Mối quan hệ tác động qua lại giữa môi trường du lịch và hoạt động du lịch - Pdf 85

PHẦN MỞ ĐẦU
Những thập kỷ gần đây, du lịch và ngành du lịch trở thành xu hướng chung của toàn cầu,
chiếm vị trí chiến lược trong nền kinh tế quốc gia nhiều nước trên thế giới.
Theo thống kê của Tổ chức Du lịch trên thế giới (UNWTO) và Hiệp hội Lữ hành quốc tế
(WTTC)năm 2000 thu nhập ngành du lịch chiếm tới 10,7% GDP của toàn thế giới. ở Việt
Nam năm 2007 thu nhập ngành du lịch lên đến 11%. Ước tính lượng du khách quốc tế năm
2010 là 1100 triệu lượt, năm 2020 đạt khoảng 1600 lượt triệu du khách.
Đối với các quốc gia đang phát triển thì du lịch quốc tế có ý nghĩa hết sức quan trọng.
UNWTO thống kê có tới 83% các quốc gia xếp du lịch là một trong năm ngành xuất khẩu
lớn, và cứ ba nước thì có một nước coi du lịch là nguồn thu nhập ngoại tệ quan trọng. Cùng
với sự phát triển của du lịch thế giới, ngành Du lịch Việt Nam ngày càng phát triển và
đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế-xã hội của đất nước. Dự báo năm
2010 nước ta sẽ đón 5,5 - 6 triệu lượt du khách quốc tế và 25 -26 triệu lượt du khách nội
địa, thu nhập từ du lịch đạt từ 4 - 4.5 tỷ USD.
Việc phát triển du lịch nhanh chóng như vậy cũng nhờ vào những thế mạnh về nguồn tài
nguyên du lịch cũng như những điều kiện thuận lợi mà môi trường du lịch của mỗi quốc
gia tạo nên. Do đó mà môi trường du lịch có một vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình
phát triển ngành du lịch quốc tế cũng như du lịch nội địa. Bên cạnh những hiệu quả to lớn
đã đạt được, ngành du lịch trên thế giới và nước ta cũng có tác động mạnh mẽ đến môi
trường du lịch kể cả môi trường tự nhiên, môi trường nhân văn và môi trường kinh tế - xã
hội. Vì vậy cần nghiên cứu tìm hiểu những tác động cụ thể của du lịch đến môi trường để
có biện pháp, phương hướng phát triển thích hợp với hòan cảnh đất nước. Đồng thời có
những biện pháp thích hợp để bảo vệ môi trường du lịch, phát triển du lịch bền vững trong
tương lai. Đó là lý do tại sao chúng ta cần phải nghiên cứu một cách kỹ lưỡng về mối quan
hệ tác động qua lại giữa môi trường du lịch và hoạt động du lịch.
PHẦN I : CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MÔI TRƯỜNG DU LỊCH
I.Khái niệm môi trường du lịch:
1.1. Môi trường là gì?
Môi trường là tổng hợp các điều kiện bên ngoài có ảnh hưởng đến một cá thể hay một sự
kiện nào đó. Bất kỳ một cá thể hay một sự kiện náo cũng tồn tại và diễn biến trong một
môi trường nhất định. Tùy thuộc vào từng đối tượng nhất định sẽ có môi trường tương

người tác động, cải tạo ở những mức độ khác nhau, song vẫn bảo tồn được một phần hoặc
toàn bộ các đặc tính tự phục hồi và phát triển. Môi trường du lịch tự nhiên là toàn bộ
không gian, lãnh thổ bao gồm các nhân tố thiên nhiên như : đất, nước, không khí, hệ động
vật trên cạn và dưới nước… và các công trình kiến trúc cảnh quan thiên nhiên – nơi tiến
hành các hoạt động du lịch.
