TRƯỜNG..........................
KHOA…………………… BÁO CÁO TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI
Một số giải pháp nhằm tiếp
tục khuyến khích các hoạt
động đầu tư trong nước
LuËn v¨n tèt nghiÖp
1
BẢNG KÊ CÁC CHỮ VIẾT TẮT
1. KKĐTTN = Khuyến khích đầu tư trong nước
2. TSCĐ = Tài sản cố định .
3. DA' = Dự án .
4. KCX = Khu chế xuất .
5. KCN = Khu công nghiệp .
6 . TƯ = Trung ương .
7. XHCN = Xã hội chủ nghĩa .
8. NĐ = Nghị định .
LuËn v¨n tèt nghiÖp
3
tài nguyên, lao động và các tiềm năng khác của đất nước góp phần phát triển
kinh tế - xã hội, thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, vì
sự nghiệp dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh.
Luận văn tốt nghiệp này sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu
như: duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, tư duy logic, thống kê, phân tích
hoạt động kinh tế.
Ngoài phần đặt vấn đề, kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn kết cấu
gồm ba phần:
Phần I: Một số vấn đề chung về đầu tư và khuyến khích đầu tư trong
nước.
Phần II: Thực trạng hoạt động khuyến khích đầu tư trong nước những
năm qua.
Phần III: Những giải pháp chủ yếu tiếp tục khuyến khích các hoạt động
đầu tư trong nước.
Qua đây em xin gửi lời cảm ơn đến GS. TS .Đỗ Hoàng Toàn, TS.
Nguyễn Lê Trung , các thầy cô giáo trong Khoa và các cô chú trong Vụ doanh
nghiệp - Bộ kế hoạch Đầu tư đã giúp em hoàn thành luận văn tốt nghiệp của
mình. Vì thời gian có hạn và sự hiểu biết còn hạn chế nên luận văn tốt nghiệp
của em không tránh khỏi những thiếu sót. Em rất mong nhận được sự góp ý
của các thầy cô giáo trong khoa Khoa học quản lý và các cô chú công tác ở
Vụ doanh nghiệp để luận văn của em được hoàn thiện hơn.
Em xin cam đoan nội dung báo cáo đã viết là do bản thân thực hiện,
không sao chép, cắt ghép các báo cáo hoặc luận văn của người khác. Nếu sai
phạm em xin chịu kỷ luật với nhà trường.
Hà Nội 01/06/2001
Sinh viên: Trần Công Khanh
LuËn v¨n tèt nghiÖp
4
tiêu thường xuyên của các chủ thể kinh doanh của xã hội, của Chính phủ vì
điều này sẽ làm xáo động các hoạt động kinh tế bình thường và sinh hoạt xã
hội. Nguồn tiền sử dụng cho các hoạt động đầu tư đòi hỏi phải được tích luỹ
từ nhiều nguồn khác nhau và chỉ có thể là tiền tích luỹ của xã hội, của các chủ
thể kinh doanh, của phần chi cho đầu tư phát triển thuộc ngân sách Chính
phủ, là tiền tiết kiệm của dân và tiền huy động từ nước ngoài.
Quá trình sử dụng tiền đầu tư, xét về mặt bản chất, là quá trình thực hiện
sự chuyển hoá vốn bằng tiền (vốn đầu tư) thành vốn hiện vật để tạo nên
những yếu tố cơ bản của quá trình tái sản xuất. Đó cũng chính là quá trình
hoạt động đầu tư hay quá trình đầu tư vốn.
