Đề tài“Một số biện pháp rèn kỹ năng đọc cho học sinh học lớp 1- Công nghệ giáo dục”
Năm 2017- 2018
PHẦN I: THỰC TRẠNG ĐỀ TÀI
Năm 2017 – 2018 tôi được phân giảng lớp Một/1 với sĩ số lớp 31 gồm 17
nam và 14 nữ (trong đó có 5 em tiếp thu chậm). Từ khi nhận lớp tôi đã nghiên cứu,
tìm hiểu và thấy được một số thực trạng như sau:
- Nội dung kiến thức chương trình Cơng nghệ dài và khó, học sinh đọc chưa
chuẩn.
- Chưa có nhiều thời gian cho học sinh rèn kỹ năng đọc.
- Tuy có được sự quan tâm của phụ huynh về việc học tập của các em như:
chuẩn bị đầy đủ sách vở, đồ dùng học tập, thường xuyên nhắc nhở và tạo điều kiện
tốt cho các em đến lớp học tập, nhưng vẫn còn một số tồn tại sau:
+ Do bản thân các em đọc chậm, đọc sai mà lại chưa kiên trì, tự giác tập
luyện để sửa. Nhìn vào nội dung sách Tiếng Việt 1- Cơng nghệ giáo dục thì số
lượng kiến thức trong mỗi tiết học rất nhiều, mà yêu cầu học sinh phải đọc trơn các
chữ sau khi học xong. Thời gian dành đọc trong mỗi tiết cịn ít.
+ Phụ huynh chưa nắm rõ cách đọc mới của chương trình Cơng nghệ giáo
dục nên cịn lúng túng khi hướng dẫn các em học ở nhà.
Chính vì những lý do trên mà tôi chọn đề tài “ Một số biện pháp rèn kỹ năng
đọc cho học sinh lớp 1 – Công nghệ giáo dục”.
PHẦN II: NỘI DUNG CẦN GIẢI QUYẾT
Để giúp học sinh rèn luyện và phát triển kỹ năng đọc tốt tôi đã áp dụng
những biện pháp sau:
1/. Giáo viên đọc mẫu phải chuẩn.
2/. Hướng dẫn học sinh phát âm, học phần âm, vần.
3/. Giúp học sinh nhận xét, điều chỉnh lẫn nhau.
4/. Giúp học sinh kiên trì trong giờ luyện đọc.
5/. Rèn luyện cho học sinh ở mọi nơi, mọi lúc.
6/. Tác động giáo dục.
7/. Tuyên dương, khuyến khích học sinh.
hơn. Học sinh nếu chỉ nghe mà khơng nhìn miệng cơ đọc thì việc
phát âm sẽ khơng đạt hiệu quả cao, vì trong mơn Tiếng Việt 1 –
Công nghệ giáo dục việc quan sát mơi cơ khi phát âm âm mới là
rất quan trọng.
Ngồi việc đọc chuẩn tơi cịn phải quy ước các kí hiệu giữa
giáo viên và học sinh. Rèn luyện các kí hiệu giữa giáo viên và học
sinh một cách thành thạo, nhịp nhàng là góp phần giúp tiết học
nhẹ nhàng đạt hiệu quả cao.
Ví dụ: Kí hiệu: B (bảng con)
S (sách giáo khoa)
V (vở em tập viết)
v (vở chính tả)
....
Giáo viên chỉ cần chỉ vào các kí hiệu thì học sinh sẽ làm theo, làm đúng và
giờ học nhẹ nhàng không mất thời gian.
2/ Hướng dẫn học sinh phát âm, học phần âm, vần.
Hướng dẫn cách phát âm là phương pháp quan trọng hàng đầu, địi hỏi người
giáo viên phải có những hiểu biết, kinh nghiệm và cả kỹ năng hướng dẫn tốt. Khi
hướng dẫn học sinh phát âm, cần dùng lời nói mạch lạc, đơn giản để học sinh dễ
hiểu và có thể tự mình phát âm đúng. Đối với những âm, vần, tiếng dễ nhầm lẫn,
giáo viên cần phải so sánh, phân tích cụ thể cách phát âm (mơi – răng – lưỡi, đường
dẫn hơi, điểm thoát hơi…)
Người Thực hiện: Nguyễn Thị Phương Mai
2
Đề tài“Một số biện pháp rèn kỹ năng đọc cho học sinh học lớp 1- Công nghệ giáo dục”
Năm 2017- 2018
mới có thể ghép được các chữ cái với nhau để tạo thành vần, thành tiếng, ghép các
tiếng đơn lại với nhau tạo thành từ, thành câu.
