1
SVTH: 1/ PHẠM TUẤN ANH GVHD: PGS.TS. ĐÀO XUÂN LỘC
2/ NGUYỄN THỊ TRANG HUYỀN
M
M
Ụ
Ụ
C
CĐ
Đ
Í
Í
C
C
H
HN
N
G
G
H
H
I
I
Ê
ương pháp đo cao hình học chính xác khoảng cách ngắn trong phạm vi công
trình dân dụng – công nghiệp và xử lý tính toán số liệu đo bằng phương pháp bình
sai tham số, từ đó có thể dùng kết quả quan trắc này để xác định được mức độ lún
của công trình, cho phép điều chỉnh chính xác lại khối lượng công việc, bổ sung
thiết kế, điều chỉnh lịch thi công, trên cơ sở giá trị thực tế lún nhằm khắc phụ
c sự
cố ngay từ đầu, tránh những rủi ro có thể xảy ra về sau.
Đề tài được thực hiện dựa trên phương pháp tìm đọc tra cứu, thực tập thực hành
đo lún, tìm hiểu cơ sở toán học xử lý kết quả đo lún, các tham số lún công trình và
độ tin cậy của các tham số trên. Cần lưu ý rằng kỹ thuật đo lún là kỹ thuật đo độ
chính xác cao mà trong chương trình đào tạo kỹ sư dân d
ụng - công nghiệp và cầu
đường chưa được đưa vào, nên một mục tiêu của đề tài sẽ là xây dựng chuyên đề
mở rộng trong quá trình đào tạo của Khoa Kỹ Thuật Công Trình - Trường Đại Học
Lạc Hồng.
2
SVTH: 1/ PHẠM TUẤN ANH GVHD: PGS.TS. ĐÀO XUÂN LỘC
2/ NGUYỄN THỊ TRANG HUYỀN
C
C
H
H
Ư
Ư
Ơ
Ơ
N
N
G
G
Q
Q
U
U
A
A
N
NT
T
R
R
Ắ
Ắ
C
CB
B
I
I
Ế
Ế
N
N1.1. KHÁI NIỆM VỀ BIẾN DẠNG VÀ QUAN TRẮC BIẾN DẠNG CÔNG
TRÌNH
Do công trình có kết cấu khác nhau, dưới ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên,
hoạt động của con người nên công trình xây dựng bị biến dạng. Biến dạng có thể
hiểu là sự thay đổi hình dạng, vị trí, kích thước của đối tượng quan trắc theo thời
gian so với thời điểm ban đầu nào đó. Dưới áp lực củ
a tải trọng công trình, nền đất
dưới móng công trình dần dần bị nén lại và chuyển dịch theo phương thẳng đứng.
Sự chuyển dịch đó được gọi là sự trồi lún của công trình. Ngoài áp lực do bản thân
tải trọng công trình, độ lún công trình cũng còn có thể xảy ra do điều kiện địa chất,
các tác động như sự rung động của thiết bị, búa đóng cọc, phương tiện giao thông
lớ
n gần công trình, sự thay đổi mực nước ngầm,..... Độ lún có thể đồng đều và cũng
có thể không đồng đều. Do tải trọng khác nhau của từng phần công trình tác dụng
lên móng cũng như độ nén ép của nền đất dưới móng không đều nên thường nảy
sinh độ lún không đều và điều đó gây nên các hiện tượng biến dạng khác nhau như
chuyển dịch nghiêng, võng, rạn nứt công trình.
Tình trạng biến dạng công trình đượ
c đánh giá qua sự thay đổi tọa độ, cao độ
các điểm quan trắc theo thời gian, được đánh dấu bằng các mốc quan trắc, các điểm
này được phân bố tại các vị trí đặc trưng của công trình như vị trí thân móng, cột,
hai bên khe lún hay những nơi dự đoán lún mạnh để cùng tham gia chuyển dịch với
kết cấu công trình.
