Website: Email : Tel (: 0918.775.368
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Tên viết tắt Tên đầy đủ
SCB Ngân hàng Standard Chartered
NHTM Ngân hàng thương mại
NHNN Ngân hàng Nhà nước
L/C Letter of Credit (thư tín dụng)
1
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
LỜI MỞ ĐẦU
Ngân hàng là một trong các tổ chức tài chính quan trọng nhất của nền
kinh tế. Ngân hàng bao gồm nhiều loại tuỳ thuộc vào sự phát triển của nền
kinh tế nói chung và hệ thống tài chính nói riêng, trong đó NHTM thường
chiếm tỷ trọng lớn nhất về quy mô tài sản, thị phần và số lượng. Hoạt động
của NHTM rất đa dạng và mang tính rộng khắp, liên quan đến nhiều ngành,
nhiều lĩnh vực của nền kinh tế. Do phạm vi hoạt động cũng như phạm vi ảnh
hưởng rộng khắp như vậy, ngân hàng phải gánh chịu nhiều rủi ro khác nhau
liên quan đến các hoạt động kinh tế đó. Một số rủi ro đặc thù mà các NHTM
thường gặp phải, đó là: rủi ro tín dụng, rủi ro lãi suất, rủi ro thanh khoản, rủi
ro hoạt động, rủi ro pháp lý,....
Trong tất cả các hoạt động kinh doanh của ngân hàng, cho đến nay hoạt
động thanh toán quốc tế vẫn là hoạt động kinh doanh quan trọng nhất, mang
lại phần lợi nhuận lớn nhất cho ngân hàng. Tuy nhiên, nó cũng chứa đựng
rất nhiều rủi ro. Rủi ro trong hoạt động thanh toán quốc tế có thể gây ra tác
động nặng nề đến các hoạt động kinh doanh khác, thậm chí đe doạ sự tồn tại
của Ngân hàng . Chính vì vậy, quản trị rủi ro trong thanh toán quốc tế là một
công việc không thể thiếu đối với bất kỳ một Ngân hàng nào.
Ngân hàng Standard Chartered là một trong những ngân hàng nước
ngoài đã tồn tại ở Việt Nam khá lâu, ngày càng gây dựng được uy tín và
lòng tin đối với khách hàng. Là một ngân hàng nước ngoài nên hoạt động
thanh toán quốc tế là một nghiệp vụ quan trọng của SCB. Chính vì vậy, việc
- Vai trò thanh toán : Thay mặt khách hàng thực hiện thanh toán cho
việc mua hàng hóa và dịch vụ ( phát hành và bù trừ séc, cung cấp mạng lưới
thanh toán điện tử, kết nối các quỹ và phân phôí tiền ).
3
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
- Vai trò bảo lãnh : Cam kết trả nợ cho khách hàng khi khách hàng
không còn khả năng thanh toán ( mất khả năng thanh toán ) : phát hành thư
tín dụng – L/C.
- Vai trò của một đại lý : Thay mặt khách hàng quản lý và bảo vệ tài
sản của họ; phát hành hoặc mua lại chứng khoán ( thực hiện tại phòng ủy
thác ).
- Vai trò thực hiện chính sách : Thực hiện các chính sách kinh tế của
chính phủ, góp phần điều tiết sự tăng trưởng kinh tế và theo đuổi các mục
tiêu xã hội khác.
1.1.2. Các hoạt động chủ yếu của NHTM.
Hoạt động huy động vốn.
Ngân hàng kinh doanh tiền tệ dưới hình thức cho vay, đầu tư và cung
cấp các dịch vụ khác. Huy động vốn – hoạt động tạo ra nguồn vốn cho
NHTM - đóng vai trò quan trọng, ảnh hưởng tới chất lượng hoạt động của
ngân hàng. Hoạt động huy động vốn bao gồm :
- Nhận gửi tiền ( các khoản thanh toán và tiết kiệm ). Ngân hàng bảo
quản hộ khách hàng một số tiền và đảm bảo hoàn trả đúng hạn mà khách
hàng yêu cầu cùng với một khoản tiền lãi.