Do vậy ở giai đoạn học sinh học phần âm, tôi giúp học sinh nắm chắc 23 phụ
âm và 14 nguyên âm của Tiếng Việt 1 – Công nghệ giáo dục. Biết phân biệt nguyên
âm, phụ âm qua phát âm dựa vào luồng hơi bị cản (phụ âm) hay luồng hơi đi ra tự
do (nguyên âm). Biết ghép phụ âm đầu với nguyên âm tạo thành tiếng có thanh
ngang, ghép tiếng có thanh ngang với các dấu thanh tạo thành tiếng khác nhau và
Người Thực hiện: Nguyễn Thị Phương Mai
3
Đề tài“Một số biện pháp rèn kỹ năng đọc cho học sinh học lớp 1- Công nghệ giáo dục”
Năm 2017- 2018
đọc ln được các tiếng đó. Ngồi ra tơi cũng hướng dẫn cho các em nắm vững các
nguyên âm đôi như: /iê/, /yê/, /ia/, /ya/, /uô/, /ua/, /ươ/, /ưa/. Biết phân tích tiếng
thanh ngang thành 2 phần: phần đầu và phần vần, phân tích tiếng có dấu thanh
thành tiếng thanh ngang và dấu thanh (cơ chế tách đôi). Yêu cầu của phần này là
học sinh đọc trơn, rõ ràng đoạn văn có độ dài 20 tiếng. Tốc độ đọc tối thiểu là 10
tiếng / phút. Với mỗi bài học sinh đọc trơi chảy từ mơ hình tiếng, tiếng từ, câu trong
bài.
Để đọc trên bảng tôi linh động chọn âm, tiếng đọc tùy vào đối tượng trong
lớp mình. Yêu cầu học sinh đọc từ dễ đến khó, từ tiếng có thanh ngang đến các
tiếng có dấu thanh (đe, đè, đé, đẻ, đẽ, đẹ), rồi đến (bè, dẻ, chè). Trong các tiết dạy
tơi đã sử dụng nhiều hình thức đọc (nhóm, cá nhân, cả lớp), các mức độ đọc (tonhỏ- nhẩm- thầm). Kết hợp đọc vỗ tay (nhóm, cá nhân, cả lớp).
Khi giới thiệu chữ cái vừa học, tôi mô phỏng nét cho học sinh, tôi chỉ vào
chữ in thường, chữ viết thường cho học sinh đọc để các em nhận và nhớ rõ mặt chữ
(đọc cá nhân, nhóm, tổ, lớp).
* Ví dụ: Khi dạy âm /h/
khơng giống nhau. Em thì tiếng /ba/, em thì /ca/, em thì /da/,…Mục đích của tôi
muốn học sinh cùng đưa chung một tiếng thanh ngang, tôi phải nêu thêm: “Đưa trở
lại tiếng /ha/ vào mơ hình”. Nêu tiếp: “Thêm thanh để có tiếng mới”. Các em đọc
nối tiếp tiếng các em có, tơi viết lên bảng ở việc 1 (ha, hà, há, hả, hã, hạ). Chỉ vào
các tiếng vừa viết cho học sinh đọc trơn, đọc kết hợp vỗ tay (cá nhân, nhóm, lớp).
Tơi có thể nêu: “Thay nguyên âm /a/ bằng các nguyên âm đã học để có tiếng mới.”
Học sinh nối tiếp đọc các tiếng các em thay, tôi viết lên bảng ở việc 1.
Việc 3: Tôi yêu cầu học sinh đọc trơn bài ở việc 1 theo thứ tự và không theo
thứ tự. Đọc sách Tiếng việt 1- Công nghệ giáo dục tôi thực hiện các thao tác sau:
Thao tác 1: Trò tự đọc: đọc nhỏ, đọc bằng mắt.
Thao tác 2: Đọc theo mẫu của thầy- đọc trơn.
Thao tác 3: Đọc cá nhân để kiểm tra.
Thao tác 4: Đọc theo tổ để củng cố.