1.2. NHIỆM VỤ QUAN TRẮC, ĐỘ CHÍNH XÁC VÀ CHU KỲ QUAN
TRẮC
Mục đ
ích của công tác quan trắc biến dạng công trình là xác định các đại
lượng biến dạng để đánh giá độ bền vững của công trình, kịp thời đưa ra những giải
ệm vụ kỹ thuật khi thiết kế công trình, trong quy chuẩn xây dựng
hoặc bằng phương pháp tính toán.
Đối với các công trình phức tạp, có giá trị kinh tế lớn, quan trọng (ví dụ như
cụm Thủy điện Sơn La) thì quan trắc công trình phải được tiến hành ngay từ khi
thiết kế, trên khu đất mà sau này sẽ xây dựng công trình để nghiên cứu các điều
kiện tự nhiên. Đồng thời tạo hệ thống mốc gố
c trắc địa để đánh giá độ ổn định của
hệ thống mốc gốc này trước khi dùng chúng làm cơ sở quan trắc biến dạng công
trình.
4
SVTH: 1/ PHẠM TUẤN ANH GVHD: PGS.TS. ĐÀO XUÂN LỘC
2/ NGUYỄN THỊ TRANG HUYỀN
Đối với phần lớn các công trình thì quan trắc biến dạng được tiến hành ngay
từ khi xây dựng móng công trình và được tiến hành lặp đi lặp lại, có hệ thống qua
một khoảng thời gian nhất định trong suốt thời kỳ xây dựng cho đến khi công trình
được đưa vào khai thác sử dụng, mỗi lần đo được gọi là một chu kỳ đo. Trong
những trường hợp bất thường như sự thay đổi t
ải trọng, nhiệt độ môi trường, bão
lụt, động đất,... thì phải tiến hành quan trắc đột xuất. Thời gian đo trong một chu kỳ
đối với công trình dân dụng thường từ 1 - 3 ngày.
Khoảng thời gian giữa hai chu kỳ đo liên tiếp được chọn tùy thuộc vào loại
công trình, vào đặc điểm xây dựng cũng như tốc độ biến dạng công trình. Chu kỳ
quan trắc đầu tiên của giai đoạn thi công đượ
c tiến hành vào thời điểm xây xong
phần móng công trình. Các chu kỳ tiếp theo được ấn định tùy thuộc vào tiến độ xây
dựng, mức tăng tải trọng công trình. Đối với công trình có chiều cao lớn, có địa
chất nền móng và kết cấu phức tạp có thể tăng thêm chu kỳ đo. Đối với những công
trình có khả năng nhạy cảm với lún, biến dạng thì ngay cả sau khi công trình đã tắt
lún, biến dạ
ng cũng phải tiếp tục quan trắc 1-2 năm/ một chu kỳ.
2
2
:
:G
G
I
I
Ớ
Ớ
I
IT
T
H
H
I
I
Ệ
Ệ
U
U
L
L
Ú
Ú
N
NC
C
Ô
Ô
N
N
G
GT
T
R
R
Ì
Ì
N
N
H
H
SVTH: 1/ PHẠM TUẤN ANH GVHD: PGS.TS. ĐÀO XUÂN LỘC
2/ NGUYỄN THỊ TRANG HUYỀN
Phương pháp đo cao lượng giác được thực hiện bằng tia ngắm nằm nghiêng
của máy kinh vĩ có độ chính xác thấp hơn, nhưng nó thuận lợi trong những trường
hợp phải quan trắc nhiều điểm của công trình ở những độ cao khác nhau như trên
công trình đập thủy điện.
Phương pháp chụp ảnh lập thể dựa trên việc đo chênh cao theo mô hình lập
thể mặt đất được tạ
o nên nhờ các dụng cụ chuyên dùng, phương pháp này không có
lợi về mặt kinh tế nên ít được áp dụng.