Môi trường du lịch tự nhiên được cấu thành một loạt các môi trường tự nhiên bộ phận
trong một hệ thống chung. Các môi trường bộ phận này tồn tại và phát triển theo các quy
luật của mình song có liên quan tác động mật thiết với nhau bằng vô số các quan hệ nhiều
chiều trong tương quan nhân quả và giải quyết các mâu thuẫn về phát triển. Tuy nhiên vẫn
đảm bảo bảo sự thống nhất nội tại giữa các môi trường bộ phận trong một môi trường
chung.
Môi trường tự nhiên có ý nghĩa rất lớn đối với sự phát triển và đa dạng hóa các hoạt động
du lịch, tạo tiền đề cho sự phát triển các khu du lịch. Ví dụ như các khu du lịch nổi tiếng
như Phong Nha – Kẻ Bàng, Hạ Long, Sa Pa, Đà Lạt … là những điểm du lịch dựa trên cơ
sở môi trường tự nhiên với những cảnh quan thiên nhiên đặc sắc. Bởi vì các thành phần cơ
bản của môi trường tự nhiên là những điều kiện cần thiết cho các hoạt động du lịch và có
sức hấp dẫn lớn đối với du khách, chính vì vậy mà “chúng”được trực tiếp khai thác vào
mục đích kinh doanh du lịch. các nhân tố, điều kiện cơ bản của môi trường du lịch tự nhiên
có tác động đáng kể nhất đối với du lịch có thể kể là vị trí địa lý, môi trường địa chất - địa
mạo, thời tiết và khí hậu, môi trường nước, thủy văn và đa dạng sinh học.
1.1.Vị trí địa lý
Vị trí địa lý của các khu du lịch có ảnh hưởng rất lớn đối với sự phát triển du lịch. Vị trí
của các khu du lịch càng gần các thị trường tiềm năng thì càng thuận tiện và thu hút nhiều
du khách. Bởi vì nếu quãng cách này quá xa thì sẽ ảnh hưởng tới sự chi trả của du khách
cho vận chuyển, ảnh hưởng tới sức khỏe cũng như mất thời gian tham quan của du khách
do vận chuyển quá xa. Tuy nhiên vẫn có những trường hợp ngoại lệ vì khoảng cách càng
xa thì càng có sức hấp dẫn cao đối với những du khách có khả năng chi trả cao, có tính
hiếu kì vì sự tương phản và khác lạ của nơi tham quan và nơi ở của du khách.
1.2. Môi trường địa chất:
Địa hình của một khu vực là sản phẩm của các quá trình địa chất lâu dài, là một thành phần

xuất của cả nhân loại trong đó có cả hoạt động du lịch.
1.4.Môi trường nước:
Môi trường nước bao gồm nguồn nước mưa, nước mặt, nước ngầm. Trong đó nguồn nước
mặt có vai trò vô cùng quan trọng vì nó liên quan trực tiếp đến việc phát triển giao thông
vận chuyển của du khách bằng đường thủy,khả năng cung cấp nước và chất lượng nước
( nước ngọt, nước biển, nước khoáng…) phục vụ cho nhu cầu , sinh hoạt, vui chơi , giải trí
và tắm biển, nghỉ dưỡng,chữa bệnh của du khách. Không những vậy mà môi trường nước
còn kết hợp với các cảnh quan khác tạo nên những cảnh quan vô cùng sống động và hấp
dẫn du khách. Đồng thời môi trường nước còn có tác dụng lọc khí, tạo một môi trường
không khí trong lành, dễ chịu. Ngoài ra, nguồn tài nguyên nước mặt còn là nơi diễn ra các
hoạt đông vui chơi, giải trí của du khách như các hoạt động thể thao, du ngoạn, tham quan
sông nước, câu cá, tắm biển, lướt sóng…
1.5.Môi trường sinh học:
Đa dạng sinh học là mức độ phong phú của sự sống, là toàn bộ tài nguyên thiên nhiên do
tất cả các dạng sống trên trái đất tạo nên. Đa dạng sinh học bao gồm tất cả các loài sinh vật
từ bé đến lớn đang sống trên trái đất, tất cả các gen có trong các loài đó, các hệ sinh thái,
môi trường sống được tạo nên do các loài khác nhau sống chung trong những điều kiện
nhất định của một vùng hay một khu vực nào đó. Trong môi trường sinh học thì động vật
và thực vật hoang dã có ý nghĩa quan trọng đối với giải trí và du lịch của con người. Đồng
thời, đa dạng sinh học còn tạo sự hấp dẫn trong hoạt động du lịch. Thực tế cho thấy rằng ở
khu vực càng có đa dạng sinh học cao thì càng có sức thu hút du khách đến tham quan, du
lịch, nghiên cứu.