Khi chỉ vào các tiếng mới cho học sinh đọc ở bảng việc 1 (kể cả đọc tiếng
khó ở việc 3) tuyệt đối giáo viên không đọc mẫu. Những tiếng nào học sinh khơng
đọc được thì che dấu thanh để học sinh đọc tiếng thanh ngang. Nếu tiếng thanh
ngang đó học sinh khơng đọc được, giúp học sinh nhận ra âm đầu, vần của tiếng đó
để đọc được tiếng có thanh ngang rồi sau đó đọc tiếng có dấu thanh. Trong từng tiết
học, từng bài ôn tôi luôn tìm đủ cách để kiểm tra phát hiện sự tiến bộ của các em
thông qua các bài đọc ở các mơn... từ đó củng cố thêm kiến thức cho học sinh. Khi
học sinh đã nắm chắc tất cả các âm đã học và ghi nhớ các chữ in thường thì việc
đọc bài của học sinh ở sách giáo khoa dễ dàng. Tôi luôn hiểu rõ là dạy cho học sinh
âm nào chắc âm đó. Sự vững chắc đạt được nhờ hai yếu tố: giải quyết dứt điểm
(từng đơn vị học) và nhắc lại thường xuyên, nhắc lại khi có cơ hội. Với quan điểm
dạy ngữ âm nên chương trình khơng đặt nặng về nghĩa mà tập trung vào cấu tạo
ngữ âm của tiếng. Nói như thế khơng có nghĩa là bỏ qua nghĩa, chương trình trước
hết giúp học sinh nắm được Tiếng Việt trong mối quan hệ ngữ âm của nó. Tiếng là
vật thật, chữ chỉ là vật thay thế. Cái mà học sinh lớp Một muốn nắm và cần phải
nắm trước hết là “vật thật”. Khi nắm được “vật thật” một cách chắc chắn rồi thì các
em mới có thể sử dụng nó trong học tập và giao tiếp. Khi đó nghĩa sẽ được các em
mức độ là giúp học sinh dễ dàng ghi nhớ nên tôi cần huấn luyện ngay từ đầu và làm
quyết liệt. Mỗi khi học sinh đọc phân tích tơi quan sát việc học của học sinh, giúp
học sinh nhận biết từng phần của tiếng có thanh ngang và tiếng có thêm thanh. Sang
giai đoạn học vần học sinh đã nắm vững các âm, các em còn được làm quen với các
kiểu chữ hoa như chữ viết hoa, chữ in hoa nên tôi tập cho học sinh nhận biết các
kiểu chữ hoa một cách chính xác để các em đọc đúng. Để giúp học sinh học tốt
phần vần, tôi tập cho học sinh thói quen: nhận diện, phân tích cấu tạo của vần, nhận
biết vị trí các âm trong vần để các em đọc vững.
* Ví dụ: Học vần /ay/, /ây/:
Việc 1:
- Cho học sinh nhận diện về cấu tạo vần /ay/: vần /ay/ gồm 2 âm: âm /a/ và
âm /y/. Vị trí âm trong vần: âm /a/ đứng trước, âm /y/ đứng sau.
- Đánh vần vần /ay/ :
- Hướng dẫn học sinh: âm /a/ đứng trước, ta đọc /a/ trước, âm /y/ đứng sau ta
đọc /y/ sau : /ay/ - /a/ - /y/ - /ay/ (đọc có vỗ tay).
- Đọc trơn vần: /ay/
- Tương tự với vần /ây/.
Với cách dạy phân tích, nhận diện như thế, nếu được áp dụng thường xuyên
cho mỗi tiết học vần chúng ta sẽ tạo cho các em kỹ năng phân tích, nhận diện dẫn
đến đánh vần, đọc trơn vần một cách dễ dàng và thành thạo giúp các em học phần
vần đạt hiệu quả tốt. Hàng ngày tôi luôn đưa ra cho học sinh so sánh vần đã học với
vần hôm nay học để học sinh so sánh. Dạy vần /ay/ cho học sinh so sánh với vần
/ai/, từ đây học sinh tìm ra giống nhau âm nào, khác nhau âm nào? Rồi so sánh cả
Người Thực hiện: Nguyễn Thị Phương Mai
6
Đề tài“Một số biện pháp rèn kỹ năng đọc cho học sinh học lớp 1- Công nghệ giáo dục”
Năm 2017- 2018
trong các tiết học trở thành một thói quen, tạo nề nếp học tập tốt.
Qua quá trình nghe để nhận xét, sửa sai giúp bạn, sẽ giúp học sinh
tự điều chỉnh, sửa sai cho mình. Đồng thời còn rèn luyện cho các
em tác phong mạnh dạn, tự tin trong góp ý, trao đổi, trình bày ý
kiến, góp phần hình thành nhân cách.
Ví dụ: Em có nhận xét gì về cách đọc của bạn?
- Bạn đọc to, rõ nhưng chưa ngừng nghỉ đúng chỗ.