2.2. THIẾT BỊ ĐO ĐỘ LÚN CÔNG TRÌNH THEO PHƯƠNG PHÁP ĐO
CAO HÌNH HỌC CHÍNH XÁC KHOẢNG CÁCH NGẮN
Theo Tiêu chuẩn xây dựng Việt Nam 271:2002, để đo độ lún công trình cần
phải sử dụng các máy thủy chuẩn có độ chính xác cao, có bộ đo cực nhỏ như
(Ni004, Ni002, NA3003, H1, H2, H3, NAK2…) hoặc các máy có độ chính xác
tương đương với các tính năng kỹ thuật như sau:
- Độ phóng đại của ống kính lớn hơn 24 lần (tùy từng cấp đo)
- Giá trị khoảng chia trên ống nước dài không vượt quá 12”/2mm
- Giá trị vạch khắc vành đọc số của bộ đo cực nhỏ (bộ phận micrometer) là
0.05mm hoặc 0.10mm
7
SVTH: 1/ PHẠM TUẤN ANH GVHD: PGS.TS. ĐÀO XUÂN LỘC
2/ NGUYỄN THỊ TRANG HUYỀN
Hình 2.1 – Máy thủy chuẩn Leica NA2 và NAK2
Thang chính : nằm bên phải của mia, được đánh số tăng dần từ dưới lên trên
(ứng với đáy mia là vạch 0).
Thang phụ : nằm bên trái của mia được đánh số tăng dần từ dưới lên trên (ứng
với đáy mia là một số nào đó).
Khoảng cách giữa hai vạch chia cùng thang chính hoặc thang phụ là 10mm
Khoảng cách trục vạch chia giữa thang chính và thang phụ kề nhau là 5mm
Phía sau mia có gắn một bọt nước tròn để đưa mia v
ề vị trí thẳng đứng.
Cách đọc số trên máy NAK2:
Đây là máy của hãng Leica (Thụy Sĩ), máy này không có bọt nước dài mà tia
ngắm tự điều chỉnh về vị trí nằm ngang nhờ bộ phận tự điều chỉnh và khi đo chỉ cần
điều chỉnh cho bọt nước tròn vào giữa là được.
Thang chính
Thang phụ
Hình 2.4 - Mia Invar (loại có giá trị khoảng chia 10mm)
Bọt nước
Mặt sau
Mặt trước
9
SVTH: 1/ PHẠM TUẤN ANH GVHD: PGS.TS. ĐÀO XUÂN LỘC
2/ NGUYỄN THỊ TRANG HUYỀN
Dùng ốc điều chỉnh bàn độ ngang 4 (hình 2.3) bắt mục tiêu và ốc chập vạch 3
(hình 2.3) sao cho chỉ chữ V tiếp xúc với một vạch thang chính hoặc thang phụ
(hình 2.6, hình 2.7).
Sau khi chập vạch giữ nguyên trạng thái của máy tiến hành đọc số trên ống
kính (hình 2.6) và trên bộ đo cực nhỏ (hình 2.5) trong ống đọc số 5 (hình 2.3)
đặt mia. Độ chênh cao được xác định theo số đọc trên mia đặt thẳng đứng tại hai
điểm đo.
Trước khi đo độ lún công trình cần phải kiểm nghiệm máy và mia, đảm bảo
cho mia không bị cong, các vạch khắc và các dòng chữ số trên mia rõ ràng, trục
ngắm khi điều chỉnh tiêu c
ự của máy phải chính xác, các vít trên máy hoạt động tốt.
Hình 2.8- Sơ đồ nguyên lý đo cao hình học
11
SVTH: 1/ PHẠM TUẤN ANH GVHD: PGS.TS. ĐÀO XUÂN LỘC
2/ NGUYỄN THỊ TRANG HUYỀN
Thao tác trên một trạm đo khi chỉ dùng một mia đo lún như sau:
Đặt máy ở vị trí gần giữa hai điểm mia, chân máy đặt chắc chắn đảm bảo độ
ổn định cao. Lắp máy vào chân ba, ốc vít vặn vừa chặt, dùng ba ốc cân điều chỉnh
cho bọt nước thủy tròn vào chính giữa tâm.
Trình tự đo:
Tiến hành bằng phương pháp kết hợp 2 chiều đo đi, đo về ho
ặc một chiều đo
với hai chiều cao đặt máy khác nhau.