Trong phát triển du lịch, các vườn quốc gia và cac khu bảo tồn thiên nhiên có ý nghĩa rất
lớn vì ở đó có sự tập trung đa dạng sinh học cao với nhiều loài động thực vật đặc hữu, quý
hiếm. Một trong những mục tiêu xây dựng hệ thống vườn quốc gia nói trên là bảo vệ các
khu cảnh quan tự nhiên, phục vụ mục đích khoa học, giáo dục và du lịch sinh thái. Tuy
nhiên những điểm du lịch ở các khu bảo tồn cũng tiềm ẩn nhiều nguy cơ độc hại từ các loại
côn trùng độc, rắn độc, cá độc… có thể gây nguy hiểm đến tính mạng của du khách. Vì
vậy mà các khu du lịch này cũng cần có những thiết bị,dụng cụ để bảo vệ du khách khỏi
những nguy hiểm đó

lượng môi trường bởi vì giữa các khu du lịch và cộng đồng dân cư luôn có mối quan hệ
giao tiếp gắn bó. Một môi trường du lịch được xem là thuận lợi khi trình độ văm minh và
nhận thức cộng đồng địa phương nơi diễn ra hoạt động du lịch đạt tới mức mà du khách
cảm thấy thoải mái và được tôn trọng.Bên cạnh đó cần phải quan tâm đến trình độ cán bộ
nghiệp vụ vì đây cũng là một yếu tố vô cùng quan trọng trong việc phát triển hoạt động du
lịch. Chúng ta cũng không thể xem thường yếu tố chất lượng cuộc sống dân cư bởi vì đây
là yếu tố ảnh hưởng tới cách sống, giao tiếp, nhận tức và văn minh cộng đồng. và chính vì
vậy cũng ảnh hưởng lớn đến môi trường du lịch.
3.Môi trường kinh tế xã hội
Môi trường kinh tế xã hội là toàn bộ hoàn cảnh, hoạt động kinh tế, xã hội của một quốc
gia, khu vực hay trên toàn thế giới. Khi xem xét môi trường kinh tế xã hội thì cần xem xét
rõ các yếu tố như thể chế chính sách, trình độ phát triển khoa học công nghệ, mức độ phát
triển cơ sở hạ tầng, môi trường đô thị và công nghiệp, mức sống của người dân, an toàn
trật tự xã hội, tổ chức xã hội và quản lý môi trường.
3.1.Yếu tố thể chế chính sách:
Đó là tất cả những chủ trương, chính sách có tính chiến lược về phát triển du lịch, phát
triển nguồn tài nguyên, phát triển nhân lực…đến các văn bản pháp luật như luật đầu tư,
luật tài nguyên, luật du lịch và các văn bản,quy định mang tính pháp lý đối với việc quản lý
hoạt động du lịch và các hoạt động kinh tế xã hội có liên quan. Yếu tố này thường ít được
xem trọng trong hệ thống chức năng của du lịch. Thực tế cho thấy rằng hệ thống chính trị,
các văn bản pháp luật như luật đầu tư, luật tài nguyên, luật bảo vệ môi trường,hệ thống tài
chính…và các chủ trương, chính sách phát triển du lịch dài hạn có ảnh hưởng rất lớn đối
với khả năng cạnh tranh của điểm du lịch đó trên trường quốc tế.
