Chuyên đề tốt nghiệp ĐH Kinh tế quốc dân
LỜI MỞ ĐẦU
Trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh ngày càng gay gắt, bắt buộc
mỗi doanh nghiệp phải nỗ lực hết sức mình để tồn tại và phát triển, doanh
nghiệp phải tự trang trải chi phí cho mình và kinh doanh có lãi, điều đó đòi
hỏi các nhà quản lý phải đưa ra các biện pháp cắt giảm chi phí, phấn đấu hạ
giá thành sản phẩm. Nguyên vật liệu là một yếu tố chi phí chiếm tỷ trọng lớn
trong cơ cấu chi phí sản xuất tạo ra sản phẩm mới. Vậy làm thế nào để tiết
kiệm được chi phí nguyên vật liệu mà vẫn đảm bảo được số lượng sản phẩm,
đáp ứng được nhu cầu thị trường với chất lượng tốt và giá thành hạ, đó chính
là một bài toán khó đối với các nhà quản lý. Để giải được bài toán này đòi hỏi
phải có sự đóng góp không nhỏ của các nhân viên kế toán nói chung và nhân
viên kế toán nguyên vật liệu nói riêng, bằng những số liệu thực tế và công tác
hạch toán có hiệu quả, kế toán nguyên vật liệu sẽ theo dõi và đánh giá sử
dụng nguyên vật liệu trong doanh nghiệp và từ đó cung cấp thông tin bổ ích
cho nhà quản lý.
Dưới góc độ là một tài sản lưu động của doanh nghiệp và còn là một
yếu tố đầu vào quan trọng trong khâu sản xuất, nguyên vật liệu bao gồm
nhiều loại, nhiều thứ lại thường xuyên biến động, vì vậy việc theo dõi và hạch
toán nguyên vật liệu là vô cùng cần thiết, nếu không quản lý một cách chặt
chẽ sẽ gây ra những tổn thất về mặt kinh tế, mặt khác tổ chức tốt công tác
quản lý và hạch toán nguyên vật liệu sẽ là điều kiện để nâng cao chất lượng
sản phẩm tiết kiệm chi phí, tăng năng suất lao động để từ đó tăng lợi nhuận
cho doanh nghiệp.
Xuất phát từ vị trí và tầm quan trọng của công tác quản lý và hạch
toán nguyên vật liệu tại xí nghiệp liên doanh sản xuất ô tô Hoà Bình và dựa
trên cơ sở những kiến thức đã học cùng với sự giúp đỡ nhiệt tình của cô giáo
Ths Nguyễn Hồng Thuý và các cán bộ kế toán phòng Tài chính của Xí nghiệp
Nguyễn Kim Dung - Lớp Kế toán CD - Tại chức K7A4 Hà Nội
1
Chuyên đề tốt nghiệp ĐH Kinh tế quốc dân
- Phía Việt Nam: Nhà máy ôtô Hoà Bình thuộc tổng công ty cơ khí giao
thông vận tải và công ty xuất nhập khẩu và cung ứng vật tư thuộc bộ
giao thông vận tải. Nhà máy ôtô Hoà Bình làm đại diện phía Việt Nam.
- Phía nước ngoài gồm hai đối tác:
• Công ty Columbian Motors Corportion (CMC) (Philippines)
• Công ty Pan Pacific INC (IPP) sau chuyển quyền liên doanh cho
Nochimen Corporation (Nhật Bản).
Liên doanh ô tô Hoà Bình do công ty Columbian Motors Corparation làm
chủ đại diện.
Tên chính thức của liên doanh: Xí nghiệp liên doanh sản xuất ôtô Hoà
Bình.
Nguyễn Kim Dung - Lớp Kế toán CD - Tại chức K7A4 Hà Nội
3
Chuyên đề tốt nghiệp ĐH Kinh tế quốc dân
Tên giao dịch: Viet Nam Motors Corporation.
Tên viết tắt: VMC.
Trụ sở chính: Km 9 - Đường Nguyễn Trãi – Thanh Xuân – Hà Nội.
Sau thời gian hoạt động khoảng một năm, công ty xuất nhập khẩu và cung
ứng vật tư của phía Việt Nam và công ty Pacific Co.Ltd của phía nước ngoài
đã rút khỏi liên doanh, công ty Nichimen (Nhật Bản) đã thay thế công ty
Pacific.