- Vay ngân hàng nhà nước và các tổ chức tín dụng khác : đây là nguồn
có tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn huy động của ngân hàng, lãi suất phải trả
cho các khoản vay này thường cao hơn các khoản huy động khác, thời gian
vay ngắn. Tuy nhiên, nguồn này có ưu điểm là có thể đáp ứng kịp thời nhu
cầu vốn hiện tại của ngân hàng.
Hoạt động sử dụng vốn ( hoạt động tín dụng và đầu tư ).
Các ngân hàng hiện nay thực hiện đa dạng các hình thức tín dụng, từ
ngừa rủi ro tỷ giá cho khách hàng.
5
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
- Cung cấp khả năng lựa chọn các phương thức thanh toán : thanh toán
trước, thanh toán sau, tài khoản mở, nhờ thu, L/C …
Một số hoạt động khác.
- Mua – bán ngoại tệ : Đây là hoạt động mua bán 1 loại tiền này lấy 1 loại
tiền khác và hưởng phí dịch vụ, được xem là 1 trong những dịch vụ ngân
hàng đầu tiên của NHTM
- Quản lý ngân quĩ : là việc ngân hàng đồng ý quản lý việc thu chi cho 1
công ty kinh doanh và tiến hành đầu tư phần thặng dư tiền mặt tạm thời vào
các chứng khoán sinh lợi và tín dụng ngắn hạn cho đến khi khách hàng cần
tiền mặt để thanh toán
- Bảo lãnh : Do khả năng thanh toán của ngân hàng cho 1 khách hàng rất lớn
và do ngân hàng nắm giữ tiền gửi của khách hàng ,nên ngân hàng có uy tín
trong bảo lãnh cho khách hàng. Ngân hàng thường bảo lãnh cho khách hàng
của mình mua chịu hàng hóa và trang thiết bị,phát hành chứng khoán,vay
vốn của tổ chức tín dụng khác..
- Bảo quản tài sản hộ
Các ngân hàng thực hiện việc lưu trữ vàng,các giấy tờ có giá và các
tài sản khác cho khách hàng trong két. Ngân hàng thường giữ hộ những tài
sản tài chính,giấy tờ cầm cố,hoặc những giây tờ quan trọng khác của khách
với nguyên tắc an toàn,bí mật,thuận tiện.
- Cung cấp dịch vụ ủy thác và tư vấn
Ngân hàng quản lý tài sản và quản lý hoạt động tài chính hộ cá nhân
và doanh nghiệp. Nhiều khách hàng còn coi ngân hàng như một chuyên gia
tư vấn tài chính. Ngân hàng sẵn sàng tư vấn về đầu tư, về quản lý tài chính,
về thành lập, mua bán, sát nhập doanh nghiệp.
- Cung cấp các dịch vụ bảo hiểm
6
quán khác nhau, bị hạn chế bởi không gian và thời gian, thậm chí mới quen
biết và chưa hiểu rõ, tin tưởng nhau...Nếu các chủ thể này tự mình tìm hiểu
đối tác, tập quán kinh doanh và thực hiện việc thanh toán mà không cần đến
một sự giúp đỡ từ bên ngoài thì sẽ mất rất nhiều thời gian, công sức và chi
phí. Từ đó nảy sinh nhu cầu cần một tổ chức trung gian làm cầu nối, thực
hiện thanh toán quốc tế cho các chủ thể này, đó chính là các NHTM. Vì vậy,
các NHTM có vai trò rất quan trọng trong thương mại quốc tế, điều này
được thể hiện ở các mặt sau:
- Cung cấp các khoản bảo lãnh tín dụng hoặc tín dụng: bao gồm bảo lãnh tín
chấp, bảo lãnh phát hành L/C, cho vay… đối với nhà nhập khẩu và chiết
khấu chứng từ xuất khẩu, mua lại chứng từ nhờ thu… đối với nhà xuất khẩu.
phép việc thực hiện thanh toán giữa các bên liên quan, đảm bảo an toàn
nhanh chóng.