Chính những yếu tố pháp luật, thể chế chính sách thích hợp sẽ tạo nên hành lang pháp lý
thuận lợi cho sự phát triển du lịch, đồng thời hướng sự phát triển du lịch phù hợp với chiến
lược phát triển kinh tế xã hội chung của đất nước, phù hợp với những đặc điểm và điều
kiện cụ thể của từng giai đoạn phát triển của đất nước. chính những chiến lược và chính
sách phù hợp còn tạo điều kiện cho du lịch phát triển, thậm chí trong điều kiện khó khăn
nhất.
3.2.Trình độ phát triển khoa học công nghệ:

3.6.Mức sống dân cư :
Mức sống dân cư có ảnh hưởng lớn đến môi trường du lịch vì thực tế cho thấy nước nào,
khu vực nào người dân có mức sống cao thì nhu cầu du lịch tăng và đồng thời tạo môi
trường tốt cho việc phát triển du lịch.
3.7.Yếu tố trật tự an toàn xã hội:
Một xã hội văn minh phải thể hiện ở trình độ đảm bảo an toàn, trật tự xã hội cho công dân
cũng như mọi mặt hoạt động của xã hội nói chung. Nó góp phần tạo nên hiệu quả hoạt
động du lịch vì chẳng những là điều kiện đảm bảo cho hoạt động du lịch diễn ra mà còn có
tác động đến tâm lý du khách khi đến du lịch tại khu vực, quốc gia này. Trên thực tế cho
thấy những bất ổn như ở những nước xảy ra xung đột sắc tộc, chiến tranh, ở các khu vực
thương xảy ra bạo lực( khủng bố,bắt cóc…) và các tệ nạn xã hội (trộm cắp,ma túy…) thì
số lượng du khách giảm đi rõ rệt. Việt Nam được đáng giá là nước có tình hình an ninh trật
tự cao, chính vì vậy mà mọi người xem việt Nam là “điểm đến của thiên niên kỷ”.
III .Đánh giá tác động của hoạt động du lịch đến môi trường du lịch:
Hoạt động du lịch luôn luôn gắn liền với việc khai thác các tiềm năng tài nguyên môi
trường tự nhiên như cảnh đẹp hùng vĩ của núi sông biển….các giá trị văn hoá, nhân văn.
Trong nhiều trường hợp, hoạt động du lịch tạo nên những môi trường nhân tạo như công
viên vui chơi giải trí, nhà bảo tàng, làng văn hoá…trên cơ sở của một hay tập hợp các đặc
tính của môi trường tự nhiên như một hang động, một quả đồi, một khúc sông, một khu
rừng…hay một đền thờ, một quần thể di tích.
Việc thu hút du khách, tạo nên công ăn việc làm cho người dân, kích thích sự phát triển của
các làng nghề thủ công truyền thống, cải thiện đời sống cộng đồng người dân địa
phương…là hệ quả tích cực của tác động du lịch đến môi trường. trong quá trình phát
triển, mối quan hệ nhân quả giữa môi trường và hoạt động du lịch rất chặt chẽ, vì vậy sự
suy giảm chất lượng của môi trường sẽ dẫn đến sự giảm sút sức hút của hoạt động du lịch.
1.Tác động tích cực:
1.1.Tác động đến môi trường du lịch tự nhiên
Hoạt động du lịch tạo ra hiệu quả tốt đối với việc sử dụng hợp lý và bảo vệ tối ưu các
nguồn tài nguyên và môi trường du lịch góp phần tích cực vào việc bảo tồn các vườn quốc
gia, các khu bảo tồn tự nhiên, các khu rừng văn hóa – lịch sử - môi trường, tu bổ, bảo vệ hệ

Du lịch là lối sống đặc biệt ngày càng trở thành một loại hành vi xã hội phổ biến. thông
qua khai thác hoạt động du lịch bằng nhiều hình thức, du khách được mở rộng tầm mắt,
thêm phần lịch thiệp, tăng cường hiểu biết, thoải mái tinh thần, tôi luyện tình cảm. Vì vậy,
hoạt động du lịch góp phần nâng cao đời sống văn hóa tinh thần và tu dưỡng đạo đức cho
con người.