Sau đây là trình tự đo theo chương trình II (chương trình I xem trang 12)
+ Chiều cao máy thứ nhất
Đọc số thang chính mia sau (S
c
)
Đọc số thang phụ mia sau (S
p
)
Đọc số thang chính mia trước (T
c
)
Chương trình I Chương trình II
Chiều cao máy lần 1 Sc Tc Tp Sp
Sc Sp Tc Tp
Chiều cao máy lần 2 Tc Sc Sp Tp
Tc Tp Sc Sp
- Chênh cao một trạm đo theo phương pháp đo trên được xác định bằng cách:
- Chênh cao đo tính theo thang chính: h
c
= (Sc) – (Tc)
- Chênh cao đo tính theo thang phụ: h
p
= (Sp) – (Tp)
⇒ Chênh cao trạm theo một chiều cao máy đo:
2
1
pc
TD
hh
h
+
=
⇒ Chênh cao trạm đo tính theo hai chiều cao máy:
2
21
TDTD
TD
hh
Ư
Ơ
Ơ
N
N
G
G3
3
:
:X
X
Â
Â
Y
YD
D
Ự
Ự
N
N
G
Q
U
U
A
A
N
NT
T
R
R
Ắ
Ắ
C
CL
L
Ú
Ú
N
NC
C
Ô
ọn vị trí gắn mốc quan
trắc. Các mốc này phải được gắn ở nơi có khả năng xảy ra biến dạng nguy hiểm,
dẫn tới dịch chuyển công trình hoặc từng bộ phận của công trình.
• Tính thời sự kết quả đo phụ thuộc chủ yếu vào tần suất đo (chu kỳ đo).
• Độ chính xác kết quả đo phụ thuộc vào hai yếu t
ố: phương pháp đo và sơ đồ
đo.
Để đảm bảo được các yêu cầu trên và kết quả đạt độ chính xác cao cần phải
xác định rõ trình tự và nội dung công việc trong từng giai đoạn cụ thể. Vì vậy, cần
lập phương án kỹ thuật xây dựng chương trình quan trắc biến dạng công trình.
Phương án kỹ thuật đo độ lún công trình được thiết kế tùy thuộc vào tầm quan
trọng củ
a công trình, điều kiện địa chất của khu vực xây dựng công trình, các đối
tượng đo và phải đảm bảo được các nội dung sau:
1- Tóm tắt miêu tả đối tượng quan trắc, các đặc điểm hiện trạng, sơ đồ các
đối tượng này và các đặc điểm khác có liên quan đến công tác đo độ
lún.
2- Thiết kế hệ thống mốc đo.
3- Xác lập cấp đo, thiết kế sơ
đồ đo lặp trắc địa, chu kỳ đo.
14
SVTH: 1/ PHẠM TUẤN ANH GVHD: PGS.TS. ĐÀO XUÂN LỘC
2/ NGUY
Ễ
N TH
Ị
TRANG HUY
Ề
N
4- Lập quy trình đo độ lún công trình.
15
SVTH: 1/ PHẠM TUẤN ANH GVHD: PGS.TS. ĐÀO XUÂN LỘC
2/ NGUY
Ễ
N TH
Ị
TRANG HUY
Ề
N
+ Cho phép kiểm tra một cách tin cậy độ ổn định của các mốc khác.
+ Cho phép dẫn độ cao đến các mốc đo lún một cách thuận lợi.
Cao độ của mốc cơ sở có thể được dẫn từ mốc độ cao quốc gia hoặc giả định
độ cao của một mốc cơ sở.
Vị trí các mốc cơ sở cần được đặt vào lớp đất tốt, ổn đị
nh (cát, sạn sỏi hoặc sét
cứng có bề dày lớn), địa tầng có điều kiện thủy văn tốt. Ví dụ: mốc được đặt gối
đầu lên đá gốc ở các công trình thủy điện, hoặc khoan nhồi để làm mốc. Mốc đặt
cách nguồn gây ra chấn động khoảng cách lớn hơn chiều sâu của mốc (đối với mốc
chôn sâu); phải ở ngoài phạm vi các đường giao thông chính, nhữ
ng nơi có dốc
trượt. Mặt khác, các mốc cơ sở không được bố trí quá xa công trình để hạn chế các
sai số tích lũy khi chuyền cao độ từ mốc cơ sở tới mốc quan trắc. Khoảng cách từ
mốc cơ sở (chuẩn) đến công trình thường từ 50m đến 100m (TCXDVN 271:2002)
để không bị ảnh hưởng của biến dạng công trình tới độ ổn định của mốc.