- Trung gian thanh toán: hệ thống ngân hàng nhanh chóng và chính xác.
- Tư vấn: trong bất kì trường hợp nào nếu gặp phải những vấn đề liên quan
đến thanh toán trong giao dịch ngoại thương, khách hàng liên quan đều có
thể nhận được những tư vấn tốt từ cán bộ chuyên môn trong các NHTM.
- Quản lý rủi ro tín dụng: trong thương mại quốc tế, người mua có thể phải
giao dịch với một người bán mà họ không hề biết, thậm chí kể cả sau khi đã
có công cụ dụng cụ mua bán với nhau, người mua cũng không biết về người
bán một cách triệt để hoặc tốt hoặc xấu. Như vậy người mua và người bán
không thể nắm bắt chắc chắn về khả năng tài chính, uy tín và khả năng thực
hiện trách nhiệm thanh toán của nhau, do đó khó lường trước được những
rủi ro có thể xảy ra. Với sự giúp đỡ của ngân hàng, người mua và người bán
sẽ yên tâm và tin tưởng hơn vì sẽ loại từ được rủi ro. Ví dụ khi ngân hàng
phát hành đã thay thế vai trò của người mua để cam kết với người bán rằng
8
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
họ sẽ nhận được tiền thanh toán nếu họ chấp hành đúng và đủ các điều kiện
quy định trong L/C.
mua.
b. Quy trình nghiệp vụ
QUÁ TRÌNH THANH TOÁN DIỄN RA THEO SƠ ĐỒ :
( 4)
(2) (3) (5)
(1)
(1) Sau khi hợp đồng mua – bán ngoại thương được ký kết, người xuất
khẩu sẽ cung ứng hàng hóa, dịch vụ và toàn bộ chứng từ có liên quan
cho người nhập khẩu.
(2) Người nhập khẩu sau khi kiểm tra hàng hóa và chứng từ sẽ viết lệnh
chuyển tiền theo mẫu rồi giao cho ngân hàng phục vụ mình chuyển
tiền đi.
(3) Ngân hàng kiểm tra tính hợp lệ và khả năng thanh toán của nhà nhập
khẩu rồi tiến hành trích tiền từ tài khoản của người này để thực hiện
chuyển tiền sau đó báo nợ cho nhà nhập khẩu.
(4) Ngân hàng phát lệnh( bằng thư hoặc điện) cho ngân hàng đại lý để họ
thực hiện chi trả.
(5) Ngân hàng đại lý chuyển tiền vào tài khoản cho người thụ hưởng
hoặc gửi giấy thông báo.
Phương thức nhờ thu ( collection ).
a. Khái niệm :
10
Ngân hàng phát lệnh
chuyển tiền.
Người chuyển tiền
( nhà nhập khẩu, trả tiền )
Người thụ hưởng
( nhà xuất khẩu )
Ngân hàng đại lý thanh
toán.
yêu cầu thực hiện thanh toán ( fax hoặc thông báo bằng điện ).
(5) : nhà nhập khẩu thực hiện trả tiền hoặc từ chối thanh toán hối phiếu.
(6) : ngân hàng bên nhập khẩu chuyển tiền hoặc trả lại hối phiếu bị từ
chối thanh toán.
(7) : ngân hàng bên bán chuyển tiền hoặc hoàn lại hối phiếu cho nhà xuất
khẩu.
- Nhờ thu kèm chứng từ ( documentary collection ) :
Là phương thức mà nhà xuất khẩu sau khi giao hàng xong sẽ lập bộ
chứng từ thanh toán nhờ thu ( gồm chứng từ gửi hàng và hối phiếu ) và nhờ
ngân hàng của mình thu hộ với điều kiện là nhà nhập khẩu trả tiền ( hoặc
chấp nhận thanh toán ) thì ngân hàng mới giao toàn bộ chứng từ đó cho nhà
nhập khẩu để họ nhận hàng.
