KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP: TÍNH TOÁN THÔNG LƯỢNG CAO VỚI CONDOR - Pdf 95


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ
Chu Quang Thủy

TÍNH TOÁN THÔNG LƯỢNG CAO VỚI CONDOR
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP HỆ ĐẠI HỌC CHÍNH QUY
Ngành: Công nghệ thông tin HÀ NỘI – 2006

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ
ựng từ một tập hợp các máy
tính giao tiếp với nhau qua mạng, trong đó có một máy tính trung tâm có thể quản
lí hoạt động của toàn bộ hệ thống tính toán đó. Một cụm tính toán như vậy cố gắng
thực hiện thật nhiều công việc ứng dụng cho người dùng trong một thời gian dài.
Ở mỗi máy tính trong cụm, người dùng sẽ đưa vào các công việc cần tính toán và
chờ đến khi công việc đó được hoàn thành mà không cầ
n biết nó được thực hiện
trên máy nào của cụm. Với một hệ thống như vậy, người ta có thể làm được rất
nhiều công việc lớn đòi hỏi tính toán lâu dài. Hệ thống Tính toán thông lượng cao
với Condor đã được triển khai sử dụng ở nhiều nơi và sẽ được nghiên cứu thử
nghiệm trong khóa luận này.

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1. HỆ THỐNG TÍNH TOÁN THÔNG LƯỢNG CAO (HTC) 4
1.1. Ý nghĩa thực tế 4
1.2. Mô tả hệ thống 4
1.2.1. Mô tả chung 4
1.2.2. Sự khác nhau giữa hệ thống HTC và HPC 7
1.2.3 Lợi ích và ứng dụng của hệ thống HTC 9
1.3. Sự phát triển của phần mềm hệ thống HTC 11
1.3.1. Kiến trúc phần mềm phân tầng 11
1.3.2. Kiến trúc phân tầng quản lí tài nguyên 12
1.3.3. Tính mềm dẻo của giao thức 14
1.4. An toàn cho hệ thống 14
1.5. Các khách hàng 16
Chươ
ng 2. GIỚI THIỆU PHẦN MỀM CONDOR 18
2.1. Tổng quan về Condor 18
2.1.1. Khái niệm chung 18

3.2.4. Một số lựa chọn cấu hình cho hệ thống 47
3.3. Các hoạt động thực nghiệm với hệ thống 51
3.3.1. Đưa các công việc vào hệ thống 51
3.3.2. Theo dõi tiến trình thực hiện của các công việc 52
3.4. Kết quả thực nghiệm 52
3.4.1. Tổng hợp các kế
t quả thực nghiệm 52
3.4.1.1. Số lượng các công việc được hoàn thành 52
3.4.1.2. Thời gian thực hiện công việc của Condor 55
3.4.2. Lập các biểu đồ đánh giá hiệu quả sử dụng hệ thống 57
3.4.3. Nhận xét, đánh giá kết quả thực nghiệm 59
KẾT LUẬN 61
PHỤ LỤC 63
TÀI LIỆU THAM KHẢO 67
BẢNG CÁC TỪ VIẾT TẮT

Từ viết tắt Từ đầy đủ Ý nghĩa
AFS Andrew File System Một dạng hệ thống file chia
sẻ
API Application Programming Interface Giao diện lập trình ứng
dụng
CNTT Công Nghệ Thông Tin Công Nghệ Thông Tin
CPU Control Processing Unit Bộ điều khiển trung tâm
của máy tính
FLOPS FLoating point OPerations per
Second
Sồ các phép tính dấu chấm

Ownership Quyền sở hữu
Remote system call Lời gọi hệ thống từ xa
Schedd Thành phần điều khiển sắp xếp công việc
Submit Đưa vào (công việc)
Submit description file File mô tả công việc đưa vào
Thread Luồng
1
MỞ ĐẦU

