
4.7 Danh mục các loài cây được đưa vào trồng rừng ở Định Hóa 44
RSX
80
4.23 Phân loại nguyên liệu, sản phẩm gắn với thị trường 82
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
x
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
Sơ đồ Nội dung Trang
3.1 Trình tự các bước nghiên cứu đề tài 29
4.1 Các kênh tiêu thụ sản phẩm rừng trồng sản xuất huyện Định Hoá-
Thái Nguyên
83 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Ở Việt Nam, năm 1945 diện tích rừng có tới 14,4 triệu ha, độ che phủ của
rừng chiếm 43%, năm 1995 chỉ còn 9,3ha chiếm 28,2%. Trung bình từ năm
1945-1995 mỗi năm nước ta mất đi hơn 100.000ha. Theo thống kê của bộ
NN&PTNT tính đến ngày 31/12/2007 diện tích rừng nước ta đã tăng lên gần
12,84 triệu ha, độ che phủ của rừng chiếm khoảng 38,2% [1]. Tuy diện tích và
độ che phủ của rừng đã tăng lên đáng kể nhưng chất lượng rừng rất thấp. Tính
đến ngày 31/12/2007 diện tích rừng trồng của cả nước cũng chỉ có hơn 2,5 triệu
ha, dù có được thâm canh tăng năng suất nhưng cũng không đáp ứng được nhu
cầu của sản xuất hiện nay. Theo dự báo của ngành giấy đến năm 2010 nhu cầu
sử dụng giấy trong nước là 1.286.000tấn/năm và đến năm 2020 là 3.420.000
tấn/năm, mục tiêu xuất khẩu bột giấy đến năm 2010 là 760.000tấn/năm. Vì vậy,
phần vào phát triển chung của nền kinh tế quốc dân thì công tác trồng rừng sản
xuất là một vấn đề rất cần thiết và cấp bách. Chính vì vậy, mỗi địa phương cần
phải rà soát, đánh giá thực trạng rừng trồng sản xuất tại địa phương của mình
làm cơ sở đề xuất các giải pháp phát triển nhằm nâng cao năng suất và chất
lượng gỗ rừng trồng.
Định Hoá là một huyện miền núi của tỉnh Thái Nguyên, nơi có nhiều diện
tích rừng trồng sản xuất được xây dựng trong thời gian qua. Theo số liệu thống
kê của tỉnh từ đầu năm 2007 toàn huyện Định Hoá có 24.791,9ha đất có rừng.
Trong đó, rừng tự nhiên là 17.150,1ha, rừng trồng là 7.641,8ha. Ngoài ra, huyện
còn có 6.496,1ha đất chưa có rừng. Tại đây các mô hình trồng rừng sản xuất
cũng đã hình thành và khá đa dạng, trong đó đặc biệt chú trọng đến các mô hình
dự án 661, xây dựng với nhiều quan điểm mới, thu hút được nhiều đối tượng
tham gia vào công tác phát triển rừng góp phần xoá đói giảm nghèo, giải quyết
các vấn đề xã hội của huyện. Tuy nhiên, cho đến nay chưa có một công trình
đánh giá một cách toàn diện và có hệ thống về rừng trồng sản xuất tại huyện
Định Hoá. Việc đánh giá kết quả trồng rừng sản xuất nhằm rút ra được các bài
học kinh nghiệm và mô hình có triển vọng là rất cần thiết. Đây chính là lý do
thực hiện đề tài “Nghiên cứu thực trạng rừng trồng sản xuất tại huyện Định
Hoá Thái Nguyên và đề xuất các giải pháp phát triển”. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
3
Chƣơng 1
nhau thì năng suất rừng trồng cũng khác nhau rõ rệt.
Khi nghiên cứu về sản lượng rừng trồng Bạch đàn ở Brazil, Golcalves
J.L.M và cộng sự (2004) [51] cho rằng năng suất rừng trồng là sự “kết hôn”
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
4
thích hợp giữa kiểu gen với điều kiện lập địa và kỹ thuật canh tác. Ngoài ra, tác
giả còn chỉ cho thấy giới hạn của sản lượng rừng có liên quan đến các yếu tố
môi trường theo thứ tự mức độ quan trọng sau đây: nước > dinh dưỡng > độ sâu
tầng đất.
Thông qua một số công trình nghiên cứu trên cho thấy việc xác định điều
kiện lập địa phù hợp với từng loài cây trồng là rất cần thiết, đó là một trong
những yếu tố quan trọng quyết định năng suất và chất lượng rừng trồng.