Có hai loại phương thức nhờ thu kèm chứng từ:
+ Nhờ thu trả tiền đổi chứng từ (D/P) :sử dụng trong trường hợp mua –
bán trả tiền ngay.
+ Nhờ thu chấp nhận đổi chứng từ ( D/A) :sử dụng khi mua – bán chịu
(1) : HĐTM giữa nhà XK – NK
(2) : Hàng lưu chuyển
chứng từ (3) chứng từ (4)chứng từ
(5) thanh toán
12
Nhà
Xuất
Khẩu
Ngân
hàng
người
xuất
khẩu
Ngân
13
Nhà xuất khẩu
Ngân hàng thông báo L/C Ngân hàng mở L/C
Nhà nhập khẩu
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
(4) Nhà xuất khẩu khi chấp nhận L/C sẽ giao hàng cho nhà nhập khẩu; nếu
không sẽ yêu cầu nhà nhập khẩu và ngân hàng mở L/C sửa đổi nội dung L/C
theo yêu cầu.
(5) Nhà xuất khẩu lập chứng từ thanh toán và xuất trình cho ngân hàng mở
L/C thông qua ngân hàng thông báo để đòi tiền.
(6) Ngân hàng mở L/C kiểm tra bộ chứng từ thanh toán, nếu phù hợp sẽ trả
tiền, nếu không sẽ từ chối thanh toán và gửi trả bộ chứng từ trên.
(7) Ngân hàng mở L/C đòi tiền nhà nhập khẩu và chuyển bộ chứng từ cho
họ.
(8) Nhà nhập khẩu kiểm tra bộ chứng từ và tiến hành trả tiền. Nếu không
hợp lệ sẽ từ chối thanh toán và gửi trả chứng từ.
Phương thức ghi sổ hay tài khoản mở.( open account)
Phương thức ghi sổ hay tài khoản mở là cách mà người xuất khẩu khi
xuất khẩu hàng hóa – dịch vụ thì sẽ ghi nợ cho người nhập khẩu, theo dõi
vào cuốn sổ này và việc thanh toán các khoản nợ sẽ được thực hiện vào một
thời kì nhất định.
Theo phương thức này, điều thuận lợi cơ bản là rất đơn giản và chi phí
thấp, linh hoạt trong việc qui định ngày thanh toán cụ thể. Tuy nhiên, rủi ro
cao cho nhà xuất khẩu vì có thể vốn bị ứ đọng do đối tác chậm thanh toán
tiền hàng đã giao. Mặt khác, sự thỏa thuận này không có công cụ làm bằng
chứng về những giao ước hay cam kết giữa các bên nên rủi ro mất tiền là rất
cao.
Phương thức chuyển tiền bồi hoàn bằng điện(telegraphic transfer
Reimbusement-TTR)
a. Khái niệm
báo
Người nhập khẩu Người xuất khẩu
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
(10) Ngân hàng mở L/C báo cho người nhập khẩu đến thanh toán tiền
hàng
(11) Sau khi người nhập khẩu kiểm tra chứng từ và thanh toán thì ngân
hàng mở L/C giao cho người nhập khẩu bộ chứng từ để đi nhận hàng.
1.2. Rủi ro trong thanh toán quốc tế của NHTM
1.2.1. Khái niệm về rủi ro trong thanh toán quốc tế
1.2.1.1. Khái niệm về rủi ro
Theo định nghĩa truyền thống thì rủi ro chỉ là những sự kiện xảy ra có
thể làm mất mát tài sản hay làm phát sinh một khoản nợ, còn theo quan điểm
hiện đại thì rủi ro bao hàm nghĩa rộng hơn, không chỉ tính đến rủi ro tài
chính mà còn là những rủi ro ảnh hưởng đến mục tiêu hoạt động và mục tiêu
chiến lược. Như vậy, rủi ro là sự việc xảy ra ngoài ý muốn chủ quan của con
người, đem lại những hậu quả mà người ta không thể dự đoán được.