Du lịch có ý nghĩa nhân sinh và xã hội rất tích cực, thúc đẩy du lịch là yếu tố cơ bản của
phồn vinh xã hội. Đồng thời, thông qua hoạt động du lịch còn có thể làm tăng sự hiểu biết
của du khách đối với cảnh quan thiên nhiên, đất nước, con người, lịch sử văn hóa xã hội
của quốc gia, nhờ vậy tinh thần yêu tổ quốc, yêu quê hương được tăng lên và có tình thần
trách nhiệm xây dựng đất nước giàu mạnh, lòng tự hào dân tộc và ý thức bảo vệ môi
trường. Du lịch làm tăng nhận thức của địa phương về giá trị kinh tế của các khu vực tự
nhiên và văn hóa, qua đó có thể khơi dậy niềm tự hào đối với những di sản của quốc gia và
địa phương cũng như quan tâm đến việc giữ gìn chúng.
Phát triển du lịch có lợi cho việc bảo vệ và phát triển văn hóa dân gian. Ngoài việc cung
cấp các hoạt động tham quan di tích văn vật du ngoạn phong cảnh thiên nhiên, du lịch còn
có tác dụng bảo vệ văn hóa, làm đẹp môi trường và thúc đẩy sự phát triển của văn hóa dân
tộc
Phát triển, giao lưu văn hóa: khách biết thêm về văn hóa của nước chủ nhà, biết âm nhạc,
nghệ thuật, các món ăn truyền thống và ngôn ngữ của nước đó.
Tạo hình ảnh mới, người nước ngoài được biết thêm về cộng đồng người dân nước họ du
lịch.
Du lịch có thể đẩy mạnh việc bảo tồn và giao lưu các truyền thống văn hóa lịch sử, góp
phần bảo tồn và quản lí bền vững các tài nguyên, bảo vệ các di sản ở địa phương, phục
hưng các nền văn hóa bản xứ, các nghề thủ công mĩ nghệ.
Du lịch còn tạo ra khả năng hỗ trợ đắc lực cho việc bảo tồn các di tích lịch sử, khảo cổ
đang có nguy cơ bị tàn lụi, đặc biệt là các di tích ở những nước nghèo không có đủ tiềm
lực để trùng tu hay bảo vệ như:Các di sản kiến trúc nghệ thuật, văn hóa, đồ thủ công, lễ
hội, trang phục, lối sống truyền thống.
Đóng góp kinh phí trực tiếp hay gián tiếp cho việc phát triển các bảo tàng, các hoạt động
văn hóa truyền thống, kể cả văn hóa ẩm thực.

Du lịch góp phần thúc đẩy sự phát triển của ngành ngoại thương. Xuất khẩu bằng con
đường du lịch đa số được gọi là xuất khẩu tại chỗ như các mặt hàng ăn uống, rau quả, hàng
lưu niệm. Việc xuất khẩu bằng du lịch quốc tế có lợi lớn về nhiều mặt.
Tạo được doanh thu và lợi nhuận lớn hơn nhiều nếu cùng những hàng hóa đó đem xuất
khẩu theo đường ngoại thương. Hàng hóa du lịch được xuất với giá bán lẻ có giá cao hơn
giá xuất theo con đường ngoại thương là giá bán buôn. Tiết kiệm được chi phí đóng gói,
bảo quản và chi phí vận chuyển quốc tế.
Du lịch là phương tiện tuyên truyền và quảng cáo không mất tiền cho nước chủ nhà. Sự
phát triển du lịch quốc tế còn có những ý nghĩa quan trọng trong việc củng cố các mối
quan hệ kinh tế quốc tế theo các hướng như là kết hợp đồng trao đổi khách giữa các nước
tổ chức, các hãng du lịch, tham gia vào các tổ chức quốc tế về du lịch.