VMC được thành lập với tổng số vốn ban đầu là 33.150.000 USD.
Trong đó:
• Vốn cố định là 9.593.000 USD.
• Vốn lưu động là 23.557.000 USD
• Vốn pháp định là 10.000.000 USD. Bao gồm 3 đối tác góp vốn là:
Phía Việt Nam: Nhà máy ôtô Hào Bình góp 3.000.000 USD chiếm
30% vốn pháp định.
Phía nước ngoài: 70% tổng số vốn pháp định.
Trong đó:
Liên doanh ôtô Hoà Bình là một trong những liên doanh ôtô ra đời sớm
nhất nước ta, nó đã góp phần vào việc phát triển công nghiệp ôtô trong nước.
Ngay sau khi mới thành lập, đầu năm 1992, sau khi đã hoàn chỉnh dây chuyền
giá đỡ dân dụng và máy móc, trang thiết bị phục vụ sản xuất đảm bảo công
suất 2000 xe/năm. VMC bắt tay ngay vào lắp ráp những chiếc xe dạng CKD
đầu tiên và được thị trường chấp nhận. Đến tháng 4 năm 1992 những chiếc xe
CKD2 được sản xuất với 4 kiểu loại khác nhau và được vào các cửa hàng bày
bán, những chiếc ôtô bán ra của VMC luôn đảm bảo chất lượng và được
khách hàng ưu thích.
Nguyễn Kim Dung - Lớp Kế toán CD - Tại chức K7A4 Hà Nội
5
Chuyên đề tốt nghiệp ĐH Kinh tế quốc dân
2. ĐẶC ĐIỂM TỔ CHỨC BỘ MÁY QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG SẢN
XUẤT KINH DOANH:
Xí nghiệp liên doanh sản xuất ôtô Hoà Bình là một doanh nghiệp kinh
doanh trong lĩnh vực sản xuất và thương mại nhằm đảm bảo nhu cầu của
người tiêu dùng về phương tiện đi lại mang tính chất công nghiệp hoá, đó
chính là ôtô. Do đó ngay từ khi mới thành lập, VMC đã xác định được chức
năng của mình là:
Sản xuất, lắp ráp tiến tới chế tạo các loại xe ôtô như xe 4 chỗ ngồi,
xe tải nhẹ, xe du lịch.
Cung cấp các dịch vụ bảo hành và sửa chữa ôtô cho thị trường nội
địa thông qua đội ngũ nhân viên có tay nghề cao.
Để đạt được kết quả tốt nhất trong quá trình sản xuất kinh doanh,
ngoài việc xác định rõ những chức năng của mình, VMC còn phải thực hiện
những nhiệm vụ của mình, đó là sự cụ thể hoá các chức năng đã nêu trên bao
gồm: Xây dựng chương trình sản xuất kinh doanh phù hợp với từng thời kỳ
khác nhau trong khuôn khổ của pháp luật. Tổ chức tiếp nhận hàng hoá nhập
khẩu (linh kiện phụ tùng) cho hoạt động sản xuất, lắp ráp đảm bảo chất lượng
ôtô bán ra. Tổ chức mọi hoạt động sản xuất tài chính, nhân sự, marketing, tôn
Nguyễn Kim Dung - Lớp Kế toán CD - Tại chức K7A4 Hà Nội
8
HỘI ĐỒNG
QUẢN TRỊ
TỔNG GIÁM
ĐỐC
PHÒNG TÀI
CHÍNH
PHÒNG HÀNH
CHÍNH
PHÒNG
MARKETING
CHI NHÁNH
HỒ CHÍ MINH
Trung tâm
KM10
Trung tâm
Minh Khai
Trung tâm
Nguyễn Biểu
Trung tâm
Cộng Hoà
PHÓ TỔNG
GIÁM ĐỐC
PHÒNG KỸ THUẬT PHÒNG VẬT TƯ PHÒNG SẢN XUẤT PHÒNG KCS
FX Gò hàn FX Sơn
FX Lắp ráp
FX Kiểm tra xe
FX Hoàn thiện
9
Chuyên đề tốt nghiệp ĐH Kinh tế quốc dân
tiền mặt và các hình thức thanh toán khác. Thực hiện công tác thanh toán
trong nội bộ và ngoài xí nghiệp. Thực hiện thanh quyết toán quý, 6 tháng,
năm của xí nghiệp. Báo cáo giám đốc tình trạng lãi lỗ của các công trình và
sản phẩm. Kiểm tra giám sát việc thực hiện của xí nghiệp đúng với chế độ tài
chính kế toán quy định. Chủ động lo vốn sản xuất kinh doanh, theo dõi đối
chiếu công nợ trong ngoà xí nghiệp. Tham mưu duyệt các quyết toán xí
nghiệp.