- Bạn đọc trôi chảy nhưng bạn đọc chưa phân biệt rõ âm
/ch/, /tr/...
Người Thực hiện: Nguyễn Thị Phương Mai
7
Đề tài“Một số biện pháp rèn kỹ năng đọc cho học sinh học lớp 1- Công nghệ giáo dục”
Năm 2017- 2018
4/ Giúp học sinh kiên trì trong giờ luyện đọc.
Trong giờ luyện đọc cho học sinh, khi các em đọc chưa đúng,
phải điều chỉnh nhiều lần mà vẫn chưa đạt yêu cầu, các em sẽ dễ
chán nản, không muốn luyện tập. Khi ấy, giáo viên cần kiên trì
hướng dẫn, làm mẫu, yêu cầu học sinh đọc nhiều lần, thường
xuyên động viên khích lệ học sinh bằng những lời khen “Em đã đọc
tốt hơn rồi, em cố gắng thêm tí nữa nhé!”, “Em đã đọc được rồi
đấy, em cố gắng lên nhé!”…được động viên như vậy, học sinh sẽ
khơng nản lịng vì nghĩ rằng mình sẽ làm được, sắp làm được, bạn
làm được thì mình cũng sẽ làm được…từ đó học sinh sẽ quyết tâm
hơn. Trong số những học sinh phát âm sai, có một phần nhỏ học
sinh do lười biếng, khơng muốn rèn luyện mình nên chỉ phát âm
một cách nhanh chóng, đại khái cho xong, dần dần thành quen
Năm 2017- 2018
“Em đã có tiến bộ nhiều hơn rồi, cơ khen em!”...). Không chỉ khen những em đã
đọc tốt hơn mà tơi cịn khen cả những em đã giúp bạn đọc đúng, để từ đó các em có
động lực giúp bạn hơn, hứng thú với cơng việc đó hơn.
PHẦN IV: KẾT QUẢ
Sau một thời gian tìm hiểu nguyên nhân và áp dụng những biện pháp về việc
rèn kỹ năng đọc cho học sinh học Tiếng Việt 1 – Công nghệ giáo dục ở lớp đang
dạy. Kết quả bước đầu từ thực nghiệm thực tế đến nay được kết quả như sau:
Giai
đoạn
GHKI
TSHS
Đọc trôi chảy to, rõ
Đọc chậm, không sai lỗi
Đọc chậm , còn sai lỗi
31
SL
10
TL%
32,3%
SL
20
64,5%
10
32,3%
1
3,2%
100% các em đã đọc được hết bài. Tuy nhiên vẫn có em đọc nhỏ, đọc chậm
và có em cịn sai lỗi, nhưng nhiều em đã có sự tiến bộ trong cách đọc cũng như số
lượng mắc lỗi trong bài đọc của các em đã giảm.
Từ kết quả đạt được, tôi thấy khả năng đọc của các em được nâng lên, học
sinh hứng thú học tập, tạo không khí thoải mái khi học, học mà chơi, chơi mà học.
Bằng sự nhiệt tình trong cơng tác nghiên cứu giảng dạy, tôi đã vận dụng sáng
tạo những phương pháp đã học để hướng dẫn kèm cặp đối tượng học sinh lớp Một
để giúp các em đọc tốt, đọc chuẩn, đọc khơng sai lỗi.
Tuy rằng các em đọc cịn sai lỗi nhưng những biện pháp mà tôi đưa ra đã
giúp em đọc tốt hơn phần nào, nhìn nhận ra lỗi đọc của mình để có biện pháp sửa
chữa hợp lý.
PHẦN V. KẾT LUẬN
1/ Tóm lược giải pháp:
- Để giúp học sinh đọc bài một cách chắc chắn, giáo viên cần dành thời gian
để luyện đọc củng cố và nâng cao.
- Trong phần học sinh luyện đọc cá nhân – giáo viên cần chú ý tới các em đọc
chậm để giúp đỡ các em đó đọc – giáo viên cần động viên khích lệ kịp thời.
nhiều đến các em đọc chậm, ngại đọc để giúp các em có niềm tin, từ đó đọc thông
thạo, trôi chảy. Những biện pháp tôi đã thực hiện ở trên có thể áp dụng rộng rãi
trong việc dạy học Tiếng Việt 1- Công nghệ giáo dục cho các giáo viên của trường
Tiểu học Huỳnh Văn Đảnh và các trường trong huyện.
Người Thực hiện: Nguyễn Thị Phương Mai
10