Đặc biệt trong lĩnh vực ngân hàng thì ngân hàng ra đời và phát triển
gắn liền với sự ra đời và phát triển của nền kinh tế hàng hoá để giải quyết
nhu cầu phân phối vốn, nhu cầu thanh toán…, phục vụ cho phát triển, mở
rộng sản xuất kinh doanh của các tổ chức kinh tế, cá nhân với đặc thù kinh
doanh trên lĩnh vực tiền tệ. Vì vậy, hoạt động ngân hàng chứa đựng nhiều
tiềm ẩn rủi ro mà chúng ta khó có thể lường trước được. Nguyên nhân của
những tiềm ẩn rủi ro này là do ngân hàng là một trung gian tài chính, huy
động vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế với lãi suất thấp, sau đó cho các tổ chức
kinh tế, cá nhân vay lại với lãi suất cao hơn để thu lợi nhuận. Nếu ngân hàng
không đáp ứng đủ vốn cho nền kinh tế hoặc huy động đủ vốn nhưng không
có thị trường để cho vay thì ngân hàng hoạt động kém hiệu quả, sẽ dẫn đến
rủi ro.
16
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Rủi ro tín dụng phát sinh trong trường hợp ngân hàng không thu được
đầy đủ cả gốc và lãi của khoản vay, hoặc là việc thanh toán nợ gốc và lãi
không đúng kỳ hạn. Trong phương thức tín dụng chứng từ, ngân hàng có thể
đóng vai trò là ngân hàng phát hành, ngân hàng xác nhận, ngân hàng chiết
khấu hoặc ngân hàng thông báo. Dù ở bất cứ vai trò nào thì trong phương
thức tín dụng chứng từ, ngân hàng cũng đều gặp những rủi ro nhất định:
+ Đối với ngân hàng phát hành
Rủi ro tín dụng đối với ngân hàng phát hành là việc không thu được
hoặc thu không đầy đủ từ nhà nhập khẩu số tiền có giá trị bằng giá trị số tiền
mà ngân hàng đă bỏ ra thanh toán cho nhà xuất khẩu. Các trường hợp xảy ra
rủi ro tín dụng:
. Rủi ro trong tín dụng thế chấp hàng nhập khẩu. Đây là rủi ro thường
gặp khi nhà nhập khẩu dùng số hàng nhập khẩu để thế chấp nó rất khó để
các ngân hàng đánh giá giá trị của lô hàng này hoặc việc phá bỏ hợp đồng
của nhà nhập khẩu. Có thể tóm tắt rủi ro sảy ra như sau: nhà nhập khẩu xin
mở L/C nhưng khi ngân hàng thanh toán cho nhà xuất khẩu và lấy chứng từ
gửi hàng, nhà nhập khẩu không lấy chứng từ để lĩnh hàng và dĩ nhiên là
không trả tiền cho ngân hàng. Rủi ro xảy ra khi ngân hàng cho khách hàng
vay ký quỹ mở L/C cũng như thanh toán hàng nhập khẩu mà bảo đảm chính
lô hàng đó. Ngân hàng phải bán lô hàng đó và luôn bị lỗ do các lý do: Ngân
hàng không phải là nhà kinh doanh nhập khẩu; Hàng nhập khẩu có khi phải
chế biến mới bán được; sự giảm chất lượng do nhiêu yếu tố tác động.