+ Phòng marketing: Khai thác thị trường, chào hang và bán các sản phẩm
của xí nghiệp. Đầu mối xử lý thong tin đầu vào của xí nghiệp. Tổ chức phối
hợp hoạt động của các phòng, các xí nghiệp để hoàn thành kế hoạch sản xuất
kinh doanh của xí nghiệp. Phối hợp cùng phòng tài chính giải quyết thanh
toán công nợ, đòi nợ. Thảo các hợp đồng, thanh lý các hợp đồng, giám sát
việc thực hiện các hợp đồng của xí nghiệp. Làm thủ tục đầu tư, tham gia mua
bán đầu tư thiết bị, soạn thảo các văn bản liên quan trình giám đốc. Tham gia
điều hành quá trình sản xuất kinh doanh của xí nghiệp. Xây dựng giá thành
tiến độ cho các sản phẩm.
+ Phòng kỹ thuật: Thiết kế các sản phẩm mới. Quản lý hồ sơ kỹ thuất các
sản phẩm của xí nghiệp. Đảm bảo công tác khoa học công nghệ kỹ thuật của
toàn xí nghiệp. Thiết kế xây dựng định mức kỹ thuật cơ bản của sản phẩm.
Giải quyết các công tác kỹ thuật đột xuất của xí nghiệp. Thực hiện nhiệm vụ
thiết kế theo đúng hợp đồng kinh tế đã ký với khách hàng. Quản lý kiểm tra
hướng dẫn các xí nghiệp thực hiện chế tạo các sản phẩm đúng mẫu mã, đúng
yêu cầu kỹ thuật, quy trình kỹ thuật. Nghiên cứu cải tiến, hiệu chỉnh hoàn
thiện công nghệ chế tạo các sản phẩm của xí nghiệp để nâng cao chất lượng
giảm giá thành sản phẩm. Xây dựng chương trình sản phẩm mới hàng năm và
dài hạn của xí nghiệp.
Nguyễn Kim Dung - Lớp Kế toán CD - Tại chức K7A4 Hà Nội
10
- Năm có nhiều thay đổi trong bộ máy quản lý do tách tỉnh, do đó nhu cầu
mua sắm cao.
Tuy nhiên VMC bắt đầu làm ăn thua lỗ vào năm 1997 gây ảnh hưởng
lớn tới sự phát triển trong những năm 1998 – 2000. Nguyên nhân dẫn đến tình
trạng này là do:
- Nhu cầu thị trường giảm xuống.
- Nhà nước thực hiện chính sách tiết kiệm.
- Nhu cầu loại xe mà khách hàng mong muốn đã được khai thác hết.
- Ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ Châu Á.
Từ năm 2001 đến năm 2003 VMC bắt đầu làm ăn có lãi, một phần do
nhu cầu thị trường tăng mạnh, một phần do VMC đã có những chíh sách bán
hàng và sau bán hàng linh hoạt hơn, hấp dẫn khách hàng hơn. Ngoài ra VMC
không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm, thay đổi mẫu mã thu hút được
sự chú ý cũng như tạo được uy tín với khách hàng. VMC cũng tạo ra được
một chính sách bán hàng rất cạnh tranh, dịch vụ hậu mãi hết sức tốt.
Bảng kết quả hoạt động kinh doanh của VMC trong 4 năm gần đây:
Chỉ tiêu Năm 2004 Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007
1. Doanh thu thuần 463.827.409 752.150.680 1.656.817.652 1.822.499.417
2. Lợi nhuận từ hoạt
động kinh doanh
97.064.706 116.529.100 266.350.792 292.985.871
3. Lợi nhuận trước
thuế
79.697.992 126.907.813 274.845.135 302.329.648
4. Lợi nhuận sau
thuế
70.601.433 104.445.271 225.114.956 247.626.451
Nguyễn Kim Dung - Lớp Kế toán CD - Tại chức K7A4 Hà Nội
12
Chuyên đề tốt nghiệp ĐH Kinh tế quốc dân
Kế toán quỹ: Làm các công việc liên quan đến quỹ
Ngoài ra để hoàn thiện hơn bộ máy kế toán, tại VMC còn có bộ phận kiểm
toán nội bộ có chức năng kiểm toán trong phạm vi đơn vị.
