MỤC LỤC
DANH MỤC SƠ ĐỒ BẢNG BIỂU
STT Tên Trang
Sơ đồ
1 Sơ đồ 1.1: Bộ máy quản lý công ty dệt kim Thăng Long 9
2 Sơ đồ 1.2: Mối quan hệ giữa các phân xưởng 11
3 Sơ đồ 1.3: Bộ máy kế toán của Công ty dệt kim Thăng Long 12
4 Sơ đồ 1.4: Trình tự ghi sổ kế toán theo hình thức NK-CT 16
5 Sơ đồ 2.1: Quy trình hạch toán tiêu thụ và XĐKQ tiêu thụ 21
6 Sơ đồ 2.2: Trình tự luân chuyển hoá đơn GTGT 23
Bảng biểu
1 Biểu 1.1: Một số chỉ tiêu tài chính qua các năm 5
2 Biểu 2.1: Sổ chi tiết bán hàng 27
3 Biểu 2.2: Sổ cái tài khoản 511 28
4 Biểu 2.3: Bảng tổng hợp tiêu thụ 29
5 Biểu 2.4: Sổ chi tiết tài khoản 532 31
6 Biểu 2.5: Sổ cái tài khoản 532 32
7 Biểu 2.6: Sổ chi tiết tài khoản 531 34
8 Biểu 2.7: Sổ cái tài khoản 531 35
9 Biểu 2.8: Sổ chi tiết thanh toán với khách hàng 37
10 Biểu 2.9: Sổ cái tài khoản 131 38
11 Biểu 2.10: Bảng kê số 11 phải thu của khách hàng TK 131 39
12 Biểu 2.11: Báo cáo kho thành phẩm 43
13 Biểu 2.12: Sổ chi tiết thành phẩm 44
14 Biểu 2.13: Sổ chi tiết tài khoản 641 48
15 Biểu 2.14: Sổ cái tài khoản 641 49
16 Biểu 2.15: Sổ chi tiết tài khoản 642 52
17 Biểu 2.16: Sổ cái tài khoản 642 53
18 Biểu 2.17: Sổ cái tài khoản 911 55
19 Biểu 3.1: Báo cáo tiêu thụ thành phẩm theo thị trường 68
20 Biểu 3.2: Dự toán sản phẩm sản xuất, tiêu thụ 68
hạch toán kế toán em đã xin đến thực tập tại phòng tài vụ Công ty dệt kim Thăng
Long. Sau thời gian nghiên cứu tìm hiểu em đã chọn đề tài “ Hoàn thiện kế toán
tiêu thụ thành phẩm và xác định kết quả tiêu thụ tại Công ty dệt kim Thăng
Long” và trình bày báo cáo chuyên đề thành 3 chương như sau:
Chương 1: Tổng quan về Công ty dệt kim Thăng Long
Chương 2: Thực trạng kế toán tiêu thụ thành phẩm và xác định kết quả
tiêu thụ tại Công ty dệt kim Thăng Long
Chương 3: Hoàn thiện kế toán tiêu thụ thành phẩm và xác định kết quả
tiêu thụ tại Công ty dệt kim Thăng Long
Chương 1: Tổng quan về Công ty dệt kim Thăng Long
1.1. Quá trình hình thành và phát triển của Công ty dệt kim Thăng Long
Công ty dệt kim Thăng Long là một doanh nghiệp nhà nước trực thuộc Sở
công nghiệp Hà Nội.
Tên gọi: Công ty dệt kim Thăng Long
Tên giao dịch quốc tế: Thang Long knitting company
Trụ sở chính: 46 Hàng Quạt Quận Hoàn Kiếm Hà Nội
Mã số thuế: 0100101241-1
Tổng số CBCNV năm 2007: 510
Điện thoại: 04-8256379
Fax: 04-8257511
Công ty dệt kim Thăng Long có đầy đủ tư cách pháp nhân, có con dấu
riêng, tự chủ trong sản xuất kinh doanh và hạch toán kinh tế độc lập. Công ty có
tài khoản riêng tại các ngân hàng:
Ngân hàng ngoại thương Việt Nam – Chi nhánh Hà Nội
Tài khoản VNĐ: 0021000002208
Tài khoản ngoại tệ: 0021370021559
Ngân hàng công thương KV.2 Hai Bà Trưng Hà Nội
Tài khoản VNĐ: 710A – 00320
Tài khoản ngoại tệ: 362101710A – 00120
Quá trình hình thành và phát triển của công ty trải qua nhiều giai đoạn mỗi giai
Quyết định này xuất phát từ ban lãnh đạo Sở Công nghiệp Hà Nội nhận
thấy giữa dệt kim và may mặc có liên hệ mật thiết với nhau, sản phẩm của ngành
dệt là nguyên vật liệu đầu vào cho ngành may mặc. Sau khi sáp nhập, công ty
tiến hành tổ chức lại quá trình sản xuất kinh doanh. Tổ chức nhân sự đã được
thay đổi tuy nhiên bộ máy quản lí vẫn còn cồng kềnh và kém hiệu quả. Quy trình
công nghệ với dây chuyền sản xuất mới nhưng hiệu suất sử dụng vẫn chưa cao.