Ngày nay, sử dụng công nghệ thông tin đã trở thành nhu cầu tất yếu trong
mọi lĩnh vực đời sống. Đặc biệt, với sự phát triển như vũ bão của các công nghệ
mạng máy tính và Internet, nhu cầu sử dụng và trao đổi thông tin đang ngày càng
tăng nhanh. Hàng loạt những tập đoàn máy tính lớn trên thế giới, hàng trăm những
trung tâm thương mại điện tử, hàng nghìn những công ty đa quốc gia… liên tục ra
đờ
i và phát triển, liên tục tiến hành những hoạt động trao đổi thông tin, quảng bá
thương hiệu sản phẩm, giao dịch thương mại với nhau… thông qua Internet. Điều
đó càng thúc đẩy con người mở ra những khả năng phát triển mới cho nền kinh tế
tri thức trong tương lai, nhưng đồng thời nó cũng đặt ra những yêu cầu, đòi hỏi
cao hơn về khoa học kĩ thuật để có thể sử dụ
ng tối đa những tài nguyên mà
Internet và các mạng máy tính khác mang lại.
Với tầm quan trọng của Internet như vậy, các ứng dụng tính toán khoa học
ở mọi lĩnh vực hầu như đều được tin học hoá và ngày càng phong phú, đa dạng.
Rất nhiều những ứng dụng lớn cần được triển khai rộng rãi thông qua mạng máy
tính để có thể kết nối được nhiều người, nhiều tài nguyên ở nhiều nơi khác nhau
trên thế
giới với nhau. Phần lớn các công việc tính toán bằng máy tính ngày càng
tăng về cả số lượng và chất lượng, đòi hỏi khối lượng tài nguyên phục vụ việc tính
toán ngày càng lớn, đồng thời xuất hiện rất nhiều công việc đòi hỏi thời gian tính

Đại học Công Nghệ” sẽ mô tả về quá trình triển khai thử nghiệm một hệ thống tính
toán thông lượng cao sử dụng phần mềm Condor được thực hiện ở khoa CNTT,
trường Đại học Công Nghệ- ĐHQG Hà Nội và những thống kê, đánh giá kết quả
của quá trình thử nghiệm này.
- Phần kết luận nêu tóm tắt về những gì đã nghiên cứu được trong khoá
luận này, đồng th
ời nêu ra những định hướng phát triển tiếp theo cho đề tài này.
Mặc dù khóa luận đã đạt được các kết quả như đã trình bày và em đã cố
gắng rất nhiều nhưng do hạn chế về mặt thời gian và kinh nghiệm cho nên khóa
luận chắc chắn không tránh khỏi những sai sót. Vì vậy em rất mong nhận được sự
đánh giá, góp ý của các thầy, cô và bạn bè để em có điều kiện tiếp tục nghiên cứu
và phát triển tiếp đề tài này.
Cuối cùng, em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới thầy giáo- Tiến sĩ Nguyễn
Hải Châu, người đã tận tình hướng dẫn em trong suốt quá trình thực hiện đề tài
khóa luận tốt nghiệp này. Em xin chân thành cảm ơn các anh chị thực tập sinh: Đỗ
Thị Minh Việt, Nguyễn Thị Thùy Linh, Phạm Duy, Đinh Trung Hiếu đã giúp đỡ
em việc sử dụng máy tính cá nhân để cài đặt thử nghiệ
m. Đồng thời em cũng xin
gửi lời cảm ơn đến các thầy cô giáo ở bộ môn Các hệ thống thông tin, khoa CNTT
3
trường Đại học Công Nghệ đã nhiệt tình giúp đỡ cho em trong suốt quá trình
nghiên cứu thực nghiệm tại trường của em.