Du lịch tạo cơ hội giải pháp việc làm.
Với sự phát triển nhanh chóng và do đặc thù là dịch vụ nên ngành du lịch có hệ số sử dụng
lao động rất cao. Theo thống kê của Singapore, để tạo ra 1triệu USD ngành ngoại thương
thuê 14 lao động, trong khi đó du lịch cần 27 đến 33 lao động. Sự phát triển nhanh chóng
của du lịch quốc tế tạo ra nhiều việc làm. Ví dụ như chỉ riêng ngành khách sạn đã tạo ra
11, 3triệu việc làm trên thế giới năm 1995. Theo WTO, lao động trong ngành du lịch chiếm
khoảng 7% lực lượng lao động trên thế giới. Cuộc điều tra năm 1985 của ESCAP về kế
hoạch quản lì môi trường duyên hải phía Tây của Srilanca cho thấy năm 1982 ngành du
lịch đã đảm bảo việc làm trực tiếp cho khoảng 30 nghìn người và việc làm gián tiếp cho 35
nghìn người. ngoài ra còn làm lợi cho hơn 30 nghìn người nữa vì họ được tăng thu nhập do
hiệu ứng chảy tràn. Năm 1997 ngành du lịch trên thế giới có 252 triệu lao động ( chiếm 10,
7% lao động của thế giới)
Du lịch thúc đẩy sự phát triển của các doanh nghiệp nhỏ, tăng cường vị trí và khả năng
phát triển du lịch dựa trên cơ sở phối hợp với các ngành có liên quan.
Nhiều doanh nghiệp có qui mô và gia đình làm chủ như dịch vụ taxi, cửa hàng bán đồ lưu
niệm hay một nhà hàng nhỏ. Ngày càng có nhiều du khách muốn tìm hiểu văn hóa đích
thực của vùng du lịch. Nếu chúng ta có thể kích thích họ mua hàng lưu niệm sản xuất tại
địa phương và ở khách sạn được trang bị bằng nhiều vật liệu của địa phương thì du lịch là
chiếc cầu nối và đóng góp đáng kể vào nền kinh tế.

chuyên ngành, du lịch du học tạo điều kiện cho phát triển khoa học – kĩ thuật du lịch.
Cải thiện y tế: Dịch vụ y tế và các tiêu chuẩn vệ sinh được nâng cao. Xử lí rác và nước thải
được cải thiện, dịch vụ môi trường được nâng cấp.
Cải thiện về mặt xã hội: Cải thiện các dịch vụ và công trình công cộng, từ đó nảy sinh
thêm nhiều hoạt động bổ ích
Giáo dục và bảo tồn thiên nhiên: Giáo dục và kiến thức được nâng lên. Cơ hội đào tạo
được mở rộng, khuyến khích việc quản lí và bảo vệ các di sản và môi trường thiên nhiên.
2.Tác động tiêu cực:
2.1.Đến môi trường tự nhiên:
• Tài nguyên nước xây dựng, đất đá và các chất nạo vét, đặc biệt là những nơi chặt phá
rừng ngập mặn để xây bến cảng, làm cho chất lượng nước giảm đi rất nhiều, nước bị đục,
quá trình trầm lắng tăng. Sinh vật đáy bị huỷ diệt,chất bẩn do nạo vét tạo nên. Biển và đất
bị nhiễm độc bởi chất thải.
việc giải phóng mặt bằng và san ủi đất để xây dựng các công trình và làm đường có thể
gây ra xói mòn và sụt lở đất, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng nước mặt. chất lượng
nứoc kém đi, bờ biển bị xuống cấp
các hoạt động trong quá trình xây dựng sẽ làm ô nhiễm nguồn nước, làm chất lượng nước
kém đi.
Việc vứt rác và đổ nước thải bừa bãi vào các nguồn nước cũng như thải ra một lượng xăng
dầu nhất định trong quá trình vận hành các thiết bị xây dựng.