Thời kì từ 1986 đến nay
Trong những năm này nền kinh tế nước ta chuyển từ cơ chế tập chung
quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường có sự quản lí của nhà nước, chính sách
đối với doanh nghiệp nhà nước cũng thay đổi theo. Bên cạnh đó, khi Liên Xô và
hệ thống các nước Xã hội chủ nghĩa tan rã khiến Công ty dệt kim Thăng Long đã
đứng trước một khó khăn lớn là mất đi thị trường truyền thống, hàng loạt công
nhân phải nghỉ việc. Mặt khác, khả năng cạnh tranh của Công ty trong cơ chế thị
trường rất thấp do máy móc thiết bị đã cũ, cơ sở hạ tầng xuống cấp. Sản phẩm
sản xuất ra với giá thành cao, hình thức mẫu mã chưa phù hợp và phong phú,
trình độ quản lý hạn chế do nhiều năm làm việc trong cơ chế kế hoạch hoá ổn
định.
Để tồn tại và phát triển trong cơ chế thị trường, Công ty đã tiến hành
nghiên cứu nắm bắt nhu cầu thị hiếu của khách hàng, chủ động trong khai thác
mọi nguồn lực. Công ty đã bổ sung thêm một số máy móc thiết bị nhằm nâng
cao chất lượng sản phẩm. Ngoài ra, Công ty đã có những biện pháp nhằm kiện
toàn và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý cũng như đội ngũ nhân công
các phân xưởng. Các phòng ban nghiệp vụ được bố trí lại với mục tiêu gọn nhẹ
và hiệu quả. Công ty đã tìm được các đối tác làm ăn lớn trong khu vực, đầu tư
thêm máy móc thiết bị tiên tiến của Nhật và thành lập tổ chức chuyên nghiên cứu
thị trường trong và ngoài nước. Công ty đã mạnh dạn vững bước trên con đường
kinh doanh trong nền kinh tế thị trường tiến tới tương lai với những thử thách và
thắng lợi mới.
Có thể khái quát tình hình tài chính của Công ty qua một số chỉ tiêu tài
chính chủ yếu trong những năm gần đây qua bảng sau:
chức theo mô hình trực tuyến. Bộ máy quản lý của Công ty xác định rõ chức
năng nhiệm vụ và mối quan hệ công tác giữa các phòng ban và các phân xưởng,
đảm bảo sự hợp tác chặt chẽ, thống nhất tạo ra sự thông suốt trong công việc.
Chức năng nhiệm vụ của tổ chức bộ máy quản lí được thể hiện qua sơ đồ 1.1-
trang 9.
Các phòng ban có chức năng riêng biệt của mình và đều trực thuộc sự quản lí
của giám đốc và các phó giám đốc.
Giám đốc: điều hành chung toàn bộ Công ty dưới sự trợ giúp của phó
giám đốc và các phòng nghiệp vụ, quyết định chiến lược phát triển ngắn hạn và
dài hạn trong các giai đoạn, tổ chức bộ máy và quản lý điều hành công tác cán bộ
của Công ty. Chỉ đạo giao nhiệm vụ, kiểm tra, bổ nhiệm, bãi nhiệm hoặc khen
thưởng kỉ luật theo mức độ mà hội đồng khen thưởng kỷ luật xem xét thông qua.
Chịu trách nhiệm về hoạt động sản xuất kinh doanh của toàn Công ty trước cơ
quan cấp trên và các cơ quan tài chính.
Các phó giám đốc: chịu trách nhiệm trước giám đốc và pháp luật về những
nội dung công việc được phân công và uỷ quyền. Cần phải thực hiện việc báo
cáo định kỳ và nghiên cứu đề xuất việc giải quyết những nội dung công việc
hàng tháng, quý trong quản lý doanh nghiệp theo chức trách đã phân công phân
quyền.
Phó giám đốc kỹ thuật: phụ trách về kỹ thuật và kế hoạch trong sản xuất.