Hà Nội ngày 24 tháng 05 năm 2005
Sinh viên thực hiện
Chu Quang Thủy
4
Chương 1. HỆ THỐNG TÍNH TOÁN THÔNG LƯỢNG CAO
(HTC)


không còn quá quan trọng trong một môi trường HTC nữa. Mục tiêu chính của
một môi trường HTC là làm sao để cực đại hóa khối lượng các tài nguyên được
truy cập bới các khách hàng sử dụng hệ thống. Quan hệ sở hữu phân phối của các
tài nguyên máy tính là mục tiêu chính mà một môi trường như vậy cần đạt được để
mở rộng tài nguyên có thể sử dụng. Với những xu hướng gần đây về tỉ lệ giá cả
sản phẩm tính trên năng lực tính toán của phần cứng máy tính, khả năng điều
khiển các tài nguyên tính toán mạnh đã được đặt trong tầm tay của những cá nhân
và từng nhóm nhỏ. Những người sở hữu phân phối này sẽ vui lòng đóng góp tài
nguyên của họ vào môi trường HTC sau khi họ biết chắc chắn rằng nhu cầu của họ
sẽ được thoả mãn và quyền hạn của họ được bảo v
ệ.
Để đạt được khả năng tính toán cao nhất, hệ thống Tính toán thông lượng
cao cung cấp hai chức năng quan trọng. Thứ nhất, nó mở rộng các nguồn tài
nguyên có sẵn cho những người dùng bằng việc hiện thực hoá quan hệ sở hữu
phân phối dùng chung về tài nguyên mạng. Thứ hai, nó cần làm tăng tính hiệu quả
của việc sử dụng năng lực tính toán dựa trên tài nguyên có sẵn bằng cách đưa
thêm các máy đang n
ằm rỗi vào hoạt động.
Việc tận dụng các tài nguyên máy tính hỗn tạp trên mạng đòi hỏi một giải
pháp mà có thể có thể vận chuyển tài nguyên được, nó bao gồm một môi trường
làm việc tốt, quản lí được tài nguyên mà có thể rút ngắn khoảng cách giữa các tài
nguyên trong cụm máy tính. Để tạo ra khả năng xử lí cao trong khoảng thời gian
dài, môi trường đó phải dựa vào các cấu trúc phần cứng và phần mềm đáng tin c
ậy
để cho phép các tài nguyên có thể kết hợp và tách rời nhau trong cụm máy tính
một cách dễ dàng, đồng thời cho phép hệ thống có thể nâng cấp và cấu hình lại mà
không cần nhiều thời gian tạm ngừng để thực hiện việc này.
Còn việc đưa các máy tính nằm rỗi vào hoạt động cần được thực hiện một
cách hợp lí để đảm bảo hệ thống máy tính hoạt động hiệu quả, tránh xung đột,
tranh chấp quyền sử dụng, để thực hiện được nhiều công việc nhất có thể.