Đầu tư trong nước, theo cách diễn đạt của Luật Khuyến khích đầu tư
trong nước năm 1994 là việc bỏ vốn vào sản xuất, kinh doanh tại Việt Nam
của các tổ chức, công dân Việt Nam, người Việt Nam định cư ở nước ngoài,
người nước ngoài cư trú lâu dài ở Việt Nam (Điều 2 - Luật Khuyến khích đầu
tư trong nước năm 1994). Luật Khuyến khích đầu tư trong nước (sửa đổi) số
03/1998/QH10 cũng có quan niệm về đầu tư trong nước tương tự.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài, Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm
1996, diễn đạt như sau: "là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn
bằng tiền hoặc bằng bất kỳ tài sản nào để tiến hành các hoạt động đầu tư theo
quy định của luật này". Đối tượng của luật đầu tư nước ngoài là tổ chức kinh
tế, cá nhân nước ngoài đầu tư vào Việt Nam. Đối tượng của Luật Khuyến
khích đầu tư trong nước gồm: tổ chức, công dân Việt Nam, người Việt Nam
định cư ở nước ngoài, người nước ngoài cư trú lâu dài (hay còn gọi là thường
trú) tại Việt Nam. Các đối tượng tham gia hoạt động đầu tư có yếu tố nước
ngoài thì có thể lựa chọn một trong hai Luật.
LuËn v¨n tèt nghiÖp
6
Tuỳ theo góc độ đề cập, hoạt động đầu tư trong nước có thể được phân
theo các tiêu thức sau:
- Theo tính chất của các đối tượng đầu tư, hoạt động đầu tư gồm:
mình, cung ứng tiền hoặc nguồn lực khác cho Chính phủ của các nước khác
để các nước đó phát triển kinh tế xã hội, điều chỉnh cơ cấu. Một loại chủ thể
khác, giữ vai trò đặc biệt quan trọng, có khi là then chốt, là các cá nhân, tổ
chức mua các loại chứng chỉ có giá trị như cổ phiếu, trái phiếu để hưởng lợi
tức (còn gọi là đầu tư tài chính).
+ Đầu tư trực tiếp: ở đây người bỏ vốn trực tiếp tham gia quản lý hoặc
điều hành quá trình thực hiện và vận hành các kết quả đầu tư. Đầu tư trực tiếp
lại được phân thành: đầu tư chuyển dịch và đầu tư phát triển.
++ Đầu tư chuyển dịch là loại đầu tư trong đó, người có tiền mua lại một
số cổ phiếu đủ lớn để nắm quyền chi phối hoạt động của doanh nghiệp. Trong
trường hợp này, việc đầu tư không làm gia tăng tài sản của doanh nghiệp, mà
chỉ làm thay đổi quyền sở hữu các cổ phần của doanh nghiệp.
++ Đầu tư phát triển là loại bỏ vốn đầu tư để tạo nên những năng lực sản
xuất phục vụ mới (cả về chất và lượng). Đây là loại đầu tư để tái sản xuất mở
rộng, là biện pháp chủ yếu để tạo việc làm cho người lao động, là tiền đề để
thực hiện đầu tư tài chính và đầu tư chuyển dịch.
- Căn cứ vào thời gian thực hiện và thời gian phát huy tác dụng, hoạt
động đầu tư có thể phân chia thành:
+ Đầu tư thương mại: là hoạt động đầu tư là thời gian thực hiện đầu tư và
hoạt động của các kết quả đầu tư để thu hồi đủ vốn đầu tư ngắn hạn, vốn vận
động nhanh, mức độ mạo hiểm thấp do trong một thời gian ngắn, tính bất
động không cao, lại dễ dự đoán và độ chính xác của dự đoán khá cao.