Quản lý kỹ thuật, chất lượng, thời gian và kiểm tra chỉ đạo hướng dẫn việc thực
hiện các biện pháp tổ chức và quản lý sản xuất. Đảm bảo khi các thông tin của
phòng kế hoạch vật tư chuyển lên phó giám đốc phải được giải quyết ngay nếu
thấy là hợp lý, nếu không hợp lý phải được họp bàn lại cho thống nhất.
Phó giám đốc tổ chức hành chính: phụ trách về nhân sự cũng như đời sống
của công nhân, giải quyết các vấn đề liên quan đến đời sống tinh thần, vật chất
của công nhân viên. Đảm bảo chất lượng cuộc sống và môi trường làm việc là
trách nhiệm của phó giám đốc tổ chức hành chính trước giám đốc Công ty.
Phòng tài vụ: là nơi thu thập, xử lý, cung cấp thông tin về tài chính kế toán
của toàn Công ty. Tổ chức hạch toán kinh tế về hoạt động sản xuất kinh doanh
dụng lao động, năng lực cán bộ để báo cáo định kỳ hoặc đột xuất với giám đốc,
cơ quan cấp trên theo quy định.
Tổ chức quản lí tốt hồ sơ lý lịch của cán bộ công nhân viên toàn công ty,
giải quyết thủ tục về chế độ tuyển dụng, thôi việc, bổ nhiệm, bãi nhiệm, kỷ luật,
khen thưởng, nghỉ hưu. Quản lý công văn giấy tờ sổ sách hành chính và con dấu,
thực hiện lưu trữ và bảo mật các tài liệu. Hỗ trợ về mặt pháp lý cho các phòng
ban trong việc soạn thảo các hợp đồng mua bán. Chịu trách nhiệm kiểm tra tính
pháp lý trước khi đóng dấu chứng từ hoá đơn mua bán vật tư của phòng tài vụ
quản lý. Phòng hành chính có 2 đơn vị trực thuộc là phòng bảo vệ và phòng y tế.
Phòng tổ chức hành chính, phòng y tế và phòng bảo vệ chịu sự quản lý
trực tiếp của phó giám đốc tổ chức hành chính.
Sơ đồ 1.1 BỘ MÁY QUẢN LÝ CÔNG TY DỆT KIM THĂNG LONG
1.2.2. Đặc điểm tổ chức sản xuất kinh doanh
Các
phân
xưởng
Phòng
kỹ
thuật
Phòng
tài vụ
Phòng
kế
hoạch
vật tư
Phòng
bảo
vệ, y
tế
Phòng
hàng, các hợp đồng kinh tế đã ký kết, đồng thời căn cứ vào nhu cầu thị trường
của từng thời kì. Mọi hoạt động kinh doanh được tổ chức tập trung và được
thông qua phòng chuyên môn là phòng kế hoạch vật tư. Chức năng của phòng
này là nắm bắt nhu cầu khách hàng, xây dựng giá thành, tiến hành xâm nhập mở
rộng thị trường và mạng lưới tiêu thụ, đồng thời bán hàng cho khách. Mọi nhu
cầu của khách hàng được đề bạt với phòng kế hoạch vật tư, nếu là hàng truyền
thống và đã có sẵn trong kho thì nhân viên bán hàng có nhiệm vụ viết hoá đơn và
kết hợp với bộ phận kho để xuất hàng cho khách. Trong trường hợp là đơn đặt
hàng theo yêu cầu của khách hàng thì bộ phận bán hàng có trách nhiệm vụ nhận
đơn đặt hàng chuyển lên phòng kế hoạch vật tư và từ phòng này chuyển xuống
các phân xưởng sản xuất.
Quy trình sản xuất sản phẩm của công ty được xác định là quy trình công
nghệ phức tạp kiểu chế biến liên tục, thành phẩm nhập kho là kết quả chế biến từ
nhiều công đoạn khác nhau.
Do yêu cầu của công tác quản lý và đảm bảo cho sản xuất tiến hành thuận lợi
Công ty đã sáp nhập hai phân xưởng cắt và may thành một. Mỗi phân xưởng đều
có một quản đốc và một phó quản đốc, tuỳ thuộc vào đặc tính của sản xuất và
khối lượng công việc mà bố trí 2 hoặc 3 nhân viên chuyên ngành kỹ thuật giúp
việc cho quản đốc.
Quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm của Công ty là quy trình công nghệ khép
kín gồm 3 giai đoạn, cụ thể như sau:
Giai đoạn 1: Dệt vải mộc
Giai đoạn 2: Tẩy vải mộc thành vải trắng và nhuộm màu cho vải
Giai đoạn 3: Cắt may thành sản phẩm hoàn chỉnh
Từ đó hình thành nên cơ cấu sản xuất của công ty bao gồm 3 phân xưởng sản
xuất chính là phân xưởng Dệt, phân xưởng Tẩy nhuộm và phân xưởng Cắt may.
Phân xưởng Dệt khởi đầu cho quá trình sản xuất, có nhiệm vụ sản xuất ra
vải mộc từ sợi bông, chất lượng sản phẩm sản xuất ra 70% phụ thuộc vào
phân xưởng này.
Phân xưởng Tẩy nhuộm với chức năng tẩy trắng toàn bộ vải mộc và
xưởng
Kế toán
vật liệu
và
CCDC
Kế
toán
tiền
lương
và
TSCĐ
Kế
toán
thanh
toán
Kế toán
chi phí
sản
xuất và
tính giá
thành
Kế toán
thành
phẩm
và tiêu
thụ
thành
phẩm
Thủ
quỹ
Thủ quỹ: chịu trách nhiệm về quỹ tiền mặt của Công ty. Hàng ngày căn cứ
vào các phiếu thu phiếu chi hợp lệ để xuất nhập quỹ, ghi sổ quỹ phần thu chi.
Cuối tháng đối chiếu với sổ quỹ của kế toán tiền mặt.
Các nhân viên kinh tế ở phân xưởng: có nhiệm vụ hướng dẫn và thực hiện
hạch toán ban đầu, thu nhận và kiểm tra sơ bộ chứng từ phản ánh nghiệp vụ kinh
tế phát sinh ở bộ phận đó và gửi những chứng từ đó về phòng tài vụ.
1.3.2. Đặc điểm tổ chức hình thức sổ kế toán
Hiện nay Công ty dệt kim Thăng Long đang áp dụng hệ thống tài khoản
theo quyết định số 15/2006/QĐ- BTC ngày 20/03/2006 của Bộ trưởng Bộ Tài
chính. Tuy nhiên do đặc điểm sản xuất kinh doanh nên doanh nghiệp không sử
dụng một số tài khoản sau: 113, 121, 128, 129, 151, 159, 229, 352, 521, 611,
631, 632...Công ty cũng đã sử dụng hầu hết các chứng từ do Bộ Tài chính ban
hành, bao gồm: chứng từ về lao động tiền lương, hàng tồn kho, bán hàng, tiền tệ,
tài sản cố định.
Công ty Dệt kim Thăng Long đang áp dụng hình thức kế toán nhật ký
chứng từ và hạch toán hàng tồn kho theo phương pháp kê khai thường xuyên.
Hình thức này phù hợp với đặc điểm tổ chức sản xuất của Công ty là tương đối
phức tạp với nhiều chủng loại sản phẩm. Trình tự ghi sổ được thể hiện ở sơ đồ
1.4- trang 17.
Hàng ngày kế toán căn cứ vào các chứng từ gốc, kế toán ghi vào các bảng
kê và nhật ký - chứng từ và các sổ chi tiết có liên quan.
Đối với các loại chi phí sản xuất, kinh doanh phát sinh nhiều lần hoặc mang tính
chất phân bổ, các chứng từ gốc trước hết được tập hợp và phân loại trong các
bảng phân bổ, sau đó lấy số liệu kết quả của các bảng phân bổ ghi vào các bảng
kê và nhật ký - chứng từ có liên quan.
Đối với nhật ký - chứng từ được ghi căn cứ vào bảng kê, sổ chi tiết thì căn cứ
vào số liệu tổng cộng của bảng kê, sổ chi tiết cuối tháng, cuối quý chuyển số liệu
vào nhật ký - chứng từ.
Đối với chứng từ có liên quan đến các sổ, thẻ kế toán chi tiết thì được ghi trực
tiếp vào các sổ, thẻ có liên quan. Cuối tháng, cuối quý cộng các sổ hoặc thẻ kế
Ghi chú
Ghi hàng ngày
Ghi cuối tháng
Đối chiếu, kiểm tra
BÁO CÁO TÀI CHÍNH
Tính thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ
Xuất ngoại tệ theo giá thực tế
Chương 2: Thực trạng kế toán tiêu thụ thành phẩm và xác định
kết quả tiêu thụ tại Công ty dệt kim Thăng Long
2.1. Đặc điểm về tiêu thụ thành phẩm
2.1.1. Đặc điểm về thành phẩm tiêu thụ của Công ty
Với đặc điểm của hàng dệt may, sản phẩm của Công ty mang tính đa dạng,
phong phú. Sản phẩm được phân chia thành 2 loại chính là hàng tiêu thụ nội địa
và hàng xuất khẩu. Các mặt hàng đó có thể do Công ty tự sản xuất hoặc là hàng
nhận gia công.