Khi lợi dụng các công trình c
ũ để đặt mốc cơ sở thì các công trình này phải
hoàn toàn ổn định (không có các hiện tượng biến dạng do chuyển dịch, lún). Không
đặt mốc chuẩn tại các công trình có tải trọng động (tải trọng thay đổi).
Trong trường hợp khó khăn về mặt bằng, mốc cơ sở được đặt cách xa khoảng
2/3 chiều cao công trình, không chôn ở nơi ngập nước, sườn đất trượt, gò đống, bờ
dụng khi đo độ lún các công trình xây dựng trên móng cọc, chiều sâu đạt đến lớp
đất đá tốt được sử dụng để tựa cọc công trình. Hình dạng cấu tạo được trình bày ở
hình 3.2.
Thông thường trên khu vực xây dựng nếu công trình được thi công bằng cọc
ép thì lõi mốc cơ sở cũng được ép cọc bêtông đến độ sâu thiết kế. Có một số công
trình như Saigonpearl thì mốc cơ sở làm luôn bằng cọc khoan nhồi có độ sâu đến
60 mét.
Đá gốc
17
SVTH: 1/ PHẠM TUẤN ANH GVHD: PGS.TS. ĐÀO XUÂN LỘC
2/ NGUY
Ễ
N TH
Ị
TRANG HUY
Ề
N
Hình 3.2 - Mốc chuẩn loại B
Mốc chuẩn loại C
: là mốc có dạng cọc ngắn hoặc khối bêtông được chôn vào
lớp đất tốt nguyên thổ đầu tiên. Loại mốc này thường áp dụng khi đo độ lún các
công trình dân dụng được xây dựng trên nền đất đá kém ổn định. Hình dạng cấu tạo
được trình bày ở hình A.3a, hình A.3b, hình A.3c. Mốc loại này thường được đặt trên các vỉa Laterít tốt.
Hình 3.3a - Mốc chuẩn loại C dạng khối bêtông
1.
Cấu tạo đầu đo của các mốc chuẩn có dạng hình cầu, chỏm cầu bằng thép
không gỉ, bằng đồng hoặc bằng sứ. Phần đầu của các mốc chuẩn cần được xây bảo
vệ có nắp đậy sao cho tác động của mặt đất không làm ảnh hưởng đến vị trí của
Hình 3.3b - Mốc chuẩn loại C hình ống
Hình 3.3c - Mốc chuẩn loại C dạng cọc
1.
Đầu mốc (
φ
= 2cm
÷
4cm)
2.
Ống mốc (
φ
= 7cm
÷
8cm)
3.
Ống bảo vệ (
φ
= 2cm
÷
4cm)
4.
Vòng kẹp giữ ống bảo vệ
8cm)
3.
Giếng dầu hoặc giếng dầu đặt
trong hố móng cọc hoặc giếng
quét bitum (nhựa đường) bọc cọc
mốc khi chôn.
4.
Hố gạch xây, bêtông
5.
Cửa nắp
6.
Xỉ
7.
Lớp đệm bêtông khi đặt trong hố
móng (loại mốc này được lắp đặt
bằng cách đóng cọc hay chôn chặt
dưới hố có độ sâu từ 1m
÷
2m)
1.
Đầu mốc (
φ
= 2cm
÷
4cm)
2.
Ống mốc (
φ
Xỉ
11.