Hệ thống tổ chức bộ máy kế toán tại xí nghiệp liên doanh sản xuất ô tô
Hoà Bình có thể khái quát bằng sơ đồ 2 sau:
Sơ đồ 2
2. ĐẶC ĐIỂM VẬN DỤNG CHẾ ĐỘ KẾ TOÁN TẠI XÍ NGHIỆP
LIÊN DOANH SẢN XUẤT Ô TÔ HOÀ BÌNH:
Để phù hợp với điều kiện thực tế trong hoạt động sản xuất kinh
doanh, hạch toán kế toán tại VMC đã áp dụng chế độ kế toán Việt Nam.
2.1 – Đặc điểm chính sách kế toán của Xí nghiệp
Niên độ kế toán: Từ ngày 01/01/N đến ngày 31/12/N
Đơn vị tiền tệ sử dụng trong ghi chép sổ sách kế toán là: VNĐ
Hình thức sổ kế toán: Nhật ký chứng từ
Phương pháp hạch toán chi tiết vật liệu: Phương pháp thẻ song song
Phương pháp hạch toán tổng hợp vật liệu: Phương pháp kê khai thường
xuyên
Nguyễn Kim Dung - Lớp Kế toán CD - Tại chức K7A4 Hà Nội
14
Kế toán trưởng
Các giám sát
phòng
Kế
toán
vật tư
Kế
toán
giá
thành
Kế toán
quân cả kỳ dự trữ.
2.2 - Hệ thống chứng từ kế toán:
• Chứng từ lao động – tiền lương:
- Bảng chấm công
- Bảng chấm công làm thêm giờ
- Bảng thanh toán tiền lương
- Bảng thanh toán tiền thưởng
- Giấy đi đường
- Phiếu xác nhận công việc hoàn thành
- Bảng thanh toán tiền làm thêm giờ
- Bảng thanh toán tiền thuê ngoài
- Hợp đồng giao khoán
- Biên bản thanh lý (nghiệm thu) hợp đồng giao khoán
- Bảng kê trích nộp các khoản theo lương
- Bảng phân bổ tiền lương và BHXH
• Chứng từ hàng tồn kho:
- Phiếu nhập kho
- Phiếu xuất kho
- Biên bản kiểm nghiệm
- Phiếu báo vật tư còn lạI cuốI kỳ
- Biên bản kiểm kê
- Bảng kê mua hàng
- Bảng phân bổ nguyên liệu, vật liệu, công cụ, dụng cụ
• Chứng từ tiền tệ:
- Phiếu thu
Nguyễn Kim Dung - Lớp Kế toán CD - Tại chức K7A4 Hà Nội
15
Chuyên đề tốt nghiệp ĐH Kinh tế quốc dân
- Phiếu chi
- Giấy đề nghị tạm ứng
Báo cáo bắt buộc của VMC bao gồm:
+ Bảng Cân đối kế toán
+ Báo cáo kết quả kinh doanh
+ Thuyết minh báo cáo tài chính
+ Báo cáo lưu chuyển tiền tệ.
Các số liệu của báo cáo được lấy từ việc hoàn tất ghi sổ kế toán chi tiết,
tiến hành khoá sổ kế toán, tính ra số dư cuối kỳ của các tài khoản tổng hợp và
tài khoản phân tích, kiểm tra đối chiếu số liệu kế toán giữa sổ sách có liên
quan đảm bảo khớp và đúng.
Nguyễn Kim Dung - Lớp Kế toán CD - Tại chức K7A4 Hà Nội
17
Chuyên đề tốt nghiệp ĐH Kinh tế quốc dân
S ơ đồ 3
Ghi chú: 1: Ghi hàng ngày
2, 3, 4, 5, 6,7 : Ghi cuối tháng
8: Quan hệ đối chiếu.