Hàng tiêu thụ nội địa là những mặt hàng mà Công ty sản xuất ra để tiêu
thụ trong nước như: áo DK Bắc Hà g/c, áo dệt kim nữ Hoàng Dương, áo T- shirt
trắng, áo AL 1120, quần DK trẻ em, quần áo mưa các loại...
Hàng xuất khẩu là những sản phẩm mà công ty chủ yếu sản xuất theo đơn
đặt hàng của các bạn hàng nước ngoài như: áo T- shirt Đại, T- shirt Hằng, áo
Poloshirt 99002, Jacket 903, 905... Hiện nay thị trường xuất khẩu chủ yếu là
Đức, Ba Lan và Đài Loan.
Hàng gia công là những sản phẩm được sản xuất bằng nguyên vật liệu do
khách hàng mang đến. Công ty gia công theo mẫu mã và quy cách mà khách
hàng yêu cầu.
Đặc điểm đa dạng về chủng loại, kích cỡ ảnh hưởng lớn đến công tác tiêu
thụ sản phẩm của công ty, các mã sản phẩm được quy định cùng với mã khách
hàng. Các mã sản phẩm này chỉ được dùng một lần từ khi bắt đầu sản xuất cho
đến khi kết thúc hợp đồng. Bên cạnh đó, do nhu cầu tiêu thụ ngày càng lớn, việc
cạnh tranh với các sản phẩm cùng loại đòi hỏi chất lượng sản phẩm cũng ngày
hàng và Công ty sẽ ký kết các đơn hàng, các hợp đồng kinh tế trong đó quy định
rõ số lượng, chủng loại, quy cách chất lượng sản phẩm, phương thức giao hàng,
thời hạn giao hàng, phương thức thanh toán...Công ty sẽ căn cứ vào các đơn đặt
hàng, các hợp đồng kinh tế đã ký kết để tiến hành sản xuất sản phẩm.
Đối với hoạt động gia công thì Công ty cũng ký các hợp đồng gia công sản
phẩm với khách hàng, đảm bảo đúng chất lượng mà khách hàng yêu cầu.
Ngoài ra Công ty còn tiến hành tiêu thụ sản phẩm thông qua các đại lý,
các đại lý đã ký kết hợp đồng với Công ty thì được hưởng phần trăm hoa hồng
theo thoả thuận giữa 2 bên.
Với mục tiêu tăng doanh thu đẩy mạnh tiêu thụ Công ty luôn tiến hành tìm
hiểu thị trường, xu hướng thời trang từng mùa từng năm, đồng thời cũng có
những hình thức quảng cáo phù hợp để sản phẩm của Công ty có thể đến tay
người tiêu dùng và phục vụ khách hàng một cách tốt nhất.
2.1.4. Đặc điểm về phương thức thanh toán
Phương thức thanh toán với ngân sách nhà nước (NSNN)
Để thanh toán thuế GTGT phải nộp NSNN trong quá trình tiêu thụ sản
phẩm, Công ty đang áp dụng phương thức thanh toán trực tiếp. Hàng tháng kế
toán tính ra số thuế phải nộp NSNN và kế toán trưởng sẽ chịu trách nhiệm thanh
toán số thuế phải nộp cho cơ quan thuế.
Phương thức thanh toán với người mua
Hiện nay tại Công ty chủ yếu có 2 phương thức thanh toán với người mua
trong nước như sau:
+ Phương thức thanh toán trả tiền ngay: những khách hàng áp dụng phương thức
thanh toán này thường là những cá nhân, đơn vị có khả năng tài chính mạnh đáp
ứng được nhu cầu thanh toán ngay hoặc những khách hàng mua hàng với khối
lượng ít, giao dịch mua bán không thường xuyên với công ty, hoặc lịch sử khách
hàng không đáng tin cậy.
+ Phương thức thanh toán trả chậm: được áp dụng với những khách hàng lâu
năm có uy tín và có hoạt động mua bán thường xuyên với Công ty. Thời hạn
thanh toán và phương thức thanh toán thường đã được ghi rõ trong các đơn đặt
TK 511
NHẬT KÝ CHỨNG TỪ
SỐ 8
Sổ chi
tiết TK
131
Bảng kê
số 11
Sổ cái các TK
(155,157,131,511,531,
532,641,642,911...)
BÁO CÁO TÀI
CHÍNH