1.1.2. Những nghiên cứu về giống
Giống là một vấn đề quan trọng bậc nhất để nâng cao năng suất rừng
trồng nên nhiều nước trên thế giới đã đi trước chúng ta nhiều năm về vấn đề cải
thiện giống cây rừng và đã đạt được những thành tựu đáng kể. Điển hình như ở
Công Gô, bằng phương pháp lai nhân tạo đã tạo ra giống Bạch đàn lai
(Eucalyptus hybrids) có năng suất đạt 35m
3
/ha/năm ở giai đoạn tuổi 7. Bằng con
đường chọn lọc nhân tạo, Brazil đã chọn được giống Eucalyptus grandis đạt tới
55m
3
/ha/năm sau 7 năm trồng, ở Swaziland cũng đã chọn đựơc giống Pinus
patala sau 15 năm tuổi đạt 19m
3
/ha/năm (Pandey, 1983) [58]. Ở Zimbabwe
cũng đã chọn được giống E. grandis đạt từ 35-40m
3
rừng trồng.
Bón phân cho cây trồng là một trong những biện pháp kỹ thuật thâm canh
nhằm nâng cao năng suất chất lượng rừng trồng đã được nhiều nhà khoa học
trên thế giới quan tâm, điển hình như công trình nghiên cứu của Mello (1976)
[56] ở Brazil cho thấy Bạch đàn (Eucalyptus) sinh trưởng khá tốt ở công thức
không bón phân, nếu bón NPK thì năng suất rừng trồng có thể tăng lên trên
50%. Trong một công trình nghiên cứu khác ở South Africa của Schonau
(1985)[59] về vấn đề phân bón cho bạch đàn Eucalyptus grandis đã cho thấy
công thức bón 150gNPK/gốc với tỷ lệ N :P :K= 3 :2 :1 có thể nâng chiều cao
trung bình của rừng trồng lên gấp 2 lần sau năm thứ nhất.
Đối với Thông P. caribeae ở Colombia, Bolstad và cộng sự (1988)[45]
cũng đã tìm thấy một vài loại phân có phản ứng tích cực mang lại hiệu quả rõ rệt
cho rừng trồng như Potassium, Phosphate, Boron và Magnesium. Khi nghiên
cứu phân bón cho rừng Thông P.caribeae ở CuBa, Herrero và cộng sự (1988)
[52] cũng cho thấy bón Phosphate đã nâng sản lượng từ 56m
3
lên 69m
3
/ha sau
13 năm trồng.
1.1.5. Nghiên cứu về chính sách và thị trường
Hiệu quả của công tác trồng rừng sản xuất trong đó hiệu quả về kinh tế là
chủ yếu. Sản phẩm rừng trồng phải có được thị trường, phục vụ được cả mục
tiêu trước mắt cũng như lâu dài. Đồng thời phương thức canh tác phải phù hợp
với kiến thức bản địa và dễ áp dụng với người dân. Theo nghiên cứu của
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
6
Thomas Enters và Patrick B. Durst (2004) [60], để phát triển trồng rừng sản xuất
đạt hiệu quả kinh tế cao, ngoài sự tập trung đầu tư về kinh tế và kỹ thuật còn
quan trọng, khuyến khích người dân tham gia trồng rừng tại các quốc gia Đông
Nam Á chính là:
- Quy định rõ ràng về quyền sử dụng đất.
- Quy định rõ đối tượng hưởng lợi từ trồng rừng.
- Nâng cao hiểu biết và nắm bắt kỹ thuật của người dân.
Đây cũng là những vấn đề mà các nước trong khu vực, trong đó có Việt
Nam đã và đang quan tâm giải quyết để thu hút nhiều thành phần tham gia trồng
rừng sản xuất, đặc biệt là khơi thông nguồn vốn tư nhân, vốn đầu tư trực tiếp từ
nước ngoài cho trồng rừng. Vì vậy, quan điểm chung để phát triển trồng rừng
sản xuất có hiệu quả kinh tế cao là trồng rừng cung cấp nguyên liệu cho công
nghiệp chế biến và xuất khẩu với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế và đa
dạng hoá các hình thức sở hữu trong mỗi loại hình tổ chức kinh doanh sản xuất
rừng trồng.
Tóm lại : Điểm qua những vấn đề nghiên cứu trên thế giới có liên quan cho thấy
có rất nhiều công trình nghiên cứu khá sâu và công phu. Tuy các công trình
nghiên cứu ở các nước trên thế giới đã giải quyết khá đầy đủ các vấn đề có liên
quan, nhưng hầu hết các công trình được nghiên cứu trong những hoàn cảnh
sinh thái và các điều kiện kinh tế kỹ thuật hết sức khác nhau nên không thể ứng
dụng một cách máy móc vào điều kiện cụ thể của nước ta nói chung cũng như ở
Định Hoá nói riêng.