LuËn v¨n tèt nghiÖp
8
+ Đầu tư sản xuất: Là loại đầu tư dài hạn, vốn đầu tư lớn, thu hồi chậm,
thời gian thực hiện đầu tư lâu, độ mạo hiểm cao, vì tính chất kỹ thuật của hoạt
động đầu tư phức tạp, phải chịu tác động của nhiều yếu tố bất định trong
tương lai không dự đoán trước được hoặc chất lượng dự đoán khó chính xác
(về nhu cầu, giá cả đầu vào, cơ chế, chính sách, tốc độ phát triển khoa học kỹ
thuật, thiên tai, sự ổn định về chính trị...). Loại đầu tư này phải được chuẩn bị
hoà nhập với khu vực và trên thế giới đã tạo điều kiện thuận lợi để chúng ta
mở rộng dần diện huy động vốn trong nước, đồng thời thu hút thêm các
nguồn vốn đầu tư từ bên ngoài. Cho đến nay, nguồn vốn cho đầu tư ở nước ta
khá phong phú hơn trước và chủ yếu được huy động từ các nguồn chính:
* Vốn huy động trong nước:
- Vốn ngân sách tập trung: đây là nguồn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng
đối với các hoạt động đầu tư trong nước. Nguồn này hiện nay chủ yếu được
tập trung cho đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế và xã hội, đầu tư phát
triển một số công trình công nghiệp then chốt, bảo đảm giữ các cao điểm
trong nền kinh tế quốc dân, các công trình liên quan đến An ninh - Quốc
phòng.
- Vốn của các doanh nghiệp Nhà nước: nguồn vốn này luôn có vai trò
quan trọng rất lớn và có tác dụng trực tiếp nhất đối với tốc độ tăng trưởng
hàng năm tổng sản phẩm trong nước. Đây chính là nguồn vốn mà các chính
sách kinh tế vĩ mô xem là một đối tượng hàng đầu tác động vào nền kinh tế,
có vai trò rất lớn trực tiếp tác động tới tốc độ tăng trưởng bình quân trong các
năm sắp tới.
- Vốn của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh: nguồn này chủ yếu dùng
vào các định hướng đầu tư phát triển chiều sâu, đổi mới công nghệ, đa dạng
hoá sản phẩm và mở rộng quy mô doanh nghiệp hiện đang hoạt động cũng
như mở rộng thêm doanh nghiệp mới do thị trường trong và ngoài nước mở
LuËn v¨n tèt nghiÖp
10
rộng thêm và do xuất hiện nhu cầu mới hoặc do yêu cầu phân tán rủi ro, tăng
thêm khả năng cạnh tranh.
- Vốn tiết kiệm trong dân cư: có thể nói đây là nguồn vốn khá lớn, có
khả năng đáp ứng nhu cầu về vốn cho hoạt động đầu tư trong tương lai nhưng
chưa được tổ chức khai thác huy động tốt. Nhiều kết quả tính toán cho thấy,
nếu khoảng 40-45% số vốn trong dân cư đầu tư vào sản xuất và dịch vụ thì
cũng là một yếu tố đáng kể làm lên tốc độ phát triển GDP hàng năm đáng kể
đó một mặt phải xây dựng được chính sách thích hợp để thu hút đầu tư của
họ; mặt khác cần phát huy tiềm năng của Việt kiều làm cầu nối để thu hút vốn
của các quốc gia nơi họ sinh sống đầu tư vào Việt Nam.
Thực tế ngày càng chứng tỏ rằng, nếu không huy động tốt và đủ các
nguồn vốn đầu tư trong nước thì rất khó có thể khai thác và sử dụng có hiệu
quả những nguồn đầu tư lớn từ bên ngoài nhằm phục vụ định hướng phát triển
đất nước. Chính vì vậy trong công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế theo
đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước ta hiện nay, chiến lược lâu dài của
nước ta là tăng nhanh tiết kiệm nội địa, huy động tối đa nguồn vốn trong
nước, nâng dần tỷ trọng vốn trong nước trong tổng nguồn vốn đầu tư toàn xã
hội.
2 - Khuyến khích đầu tư trong nước
2.1. Nhận thức
Khuyến khích đầu tư trong nước là việc sử dụng các cơ chế, chính sách,
biện pháp, nhằm kích thích quá trình đầu tư các nguồn lực vào các ngành, lĩnh
vực, địa bàn trên cơ sở chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế xã
hội trong từng thời kỳ của đất nước.