• Tác động lâu dài do việc vận hành và bảo dưỡng các công trình du lịch
Đất bờ bị sụt lở hoặc rác rưởi trôi dạt sẽ làm tăng thêm hàm lượng bùn và các chất cặn, vì
thế mà chất lượng nguồn nước kém đi, độ nhiễm độc tăng.
Ô nhiễm nguồn nước xảy ra do các nguyên nhân khác nhau như do các chất thải chưa được
xử lí thải vào nguồn nước, do việc thải dầu, mỡ, các chất hyđrocacbon của các phương tiện
giao thông thuỷ ( tàu, thuyền du lịch, ca nô…)
Hoạt động du khách cũng là nguyên nhân gây ra ô nhiễm nguồn nứơc như: vứt rác bừa bãi
( khi qua phà…) nguồn cấp nước bị nhiễm bẩn, nhiều sinh vật gây bệnh hại cho sức
khoẻ,đổ các chất lỏng ( chất hyđrocacbon khi bơi thuyền, đi xe máy…), xăng dầu rơi vãi
tạo các vết dầu loang dẫn đến nhiễm độc nặng, chất lượng nước kém đi.

Ô nhiễm môi trường sống cùng với việc mất đi những cảnh quan thiên nhiên, những khu
đất chăn nuôi là những nhân tố làm cho một số loài thực vật và động vật dần dần bị mất
nơi cư trú.
Một số hoạt động thái quá của du khách như chặt cây bẻ cành, săn bắn chim thú tại những
khu rừng tự nhiên cũng là nguyên nhân làm giảm sút cả số lượng lẫn chất lượng sinh vật
trong phạm vi khu du lịch.
Các yếu tố ô nhiễm như là rác và nước thải không được xử lí đúng mức sẽ ảnh hưởng trực
tiếp đến các hệ sinh thái ở dưới nước.
Hoạt động của du khách có tác động lớn đến hệ sinh thái…các hoạt động du lịch dưới
nước như thu nhặt sò, ốc, khai thác san hô làm đồ lưu niệm và thả neo tại những bãi đá san
hô đều làm gia tăng việc huỷ hoại bãi san hô, nơi sinh sống của các loài động vật ở dưới
nước. việc săn bắt chuyên nghiệp cũng góp phần làm giảm đi nhiều loài sinh vật đang bị đe
doạ diệt vong.
Việc khai thác và sử dụng đất ngày càng tăng đang ảnh hưởng đến môi trường sống của hệ
động thực vật.
Nhu cầu của du khách về hải sản được coi là nguyên nhân chính tác động mạnh đến môi
trường của tôm hùm và các hải sản có giá trị khác. Đối với các hệ sinh thái nước ngọt
(sông, hồ) việc đánh bắt cá để đáp ứng nhu cầu của khách cũng là mối đe doạ các động vật
có giá trị, đặc biệt là cá sấu.
Các hoạt động thể thao, đánh bắt cá của du khách ở khu vực ven biển đã có tác động xấu
đến việc bảo tồn các loài sinh vật quí đang cần bảo vệ.
Các khu rừng cấm và rừng nguyên sinh đặc biệt dễ bị tổn thương khi có nhiều du khách.
Những hoạt động như sự đi lại của xe, giẫm đạp lên cỏ, hái hoa quả bừa bãi, chặt cây bừa
bãi… làm mất dần nhiều loài động thực vật.
Ở các khu bảo tồn thú hoang dã, hoạt động của các đoàn xe và khách du lịch cũng có ảnh
hưởng xấu đến môi trường sống làm cho sự yếu tính bị mất đi và các sinh vật trở nên sợ
sệt, thậm chí nhiều con thú bị chết vì tai nạn do con người gây ra.
2.2 Môi trường du lịch nhân văn
Hoạt động du lịch đã tác động đến dân địa phương trong quá trình họ quan hệ trực tiếp và
gián tiếp với du khách. ảnh hưởng của hoạt động du lịch đến các khía cạnh văn hoá – xã

các quan hệ thực sự và có ý nghĩa lâu dài
Tốn kém về mặt kết cấu hạ tầng ở địa phương.