18
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Rủi ro trong tín dụng bảo lãnh trả chậm: Cần phải hiểu chữ tín dụng
theo nghĩa rộng hơn, nó không chỉ là khoản tiền mà ngân hàng cho khách
hàng vay mà nó còn có cả tín dụng bằng chữ ký tức là vay bằng uy tín của
mình. Theo nguyên tắc khi khách hàng vay thì phải có một khoản ký quỹ
nhất định song ngân hàng ngân hàng cũng có thể cho khách hang một khoản
tín dụng bằng lời hứa trả của khách hàng khi tiền ký quỹ không đủ. Rủi ro
1. 2.2.3. Rủi ro thanh khoản:
Rủi ro thanh khoản phát sinh khi những người gửi tiền đồng thời có
nhu cầu rút tiền gửi ở ngân hàng ngay lâpj tức. Trong những trường hợp như
vậy, ngân hàng phải di vay bổ sung nguồn vốn thanh toán hoặc phải bán tài
sản có của mình để đáp ứng nhu cầu rút tiền của người gửi tiền. Trong cơ
cấu tài sản có thì tiền mặt có độ thanh khoản cao nhất, do đó trước hết ngân
hàng sử dụng tiền mặt để đáp ứng nhu cầu rút tiền của khách hàng. Bởi vì
tiền mặt tại quỹ không mang lại thu nhập lãi suất, cho nên trong những
trường hợp bình thường, ngân hàng chỉ duy trì một lượng tiền mặt ở mức tối
ưu đủ để đáp ứng các nhu cầu rút tiền thường xuyên của người gửi tiền mà
không gây ảnh hưởng đến độ thanh khoản của ngân hàng. Ngân hàng có thể
làm được điều này, vì qua kinh nghiệm công tác ngân quỹ hàng ngày, ngân
hàng có thể dự tính chính xác nhu cầu rút tiền gửi hàng ngày và trong trường
hợp thiếu hụt tiền mặt tạm thời thì ngân hàng chỉ cần đi vay bổ sung một
cách thông thường trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng.
Tuy nhiên, trong một số trường hợp đặc biệt, ngân hàng có thể phải
đối mặt với rủi ro thanh khoản, ví dụ như trong tình huống dân chúng mất
20
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
lòng tin vào ngân hàng, hoặc nhu cầu rút tiền có tính chất thời vụ mà ngân
hàng không dự tính trước được, đòi hỏi ngân hàng phải chi trả tức thời một
khoản tiền lớn hơn mức bình thường. Trong bối cảnh đó, hầu hết các ngân
hàng đều đang phải đối phó với tình huống tương tự, thì chi phí để huy động
vốn bổ sung tăng lên một cách đáng kể do lượng vốn cung ứng trên thị
trường giảm. Hậu quả là ngân hàng phải bán một số tài sản có độ thanh
khoản thấp để đáp ứng nhu cầu rút tiền của người gửi. Điều này khiến cho
ngân hàng gặp phải rủi ro thanh khoản nghiêm trọng và ngân hàng buộc phải
bán gấp ngay cả những tài sản khó chuyển nhượng với giá rẻ. Do bán khẩn
cấp một số tài sản với giá thấp khiến cho khả năng thanh toán cuối cùng của
ngân hàng bị đe dọa. Trong trường hợp rủi ro thanh khoản ngày càng
thống máy tính đã xử lý sai khoản đi vay của ngân hàng thành khoản cho
vay. Kết quả là đến cuối ngày, trạngthái tiềncho vay của ngân hàng có thể ở
mức cao quá mức, ảnh hưởng đến khả năng thanh toán cảu ngân hàng.
1.2.2.6. Rủi ro pháp lý: Thường tác động tới các Ngân hàng theo hai cách:
+ Các khách hàng và những người khác có thể khởi kiện Ngân hàng.
Lý do của việc khởi kiện có thể phát sinh từ quá trình hoạt động kinh doanh
bình thường, ví dụ việc Ngân hàng từ chối cấp lại hạn mức cho vay mà theo
khách hàng là vô lý. Tuy nhiên, các trường hợp khác cũng có thể phát sinh
từ các lý do tách biệt khỏi hoạt động kinh doanh Ngân hàng như việc tài trợ
cho những khách hàng gây ô nhiễm môi trường có thể làm Ngân hàng bị các
bên thứ ba kiện cáo...