Để khuyến khích các hoạt động đầu tư trong nước, Nhà nước phải xây
dựng, hoàn thiện một hệ thống các công cụ pháp lý và các biện pháp kinh tế,
xã hội nhằm bảo hộ, bảo đảm đối xử bình đẳng với tất cả các chủ thể tham gia
LuËn v¨n tèt nghiÖp
12
hoạt động đầu tư, khuyến khích tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động đầu
tư, quy định thủ tục hành chính, đơn giản tiện lợi cho các tổ chức, cá nhân đầu
tư vào các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội trên lãnh thổ theo những khung
pháp lý cụ thể và theo các lĩnh vực, kế hoạch xác định cụ thể.
Mục đích sự khuyến khích của Nhà nước trong lĩnh vực đầu tư là tạo cơ
hội cho các chủ thể tham gia đầu tư có thể huy động và sử dụng có hiệu quả
nhất các nguồn vốn, tài nguyên, lao động... tạo thêm việc làm cho xã hội,
nhằm thực hiện đường lối phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, đồng
điều kiện lịch sử cụ thể thái độ khuyến khích cần được xác định rõ ràng. Đây
cũng là điều kiện đầu tiên để đảm bảo yêu cầu về tính nhất quán của chính
sách. Khâu tiếp đến hết sức cơ bản là việc thiết kế cơ chế vận hành của chính
sách. Công việc này thường do các nhà chuyên môn kịp ra chính sách thực
hiện dưới sự chỉ đạo của các nhà chính trị. Khâu này phải bảo đảm thoả mãn 3
yêu cầu cùng một lúc: thể hiện được thái độ chính trị của nhà nước trong việc
khuyến khích, quy phạm hoá các quan hệ khuyến khích cần điều chỉnh bằng
luật pháp và cuối cùng là bảo đảm khả năng chấp nhận của quần chúng số
đông (khía cạnh tâm lý xã hội).
Thông thường khi ý tưởng chính sách khuyến khích phù hợp với lợi ích
của đại đa số quần chúng nhân dân thì có thể khâu thể chế hoá chưa thực sự
tốt thì khả năng đi vào cuộc sống của chính sách vẫn có thể bảo đảm. Đó là
trường hợp đã từng diễn ra trong đổi mới nông nghiệp Việt Nam thời kỳ
"Khoán 100", và "Khoán 10", chỉ cần Đảng có chỉ thị cho phép, chưa đợi đến
sự pháp lý hoá đầy đủ của nhà nước thì khoán nông nghiệp đã diễn ra trên
diện rộng, như một trào lưu xã hội - kinh tế không thể đảo ngược. Tất nhiên,
khi các quan hệ lợi ích ngày càng phức tạp thêm, đa dạng hơn, muốn tư tưởng
khuyến khích ngày càng tiếp tục đi vào cuộc sống mà không bị khúc xạ, thì
tất yếu phải làm tốt khâu thể chế hoá. Và nói chung trong xã hội công nhân,
Nhà nước pháp quyền và kinh tế thị trường thì không thể làm thiếu, làm yếu
LuËn v¨n tèt nghiÖp
14
khâu thể chế hoá. Sự thiếu nhạy cảm với những vấn đề có tính nguyên tắc như
vậy trong quy trình quản lý nói chung, quản lý bằng pháp luật nói riêng đều
làm hạn chế tác dụng tích cực của chính sách khuyến khích. Hơn nữa trong
trường hợp do chỗ những đối tượng mà Nhà nước cần khuyến khích trong
từng thời kỳ không phải bao giờ cũng trùng hợp với nguyện vọng của mọi
người dân (sự lệch pha nhất định giữa lợi ích nhà nước, lợi ích xã hội và lợi
ích của cá nhân công dân) nên nếu không có sự thể chế tốt, sát hợp thì khó có
thể sử lý hài hoà các xung đột về lợi ích có thể có khi thực hiện chính sách
nước đối với các chủ thể tham gia đầu tư.