Nguyễn Kim Dung - Lớp Kế toán CD - Tại chức K7A4 Hà Nội
18
CHỨNG TỪ
GỐC
Sổ (thẻ) kế toán
chi tiết
Sổ quỹ
BẢNG PHÂN
BỔ
NHẬT KÝ - CHỨNG TỪ
BẢNG KÊ
SỔ CÁI
BÁO CÁO KẾ TOÁN
Bảng tổng hợp
Đối với doanh nghiệp sản xuất, số lượng và chất lượng sản phẩm tạo ra
đều bị chi phối bởi số nguyên vật liệu ban đầu. Nguyên vật liệu có đảm bảo
được chất lượng cao, đúng quy cách chủng loại thì chi phí nguyên vật liệu
mới được hạ thấp, định mức tiêu hao vật liệu trong quá trình sản xuất giảm
xuống thì khi đó sản phẩm sản xuất ra mới đạt yêu cầu chất lượng và giá
thành hạ. Mặt khác theo dõi quản lý nguyên vật liệu còn ảnh hưởng đến chỉ
tiêu quan trọng của doanh nghiệp như chỉ tiêu sản lượng, chất lượng, doanh
thu, chi phí, lợi nhuận, … chính vì vậy đòi hỏi doanh nghiệp cần phải quản lý
chặt chẽ nguyên vật liệu ở tất cả các khâu: thu mua, bảo quản dự trữ và xuất
dùng, chú trọng đến việc tiết kiệm triệt để, tránh lãng phí nguyên vật liệu
trong quá trình sản xuất.
Trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay, việc sử dụng hợp lý và tiết
kiệm nguyên vật liệu có hiệu quả càng được coi trọng, làm sao để với cùng
Nguyễn Kim Dung - Lớp Kế toán CD - Tại chức K7A4 Hà Nội
19
Chuyên đề tốt nghiệp ĐH Kinh tế quốc dân
một khối lượng nguyên vật liệu có thể sản xuất ra nhiều sản phẩm nhất, giá
thành hạ thấp nhất mà vẫn đảm bảo chất lượng tốt cho người tiêu dung
Quản lý nguyên vật liệu có thể xem xét trên các khía cạnh sau:
Về khâu thu mua:Nguyên vật liệu là tài sản dự trữ cho sản xuất, thuộc tài
sản lưu động của doanh nghiệp, nó thường xuyên biến động do các doanh
nghiệp phải liên tục cung ứng vật tư nhằm đáp ứng kịp thời cho sản xuất. Cho
nên trong khi mua phải quản lý về khối lượng, quy cách, chủng loại vật tư
theo đúng yêu cầu sản xuất, giá mua hợp lý, thích hợp với chi phí mua từ đó
phấn đầu hạ thấp giá thành sản phẩm.
Về khâu dự trữ vật liệu: Đòi hỏi doanh nghiệp phải xác định được định
mức tối đa, tối thiểu để đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh được liên
tục, bình thường, không quá nhiều gây ứ đọng vốn, cũng không quá ít làm
ngừng trệ, gián đoạn quá trình sản xuất.
Về khâu sử dụng:Yêu cầu phải tiết kiệm, hợp lý trên cơ sở các định mức
nghiệp mua vào nhằm mục đích đầu tư cho xây dựng cơ bản.
f. Phế liệu: Là những vật liệu loại ra trong quá trình sản xuất kinh
doanh của đơn vị, phế liệu thường mất hết hoặc mất phần lớn giá trị
sử dụng. Ví dụ như sắt thép vụn, …
g. Vật liệu khác: Bao gồm các loại vật liệu còn lại ngoài các thứ chưa
kể trên như bao bì, vật đóng gói, các loại vật tư đặc chủng,…
Hạch toán nguyên vật liệu theo cách phân loại này sẽ đáp ứng được yêu
cầu phản ánh tổng quát về mặt giá trị đối với mỗi loại nguyên vật liệu, đảm
bảo thuận tiện, tránh nhầm lẫn cho công tác quản lý và hạch toán về số lượng
và giá trị đối với từng thứ, loại nguyên vật liệu.