+ Thu xếp pháp lý của Ngân hàng: ví dụ, các hợp đồng cho vay và tài
sản đảm bảo tiêu chuẩn của Ngân hàng có vấn đề, hoặc Nhà nước thay đổi
đột ngột chính sách vĩ mô về cơ cấu kinh tế, lĩnh vực ưu tiên...điều này có
thể dẫn tới rủi ro thua lỗ cho Ngân hàng.
22
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
1.2.2.7. Các rủi ro khác
Ngoài những rủi ro cơ bản trên thì hoạt động ngân hàng còn phải đối mặt với
một số rủi ro như sau:
Rủi ro chiến lược: phát sinh từ các thay đổi trong môi trường hoạt
động của Ngân hàng trên phạm vi rộng hơn về mặt kinh doanh và tài chính.
Rủi ro chiến lược cũng có thể phát sinh từ các hoạt động của bản thân Ngân
hàng. Ví dụ, việc xâm nhập vào một thị trường mới mà thiếu sự nghiên cứu
đầy đủ và thiếu các nguồn lực cần thiết để khai thác thị trường này có thể
làm Ngân hàng gặp phải rủi ro thua lỗ.
Rủi ro uy tín: Là rủi ro dư luận đánh giá xấu về Ngân hàng, gây khó
khăn nghiêm trọng cho Ngân hàng trong việc tiếp cận nguồn vốn hoặc khách
hàng rời bỏ Ngân hàng. Nhận thức rõ tầm quan trọng của uy tín và thương
hiệu, hiện nay,các ngân hàng đều đang cố gắng xây dựng được hình ảnh đẹp
chứng minh nhiều doanh nghiệp đã phải trả giá cho các điều kiện lập lờ
trong hợp đồng ngoại thương cũng như trong thư tín dụng. Do vậy ngân
hàng khi thanh toán cũng gặp nhiều rủi ro.
Một nguyên nhân nưa là khách hàng cố ý làm sai nguyên tắc. Khách
hàng bao gồm cả nhà xuất khẩu lẫn cả nhập khẩu, vấn đề ở đây là đạo đức
kinh doanh của khách hàng. Họ đã nắm được điểm yếu của thư tín dụng là
việc thanh toán tách rời khỏi hàng hoá mà chỉ căn cứ vào chứng từ. Dối tác
có thể tinh vi lập bộ chứng từ giả mà ngân hàng không thể phát hiện tính xác
thực của nó.
Môi trường pháp lý
24
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Trong thanh toán quốc tế luôn chứa đựng những rủi ro, những tranh
chấp và nó tỷ lệ thuận với sự hoà nhập ngày càng rộng, càng nhiều ,càng sâu
vào nền kinh tế khu vực và quốc tế. Trong những nhân tố quan trọng gây ra
rủi ro là sự thiếu trung thực hay cố ý lam trái của khách hàng. Do vậy pháp
luật của mỗi quốc gia cần phải có những quy định cụ thể điều chỉnh mối
quan hệ này trong sự tương quan hợp lý với thông lệ quốc tế. Ví dụ như:
Trung quốc người ta cho phép toà án địa phương có quyền ra lệnh tạm
nghừng thanh toán thư tín dụng khi người cung cấp thư tín dụng có khiếu
nại. Bộ luật dân sự cộng hoà liên bang nga quy định khá nhiều điều khoản
liên quan đến giao dịch thư tín dụng tương quan với thông lệ quốc tế. ở việt
nam những quy định về thư tín dụng là chưa nhiều có thể nói là chưa có.
Hiện nay tại các ngân hàng thì chỉ thực hiện theo quy định của UCP500 là
chủ yếu.
Môi trường pháp lý có thể gây ra rủi ro cho ngân hàng khi chính sách
luật thay đổi hoặc hệ thống luật chưa hoàn thiện, cách thức thi hành chưa
đảm bảo thời gian, tính nghiêm minh và còn nhiều kẽ hở cho các doanh
nghiệp lợi dụng. Trong thanh toán quốc tế sự khác biệt về pháp luật giữa các
nước cũng gây ra tranh chấp giữa các ngân hàng.