Lớp đệm bêtông
19
SVTH: 1/ PHẠM TUẤN ANH GVHD: PGS.TS. ĐÀO XUÂN LỘC
2/ NGUY
Ễ
N TH
Ị
TRANG HUY
Ề
N
mốc. Đối với các công trình quan trọng mốc chuẩn cần được xây rào bảo vệ và
khóa cổng khi ra vào. Hình 3.4 - Mốc cở sở ngoài hiện trường
Thực trạng ở nước ta :
Công tác quan trắc chuyển dịch và biến dạng công trình hiện nay ở nước ta
được thực hiện với hầu hết các mốc chôn sâu lõi đơn. Khu vực đô thị như Hà Nội
TP Hồ Chí Minh với điều kiện địa tầng là sỏi cuội cũng phải ở độ sâu khoảng 50m.
Nếu mốc cơ
sở đo lún đặt vào tầng sỏi cuội thì độ dài của mốc cũng cỡ 50m. Hơn
nữa, chúng ta đều xây dựng mốc đo lún với kết cấu lõi đơn được làm bằng thép ống
có mạ kẽm bên trong và bên ngoài, đường kính khoảng 40mm. Việc làm này cũng
có lý do, một phần vì thi công dễ dàng hơn, phần khác vì kinh phí có hạn. Tuy
nhiên như trên đã phân tích, với loại mốc đó thì độ cao mốc sẽ có biến động lớn khi
nhiệt độ không khí thay đổi. Đây chính là bất cập mà lâu nay các chuyên gia trắc
địa gặp phải. Để giải bài toán này, từ những năm 90 của thế kỷ trước đã có đề xuất
trong các chu kỳ sau này. Để xác định nhiệt độ thân mốc, người ta thả xuống lỗ
khoan đặt mốc nhiều đầu
đo nhiệt độ, ứng với nhiều độ sâu khác khau, nhiệt độ
trung bình của mốc được tính dựa trên nhiệt độ không khí tại các vị trí khác nhau
trong lỗ khoan và khoảng cách giữa các điểm đo nhiệt độ. Do việc đo nhiệt độ
trong lòng hố khoan rất khó khăn, nên ngày nay phương pháp này ít dùng trên thế
giới.
Nếu thân mốc được làm bằng thép ống, thì do hệ số giãn nở của thép, chiều
dài thân mốc có thể thay đổ
i cỡ 0,5mm/4m giữa hai mùa đông-hè giả thiết giữa hai
mùa chênh nhiệt độ là 10
o
C, nghĩa là với chiều dài thân mốc khoảng 50m, ta có sự
thay đổi chiều dài độ cao mốc giữa hai mùa đông - hè cỡ 6mm.
Trên đây là với mốc lõi đơn, hiện nay trên thế giới người ta xây dựng mốc cơ
sở đo lún dạng chôn sâu với kết cấu lõi kép: gồm một lõi chính và một lõi phụ.
Chiều dài của lõi chính và lõi phụ lúc ban đầu khi chưa chôn mốc được xác định.
Sau khi chôn mốc, do nhiệt độ trong lòng ống khoan thay đổi theo mùa khí hậ
u, do
hệ số giãn nở nhiệt của lõi chính và lõi phụ khác nhau lúc này chiều dài giữa lõi
chính và lõi phụ có một lượng chênh Δ so với ban đầu. Ta xác định được sự thay
đổi chiều dài của mốc chính ΔL
C
nhờ biết trước hệ số giãn nở nhiệt của lõi chính
α
C
, lõi phụ α
P
:
21
vào độ cao của mốc, ta có độ cao chuẩn.
Giải pháp cho mốc cơ sở đo lún tại Việt Nam:
Trước mắt, để thực hiện công tác đo lún công trình, chúng ta vẫn phải xây
dựng các mốc cơ sở đo lún tại khu đô thị mới hoặc công trình công nghiệp. Tuy
nhiên, có thể giảm thiểu phần nào sự thay đổi độ cao mốc do nhiệt độ. Đó là xây
dựng các mốc đo lún dạng lõi đơ
n với chiều sâu khoảng 10m, lúc này ΔL do nhiệt
độ thay đổi khoảng 1mm và nên chọn vị trí sao cho địa tầng đặt mốc -10m là sét
dạng dẻo đến dẻo cứng hoặc cát hạt mịn. Đồng thời, trong hệ thống mốc cơ sở phải
có một mốc được đặt tới địa tầng ổn định ví dụ như tầng sỏi cuội tại Hà Nội, áp
dụng phân tích xác suất thố
ng kê hoặc phương pháp bình sai lưới tự do, ta sẽ tìm
được mốc ổn định trong chu kỳ đo.