1.2. Ở Việt Nam
Ngành lâm nghiệp nước ta đã có những đổi mới đáng kể trong những năm
qua. Cùng với những đổi mới về công tác quản lý, các hoạt động nghiên cứu
khoa học về xây dựng và phát triển rừng cũng được quan tâm. Các chương trình
dự án trồng rừng với quy mô lớn được thực hiện trên khắp cả nước với nhiều mô
hình rừng trồng sản xuất được thử nghiệm và phát triển, nhiều biện pháp kỹ
thuật đã được đúc rút và xây dựng quy trình, quy phạm phục vụ đắc lực cho
công tác trồng rừng, trong đó có trồng rừng sản xuất. Có thể kể đến một số công
trình nghiên cứu, đánh giá liên quan tới trồng rừng ở nước ta thuộc các lĩnh vực
sau đây:
xám granis ở An Khê và K’Bang rừng trồng E urophylla sau 4-5 năm tuổi có
thể đạt từ 20-24m
3
/ha/năm, nhưng trên đất nâu đỏ phát triển trên đá macma acid
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
9
ở Mang Yang sau 6 năm tuổi chỉ đạt 12m
3
/ha/năm, trên đất đỏ bazal thoái hoá ở
Pleiku sau 4 năm tuổi cũng chỉ đạt 11m
3
/ha/năm.
Như vậy, xác định điều kiện lập địa thích hợp cho trồng rừng nói chung
là một trong những biện pháp kỹ thuật quan trọng để nâng cao năng suất rừng
trồng.
1.2.2. Nghiên cứu về giống
Công tác giống cây rừng trong những năm gần đây phục vụ cho sản xuất
trên phạm vi cả nước đã đạt được những kết quả rõ rệt, điển hình là những công
trình trong nghiên cứu của Trung Tâm Nghiên cứu giống cây rừng thuộc Viện
Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam, Đặc biệt là những công trình nghiên cứu của
các tác giả Lê Đình Khả (1999) [14], Nguyễn Hoàng Nghĩa (2001) [19] đã
nghiên cứu tuyển chọn các dòng Keo lai tự nhiên, Bạch đàn có năng suất cao và
khả năng kháng bệnh. Hơn nữa, đã lai giống nhân tạo thành công cho các loài
Keo và Bạch đàn, kết quả đã chọn tạo ra các dòng lai có khả năng sinh trưởng
gấp từ 1.5-2.5 lần các giống bố mẹ, năng xuất rừng trồng thử nghiệm ở một số
vùng đạt từ 20-30m
3
/ha/năm, có nơi đạt tới 40m
3
chọn phục vụ sản xuất có hiệu quả hơn.
Hiện nay hầu hết các vùng kinh tế trọng điểm đều có vườn ươm công
nghiệp với quy mô sản xuất hàng triệu cây một năm. Những thành công trong
công tác nghiên cứu giống cây rừng đã tạo những điều kiện thuận lợi cho việc
phát triển rừng trồng sản xuất ở nước ta trong những năm qua. Tuy nhiên, những
giống cây mới có năng suất cao chủ yếu được thử nghiệm và phát triển chủ yếu
ở một số tỉnh của các vùng như Đông Nam Bộ, Bắc Trung Bộ, Nam Trung Bộ
và Tây Nguyên. Đối với vùng núi phía Bắc, trong đó có Định Hoá (Thái
Nguyên) mới chỉ được phát triển trong phạm vi hẹp. Vì vậy, đưa nhanh những
giống mới và kỹ thuật nhân giống vô tính vào sản xuất là rất cần thiết nhằm
nâng cao năng suất và hiệu quả công tác trồng rừng, thu hút nhiều thành phần
kinh tế vào xây dựng rừng. Đây cũng là mong muốn và là chủ trương của chính
quyền địa phương các cấp ở Thái Nguyên nói chung và huyện Định Hóa nói
riêng.