2.2.1. Luật quy định ba loại hình đầu tư được áp dụng theo Luật Khuyến
khích đầu tư trong nước bao gồm:
a - Dự án đầu tư thành lập và phát triển cơ sở sản xuất kinh doanh mới
thuộc mọi thành phần kinh tế.
b - Đầu tư mở rộng quy mô, nâng cao năng lực sản xuất, kinh doanh ,
nghiên cứu phát triển và đổi mới công nghệ của các cơ sở sản xuất kinh doanh
hiện có.
c - Mua cổ phần của các doanh nghiệp, góp phần vốn vào các doanh
nghiệp, kể cả doanh nghiệp Nhà nước được phép đa dạng hoá hình thức sở
hữu.
2.2.2.Đối tượng khuyến khích đầu tư trong nước
Trên cơ sở đó, Nghị định 29/3 CP, Nghị định số 07/1998/NĐ-CP cụ thể
hoá các đối tượng khuyến khích đầu tư của Luật KKĐTTN gồm:
a - Các doanh nghiệp được thành lập theo Luật Công ty, Luật Doanh
nghiệp tư nhân, Luật Hợp tác xã, Luật Doanh nghiệp nhà nước, Doanh nghiệp
của các tổ chức chính trị - xã hội, hội nghề nghiệp và cá nhân, nhóm kinh
doanh hoạt động theo Nghị định số 66/HĐBT ngày 2 tháng 3 năm 1992 của
Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ).
LuËn v¨n tèt nghiÖp
16
b - Tổ chức, công dân Việt Nam, người Việt Nam định cư ở nước ngoài,
người nước ngoài cư trú lâu dài ở Việt Nam mua cổ phần hoặc góp vốn vào
các doanh nghiệp trong nước kể cả các doanh nghiệp Nhà nước được đa dạng
hoá sở hữu hoặc các quỹ đầu tư tự chủ tài chính.
c - Doanh nghiệp do người Việt Nam định cư ở nước ngoài đầu tư trực
tiếp tại Việt Nam.
d - Doanh nghiệp do người nước ngoài cư trú lâu dài tài Việt Nam đầu tư
trực tiếp tại Việt Nam.
e - Doanh nghiệp do công dân Việt Nam cùng thành lập với người Việt
gia súc tập trung.
b) Xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật, phát triển vận tải công cộng đô thị;
phát triển sự nghiệp giáo dục đào tạo, y tế, văn hoá dân tộc; nghiên cứu khoa
học, công nghệ.
c) Chế biến nông sản, lâm sản, thuỷ sản, các dịch vụ kỹ thuật trực tiếp
phục vụ sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp.
d) Sản xuất hàng xuất khẩu, thay thế nhập khẩu.
e) Các ngành công nghiệp được ưu tiên phát triển (trong thời kỳ 1995-
2000), ngoài các ngành nghề đã nêu ở trên.
g) Đầu tư vào các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghiệp cao.
2.2.4.2 - Các dự án đầu tư ở các vùng dân tộc thiểu số, miền núi, hải
đảo,quy định tại danh mục B (danh mục B ban hành kèm theo các Nghị định
hướng dẫn của Chính phủ).
2.2.4.3 - Đầu tư vào các vùng khó khăn theo quy định tại danh mục C.
LuËn v¨n tèt nghiÖp
18
2.2.4.4 - Đầu tư thành lập cơ sở sản xuất, kinh doanh sử dụng công nghệ
hiện đại, ít nhất có một trong các tiêu chuẩn quy định dưới đây:
a) Công nghệ tạo ra sản phẩm xuất khẩu, sản phẩm thay thế hàng nhập
khẩu.
b) Công nghệ áp dụng có khả năng tạo ra sự đổi mới công nghệ, thiết bị
của các ngành khác.
c) Công nghệ sử dụng nguyên vật liệu trong nước để làm ra sản phẩm đạt
các chỉ tiêu chất lượng cao hơn so với các sản phẩm đã có cùng loại.
d) Công nghệ sạch, công nghệ sử dụng các chất phế thải rắn, lỏng, khí.