3.2.2. XÂY DỰNG HỆ THỐNG MỐC QUAN TRẮC LÚN
Mốc đo lún là mốc được gắn trực tiếp vào các vị trí đặc trưng của các kết cấu
chịu lực trên nền móng hoặc thân công trình (thân móng, cột, hai bên khe lún...) để
tham gia chuyển dịch cùng với công trình, dùng để quan sát độ trồi lún của công
trình.
Mốc đo độ lún được phân ra các loạ
i như sau:
- Mốc gắn tường, cột;
- Mốc nền móng;
- Các mốc chôn sâu dùng để đo độ lún các lớp đất.
22
SVTH: 1/ PHẠM TUẤN ANH GVHD: PGS.TS. ĐÀO XUÂN LỘC
2/ NGUY
Ễ
N TH
Ị
TRANG HUY
tế.
Số lượng mốc đo độ lún cho nhà dân dụng hoặc công nghiệp được ước tính theo
công thứ
c tổng quát sau:
L
P
N =
23
SVTH: 1/ PHẠM TUẤN ANH GVHD: PGS.TS. ĐÀO XUÂN LỘC
2/ NGUY
Ễ
N TH
Ị
TRANG HUY
Ề
N
Trong đó :
N : là số lượng mốc đo lún.
P : là chu vi nhà hay chiều dài móng.
L : là khoảng cách giữa các mốc đo độ lún (8-10 m).
Đối với nhà xây trên móng cọc hoặc móng bè số lượng đầu mốc được tính bằng
công thức:
F
S
N =
Trong đó :
S: là diện tích mặt móng (m
2
N
3.3. THIẾT KẾ SƠ ĐỒ ĐO LẶP TRẮC ĐỊA, CHU KỲ ĐO
Việc đo độ lún công trình được chia làm 3 cấp: Cấp I, Cấp II, Cấp III. Độ
chính xác yêu cầu của từng cấp được đặc trưng bởi sai số trung phương xác định
lún nhận được từ hai chu kỳ đo.
- Đối với cấp I: ± 1mm
- Đối với cấp II: ± 2mm
- Đối với cấp II: ± 5mm
Các giá trị này ta phải hiểu là ΔS là sai số trung phương giới hạn đo lún. Từ
ΔS = t.m
S
ta suy ra
t
S
m
S
Δ
=
(*); theo Tiêu chuẩn Việt Nam 271: 2002 thì t = 2
(với xác suất lập khoảng tin cậy là 0,95).
Từ (*) ta lại theo hệ số hơn thua vì độ chính xác K giữa lưới cơ sở và lưới
quan trắc (thường K = 2÷3), mà:
Ta có: m
S
cơ sở
=
K
m
qtrac
S
⎬
⎫
=
=
2
2
qt
Sqt
H
cs
S
cs
H
m
m
m
m
(
**
)
Các cấp đo độ lún công trình dựa vào đặc điểm của nền đất và tầm quan trọng
của công trình, được quy định tại TCXDVN 271:2002 - phụ lục D.
25
SVTH: 1/ PHẠM TUẤN ANH GVHD: PGS.TS. ĐÀO XUÂN LỘC
2/ NGUY
Ễ
N TH
Ị
TRANG HUY
Ề
dựng công trình.
Tùy thuộc vào tính chất từng công trình mà dự kiến chu kỳ đo. Chu k
ỳ được
tính toán sao cho kết quả phản ánh được đúng thực chất quá trình làm việc của nền
móng và sự ổn định của công trình. Có thể phân chia chu kỳ đo thành 2 giai đoạn.
- Giai đoạn thi công xây dựng (công trình lún nhiều ).