Nguyễn Kim Dung - Lớp Kế toán CD - Tại chức K7A4 Hà Nội
21
Chuyên đề tốt nghiệp ĐH Kinh tế quốc dân
3 - ĐỊNH MỨC TIÊU DÙNG NGUYÊN VẬT LIỆU:
3.1– Khái niệm:
Mức tiêu dùng nguyên vật liệu là lượng vật tư lớn nhất cho phép để một
loại lao động hay một nhóm lao động hoàn thành việc sản xuất một chi tiết
một sản phẩm hay một công việc nào đó trong điều kiện về kinh tế kỹ thuật và
tính chất nhất định.
3.2– Cơ cấu của định mức:
Định mức tiêu dùng vật tư là do những bộ phận sau tạo thành:
- Phần tiêu dùng thuần túy: Đây là phần tiêu hao vật tư để cấu thành nên
thực thể của sản phẩm, nó phụ thuộc vào khâu thiết kế của sản phẩm.
- Phần tổn thất mang tính công nghệ: Đây là phần tổn thất không hoặc có
thể tránh khỏi trong quá trình sản xuất. Phần tổn thất này có thể dừng
lại được và có thể được dùng cho sản xuất chính hoặc sản xuất phụ.
- Phần tổn thất do công tác quản lý: Là phần tổn thất có thể xảy ra trong
trường hợp công tác quản lý yếu kém nên xảy ra thất thoát, tuy nhiên
trong thực tế người ta thường né tránh phần tổn thất này bởi trong cơ
cấu của định mức chỉ cần hai bộ phần cơ bản nêu trên.
gia, những công nhân sản xuất giỏi.
- Phương pháp thực nghiệm: Đây là phương pháp xây dựng định mức có
khoa học thường được thực hiện ngay tại hiện trường sản xuất hoặc các
phòng thí nghiệm sau đó được điều chỉnh để áp dụng thực tế.
- Phương pháp phân tích: Phương pháp này được coi là phương pháp xây
dựng định mức có căn cứ khoa học vì nó kết hợp giữa việc đánh giá
điều sản xuất hiện tại của doanh nghiệp và phân tích nhân tố có ảnh
hưởng tới định mức. Chính vì vậy nó được áp dụng phổ biến trong thực
tế.
3.4- Định mức tiêu dùng nguyên vật liệu ở VMC:
Xí nghiệp liên doanh sản xuất ô tô Hòa Bình là một xí nghiệp có quy mô
sản xuất lớn, sản phẩm đầu ra có nhiều chủng loại mặt hàng nên khi đưa vào
sản xuất các loạin mặt hàng đó VMC đã xây dựng định mức nguyên vật liệu.
Việc xây dựng định mức như vậy vừa để tiết kiệm nguyên vật liệu, không gây
lãng phí hoặc trong tình trạng thiếu nguyên vật liệu trong quá trình sản xuất
đồng thời vừa để hạ thấp chi phí và giá thành sản phẩm.
VMC xây dựng định mức tiêu dùng nguyên vật liệu theo kế hoạch sản xuất
có đơn đặt hàng. Tùy theo đơn đặt hàng mà tỷ lệ % nguyên vật liệu khác
nhau. VMC có 6 phân xưởng sản xuất nhưng mỗi phân xưởng có định mức
tiêu dùng nguyên vật liệu khác nhau.
Sau đây là định mức bảo hộ lao động cho công nhân tại 1 số trạm của phân
xưởng Sơn năm 2007
Nguyễn Kim Dung - Lớp Kế toán CD - Tại chức K7A4 Hà Nội
24
Chuyên đề tốt nghiệp ĐH Kinh tế quốc dân
Trạm – Mixing room & Lab
STT
Số
thẻ
Tên hàng
được bấy nhiêu chiếc ôtô. Điều này là rất thuận lợi vì trong quá trình láp ráp
ôtô sẽ không thể có phế phẩm, bộ linh kiện CKD được lắp ráp hết.
Ngoài ra dựa vào một số bảng định mức ta có thể thấy được tình hình cung
ứng và sử dụng nguyên vật liệu tại VMC.
Xí nghiệp đã kết hợp hài hòa các nhân tố để sử dụng nguyên vật liệu nên
đã tiết kiệm được nguyên vật liệu.
Sau đây là định mức vật tư năm 2008 cho các loại xe của PX hoàn
thiện:
Nguyễn Kim Dung - Lớp Kế toán CD - Tại chức K7A4 Hà Nội
25