2.2.4.5 - Đầu tư vào các dự án sản xuất, kinh doanh sử dụng số lao động
bình quân trong năm ít nhất là:
a) ở đô thị loại 1 và loại 2: 100 người.
b) ở các vùng, huyện thuộc vùng dân tộc thiểu số, miền núi, hải đảo và
các vùng khó khăn khác (được quy định tại danh mục B và C Nghị định
2.2.5.4 - Ưu đãi đối với riêng những doanh nghiệp sản xuất hàng xuất
khẩu được xác định thêm các ưu đãi:
Những doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu được quyền trực tiếp xuất
khẩu hàng hoá do mình sản xuất; tuỳ lĩnh vực hoạt động có thể được giảm
mức vốn lưu động và được bảo lãnh cho vay hoặc cho vay tín dụng xuất khẩu.
Như vậy những nội dung hỗ trợ và ưu đãi đầu tư quy định tại Luật
KKĐTTN và các văn bản dưới Luật hướng dẫn thi hành là khá phong phú.
Vấn đề còn lại là việc tổ chức triển khai những nội dung trong thực tế như thế
nào để mọi chủ đầu tư có dự án thuộc diện khuyến khích, hỗ trợ có thể nhận
LuËn v¨n tèt nghiÖp
20
được sự ưu đãi một cách nhanh nhất, đúng đắn nhất theo quy định và tinh
thần khuyến khích của Luật.
3 - Kinh nghiệm một số nước về khuyến khích đầu tư trong nước
Chính sách đổi mới kinh tế ở Việt Nam trong những năm qua đã bước
đầu khơi dậy được những tiềm năng, động lực to lớn trong nhân dân, phát huy
nghị lực, kinh nghiệm, trí sáng tạo của người dân để kinh doanh thúc đẩy sự
phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Chính sách đó đã được sự ủng hộ và
đồng tình của đông đảo quần chúng nhân dân.
Tuy nhiên, kết quả quan trọng đó vẫn còn nhiều mặt hạn chế, còn thấp xa
so với tiềm năng có thể và cần khai thác, cũng như chưa tương xứng với yêu
cầu của công cuộc phát triển. Đất nước ta đang chuyển sang một giai đoạn
phát triển mới, theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá càng đòi hỏi sự phát
triển phải có tính ổn định vững chắc hơn và nhịp độ tăng trưởng phải duy trì
được ở mức cần thiết. Điều đó đòi hỏi bên cạnh việc tìm mọi biện pháp thu
hút tốt hơn các nguồn vốn từ bên ngoài phải hết sức coi trọng việc khơi thông
các nguồn vốn đầu tư trong nước bảo đảm cho các nguồn vốn này ngày càng
có vị trí quan trọng trong hoạt động đầu tư, thể hiện rõ dần vai trò quyết định
trong công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Kinh nghiệm thành công của nhiều nước trên Thế giới cho thấy, không
3.1 - Luật thúc đẩy đầu tư của Malaysia: ra đời năm 1986 quy định: chế
độ khuyến khích và ưu đãi đầu tư cho từng lĩnh vực công nghiệp, nông
nghiệp, du lịch. Ngoài ra, trong ưu đãi đối với từng ngành, có các biện pháp
ưu đãi khuyến khích đầu tư chung và ưu đãi đầu tư theo mục tiêu.
Ví dụ:
Đối với ngành công nghiệp, các biện pháp ưu đãi đầu tư chung
bao gồm: miễn thuế lợi tức tối đa 10 năm cho các dự án thuộc lại ưu tiên;
được hưởng chế độ trợ cấp đến 100% số vốn đầu tư thực hiện trong 5 năm
đầu, kể từ khi thông qua dự án, trợ cấp cho tái đầu tư với mức tối đa là 40%
số vốn tái đầu tư.