1.2.3. Nghiên cứu ảnh hưởng của biện pháp làm đất
Trong những năm gần đây, việc áp dụng cơ giới trong trồng rừng, nhất là
trồng rừng công nghiệp đã được các nhà lâm học quan tâm, điển hình là công
trình nghiên cứu của Đỗ Đình Sâm và cộng sự (2001) [33], thông qua thí
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
11
nghiệm cày ngầm để trồng Bạch đàn uro trên đất thoái hoá ở Phù Ninh (Phú
Thọ), tác giả cho thấy năng suất của rừng Bạch đàn được trồng trên đất cày
ngầm cao hơn nhiều so với nơi làm đất bằng thủ công, sau 8 tuổi ở nơi làm đất
bằng cày ngầm trữ lượng cây đứng của Bạch đàn uro có thể đạt 16m
3
/ha/năm,
nhưng nơi làm đất bằng thủ công chỉ đạt 5m
3
/ha/năm. Ngược lại, trên đất dốc
3
/ha/năm. Tiếp theo là công trình nghiên cứu của Nguyễn Đình Hải (2003)
[8] đã bố trí 8 công thức thí nghiệm bón lót khác nhau cho 3 giống Thông
Caribeae (P. caribaea var bahamensis -1167; P.caribaea var hondurensis-1160
Và P. caribaea var hondurensis - giống Đại Lải) trên đất nghèo xấu ở Cẩm Quỳ
(Ba Vì-Hà Tây cũ), kết quả thí nghiệm cho thấy sau từ 14-36 tháng tuổi cả 3
giống Thông trên đều sinh trưởng tốt ở công thức bón phân 200gP
2
O
5
/gốc. Trên
đất phèn chua ở Thạnh Hoá (Long An) Phạm Thế Dũng (2003) [3], cũng đã thử
nghiệm các công thức bón lót khác nhau cho các loài Bạch đàn E. camaldulensis
và E. tereticornis, kết quả cho thấy phân bón có ảnh hưởng khá rõ rệt đến sinh
trưởng của cả 2 loài Bạch đàn nói trên, đặc biệt ở công thức bón phân từ 50-
100gNPK kết hợp với 50-100gP/gốc đã làm tăng lượng sinh trưởng về chiều cao
từ 31-36% so với đối chứng ở giai đoạn 3,5 tuổi. Trong một thí nghiệm khác với
Keo lai trồng trên đất feralit vàng xám ở Tân Lập (Bình Phước), Phạm Thế
Dũng (2004) [4] cũng đã cho thấy Keo lai sinh trưởng tốt ở công thức bón lót
gồm 100g NPK kết hợp với 500g vi sinh Sông Gianh/Gốc.
Khảo sát 14 ô tiêu chuẩn của rừng trồng Bạch đàn uro từ 1,5-5 tuổi trên 6
địa điểm khác nhau, Nguyễn Đức Minh và cộng sự (2004) [16] đã chỉ ra rằng
hiệu lực của phân NPK bao giờ cũng cao hơn phân vi sinh hữu cơ hoặc supe lân
bón riêng rẽ, bón 300gNPK/gốc có hiệu lực cao hơn bón 200gNPK/gốc và
100gNPK/gốc. Tương tự như vậy, khảo sát 14 ô tiêu chuẩn của rừng trồng Keo
lai từ 1,5-5,5 năm tuổi ở 5 tỉnh khác nhau, tác giả cho thấy rừng trồng Keo lai
đựơc bón lót 100gNPK/gốc và bón thúc 100gNPK/gốc vào năm thứ 2 cho lượng
tăng trưởng cao hơn rừng chỉ bón lót.
Ngô Đình Quế và cộng sự (2004) [27] đã tập hợp các công trình nghiên
cứu trước đây và nghiên cứu bổ xung đã xây dựng được quy phạm kỹ thuật bón
mục đích trồng rừng, đồng thời tuỳ thuộc vào lập địa nơi gây trồng. Tuy nhiên,
vấn đề này ở trong nước vẫn còn ít các công trình nghiên cứu, theo kinh nghiệm
ở một số công ty trồng rừng nguyên liệu hiện nay thường trồng từ 1660-2500
cây/ha đối với các loài cây mọc nhanh và trung bình, mật độ này đã phải là tối
ưu chưa? Câu hỏi này vẫn chưa có câu trả lời một cách có khoa học. Khi đánh
giá rừng trồng Keo lai ở vùng Đông Nam Bộ, Phạm Thế Dũng và cộng sự
(2004) [5] đã khảo sát trên 4 mô hình có mật độ trồng ban đầu khác nhau là:
952; 1111; 1142 và 1666 cây/ha, kết quả phân tích cho thấy sau 3 năm trồng
năng suất cao nhất ở rừng có mật độ 1666cây/ha (21m
3
/ha/năm), năng suất thấp
nhất ở rừng có mật độ 952cây/ha (9,7m
3
/ha/năm). Tác giả cho rằng đối với Keo