Sự phát triển của một số hoạt động kinh tế sẽ bị phụ thuộc vào ngành du lịch.
Hoạt động du lịch thường có tính thời vụ do các đặc điểm kinh tế - xã hội. do vậy, hầu hết
các công trình và các biện pháp hỗ trợ phải được chuẩn bị sẵn để đáp ứng nhu cầu của mùa
cao điểm, tránh lãng phí vào mùa thấp điểm.
Cư dân địa phương ở các khu du lịch và các khu nghỉ mát thường phải chịu đựng tình trạng
quá tải vào mùa du lịch và sẽ phải thay đổi lối sống của mình để phù hợp với sinh hoạt của
du khách.
Sự phát triển nhanh chóng các hoạt động du lịch có thể làm cho điều kiện vệ sinh môi
trường trở nên tồi tệ do vứt rác và đổ nước thải bừa bãi và chưa có đủ khả năng để xử lí đồ
phế thải. việc tích tụ rác thải, đặc biệt là ở các khu du lịch, có thể thu hút nhiều loại côn
trùng, các loài gậm nhấm, là nơi sinh sôi nảy nở của chúng, làm cho dịch bệnh có điều kiện
phat triển gây nguy hại cho sức khoẻ du khách cũng như dân cư địa phương.
Hoạt động du lịch tại một số khu vực là nguyên nhân gây ra tiếng ồn trong cộng đồng.
Việc tập trung du khách ngày càng nhiều tại cùng một thời điểm, địa điểm sẽ làm cho các
bãi tắm, nhà nghỉ trở nên quá tải, đường sá tắt nghẽn làm tổn hại đáng kể đến chất lượng
cuộc sống.
Kinh tế: lượng ngoại tệ nhập vào không thể tính được cụ thể bởi bản thân ngành du lịch
cũng cần khoảng chi ngoại tệ.
PHẦN II: ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG TÁC ĐỘNG CỦA HOẠT ĐỘNG DU LỊCH
ĐẾN MÔI TRƯỜNG DU LỊCH CỦA VIỆT NAM:
Các hoạt động kinh tế nói chung và hoạt động du lịch nói riêng đều có tác động đến
tài nguyên và môi trường. những hoạt động này có thể là tích cực , song cũng có thể là
tiêu cực đến tài nguyên và môi trường, nhất là trong các trường hợp không có tour
chức , quy hoạch hợp lý , sử dụng và bảo vệ cũng như khôi phục tài nguyên và môi
trường xác đáng.
Để việc lập kế hoạch , thực hiện các dự án, các chính sách phát triển du lịch và bảo
tồn tài nguyên và môi trường hiệu quả thì việc nghiên cứu , đánh giá các tác động của
du lịch lên tài nguyên và môi trường phải tiến hành song song cùng lúc với quy hoạch

1991 6.986 Hà Tây
Cát Bà
1986 15.200 Hải Phòng
Cúc Phương
1994 20.000 Ninh Bình, Thanh Hóa, Hòa Bình
Xuân Thủy
2003 7.100 Nam Định
Bắc Trung Bộ
Bến En
1992 16.634 Thanh Hóa
Pù Mát
2001 91.113 Nghệ An
Vũ Quang
2002 55.029 Hà Tĩnh
Phong Nha-Kẻ Bàng
200.000 Quảng Bình
Bạch Mã
1991 22.030 Thừa Thiên-Huế
Tây Nguyên
Chư Mom Ray
2002 56.621 Kon Tum
Kon Ka Kinh
2002 41.780 Gia Lai
Yok Đôn
1991 115.545 Đăk Lăk
Chư Yang Sin
2002 58.947 Đăk Lăk
Bidoup Núi Bà
64.800 Lâm Đồng
Đông Nam Bộ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status