LuËn v¨n tèt nghiÖp
22
Ngoài ra Malaysia còn có biện pháp khuyến khích đầu tư cho xuất khẩu
(như cấp tín dụng xuất khẩu và lãi suất ưu đãi, khấu trừ ra khỏi thuế lợi tức
một khoản bằng 5% giá trị nguyên liệu trong nước được sử dụng để sản xuất
hàng xuất khẩu, tính gấp đôi phí bảo hiểm tín dụng xuất khẩu, trợ cấp xuất
khẩu...) .
Quy định các biện pháp khuyến khích đầu tư nghiên cứu và phát triển
như khấu trừ mọi chi phí liên quan đến hoạt động nghiên cứu khoa học do
công ty thực hiện hoặc được thực hiện nhân danh công ty, nhằm mục đích
phục vụ cho hoạt động đầu tư kinh doanh của công ty ra khỏi lợi tức chịu
thuế. Các biện pháp khuyến khích cho đào tạo gồm: trợ cấp xây dựng nhà
xưởng phục vụ cho công tác đào tạo, tính gấp đôi chi phí đào tạo công nhân ở
các Viện đào tạo được Nhà nước công nhận.
Đối với ngành Nông nghiệp, các biện pháp ưu đãi chung bao gồm: miễn
thuế lợi tức tối đa 10 năm cho các công ty chế biến sản phẩm nông nghiệp
hoặc đủ các điều kiện do Bộ Thương mại và Công nghiệp quy định, được trợ
cấp cho đến 100% chi tiêu đầu tư thực hiện trong 5 năm đầu.
Ngoài ra lĩnh vực này cũng có các biện pháp khuyến khích xuất khẩu,
khuyến khích nghiên cứu và phát triển và khuyến khích đào tạo giống như
- Miễn thuế tài sản đối với vốn đầu tư vào các lĩnh vực ưu tiên.
- Vốn đầu tư thực hiện trong 5 năm đầu không bị điều tra về nguồn gốc,
không phải là đối tượng đánh thuế.
- Thời hạn miễn thuế lợi tức tối đa cho một dự án là 6 năm và tối thiểu là
2 năm.
- Miễn phí thuế thu nhập đối với lợi tức cổ phần trong thời hạn tương
ứng.
- Hoàn thuế lợi tức đối với lợi nhuận tái đầu tư.
LuËn v¨n tèt nghiÖp
24
- Miễn, giảm thuế nhập khẩu đối với tư liệu nhập khẩu.
3.4 - Chính sách khuyến khích đầu tư ở Đài Loan
Các chính sách khuyến khích đầu tư ở Đài Loan được thực hiện chủ yếu
bằng các biện pháp khuyến khích về thuế và được quy định trong "quy chế
khuyến khích đầu tư" ban hành năm 1960
Bên cạnh đó ở Hàn Quốc giải pháp chủ yếu để khuyến khích đầu tư
trong nước là phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Để thực hiện sách lược
này, Nhà nước đã ban hành 9 đạo luật có liên quan, trong đó quan trọng nhất
là "Đạo luật thúc đẩy phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ".
Từ việc nghiên cứu các Luật, các quy định pháp lý về khuyến khích đầu
tư của một số nước Châu á có thể thấy tuỳ theo đặc điểm kinh tế, địa lý, chính
trị, xã hội, dân tộc, tôn giáo... của từng nước mà chính sách khuyến khích đầu
tư sử dụng ở mỗi nước mang những sắc thái và đặc thù riêng của mình, nhưng
về bản chất kinh tế, chúng có nhiều nét chung có thể rút ra để tham khảo.
Những điểm chung đó là:
Thứ nhất: tất cả các nước đều rất coi trọng nguồn vốn trong nước, coi
việc định hướng ưu tiên khuyến khích đầu tư phát triển một số lĩnh vực kinh
tế chủ yếu, một số vùng trọng điểm, trong từng thời kỳ là yếu tố đẩy nhanh sự
phát triển của đất nước.
Hai là: Nhận thức rõ ràng muốn thu hút được vốn đầu tư từ nguồn tiết