có thể phải xếp hàng ch
ờ đợi để được truy cập tài nguyên. Ngoài ra, quyền sở hữu
phân phối thường được phân quyền chặt chẽ khi những người chủ tài nguyên thực
hiện duy trì và thiêt lập cấu hình cho mỗi tài nguyên theo từng mục đích sử dụng
xác định. Vấn đề này tạo thêm mức độ hỗn tạp của các tài nguyên.
Sự phát triển của một cụm HTC là quá trình phát triển cả về mặt kĩ thuật
cũng nh
ư về mặt xã hội. Các phần mềm HTC phải là các phần mềm mạnh và giàu
tính năng để có thể thoả mãn các nhu cầu của các chủ tài nguyên, khách hàng và
những người quản trị hệ thống. Tuy nhiên, dù có phát triển thế nào thì các hệ
thống HTC tốt nhất vẫn phải được sử dụng thử nghiệm trong một tổ chức nội bộ
trước khi có thể được đem ra triển khai một cách rộng rãi, hiệ
u quả. Thông
thường, việc phát triển này là một tiến trình tiến hoá. Trước tiên, một hệ thống
HTC mẫu dùng để phát triển thử nghiệm, được gọi là hệ thống HTC evangelist,
7
cần triển khai một cụm nhỏ với các tài nguyên của nó và các tài nguyên được chia
sẻ bởi hệ thống HTC thực sự. Hệ thống HTC evangelist sau đó sẽ giúp một số ít
khách hàng sử dụng cụm máy nhỏ đó. Bằng cách tập dượt trước như thế, sự đạt
được lợi ích của cụm HTC đối với những khách hàng này được dùng để đánh giá
và xác định nhu cầu đòi hỏ
i cho hệ thống HTC thực sự trong một tổ chức. Ở đây,
các khách hàng trên có thể tiếp cận với những người quản trị và những người tạo
ra các chính sách để yêu cầu vùng máy hoạt động (the pool) thực tế được mở rộng,
hoặc họ có thể tiếp xúc trực tiếp với những người chủ tài nguyên để hỏi xin sự
chia sẻ tài nguyên của họ. Những khách hàng này cũng có thể giúp
đỡ chỉ bảo các
đồng nghiệp của họ để cùng trở thành khách hàng của hệ thống cụm máy tính.
1.2.2. Sự khác nhau giữa hệ thống HTC và HPC
Cách đây nhiều năm, cộng đồng các nhà khoa học tin tưởng vào những máy

ệ thống HTC lấy được những khoảng thời gian rỗi của máy tính
và đưa nó vào trong những mục đích sử dụng có hiệu quả, đem lại lợi ích cao hơn
cho người sử dụng và toàn bộ cơ quan. Thực trạng ngày nay đã giải quyết được
nhược điểm tính toán trước đây với sự bổ sung các cụm máy tính vào trong danh
sách các tài nguyên. Những máy tính đó được dành cho việc phục vụ tính toán cho
công việc. H
ệ thống HTC sẽ quản lí các tác dụng hiệu quả của cụm máy tính cũng
như quản lí sự hoạt động của các tài nguyên khác.
Đã hơn một thập kỉ, nhóm nghiên cứu hệ thống tính toán thông lượng cao
Condor thuộc trường đại học Wisconsin- Madison đã tiến hành phát triển và đánh
giá các cơ chế và chính sách nhằm hỗ trợ hệ thống HTC trên các tập hợp rộng rãi
các nguồn tài nguyên máy tính hỗn tạp được sở hữ
u phân phối. Người ta lần đầu
tiên được giới thiệu về sự khác nhau giữa Tính toán hiệu năng cao (HPC) và Tính
toán thông lượng cao (HTC) trong một buổi xê-mi-na ở Cơ quan quản lý hàng
không và vũ trụ Mỹ (National Aeronautical and Space Administration - NASA)
vào tháng 7/1996 và một tháng sau đó ở phòng thí nghiệm vật lí hạt nhân của châu
Âu (CERN-the European Laboratory for Particle Physics). Tháng 7/1997
HPCWire đã công bố một cuộc nói chuyện thảo luận về Tính toán thông lượng
cao.

Theo đó, nhiều nhà khoa học cho rằng vấn đề cần thiết hiện nay không chỉ
còn là tốc độ tính toán của các máy tính riêng lẻ, mà còn là vấn đề làm sao để mở
rộng phạm vi hoạt động của một mạng gồm rất nhiều máy tính và các máy tính đó
phải hỗ trợ, cộng tác với nhau trong quá trình làm việc. Những nhà nghiên cứu này
quan tâm đến việc tính toán dựa theo tiêu chí có bao nhiêu phép tính được thực
hiên trong một khoảng thời gian kéo dài tính theo từng tháng hoặc theo n
ăm. Thực
chất, họ quan tâm theo dõi xem có bao nhiêu công việc sẽ được hoàn thành trong
một khoảng thời gian kéo dài. Ngược lại với điều này, một môi trường Tính toán

không sử dụng đến 12 giờ mỗi ngày. Việc sử dụng hệ thống HTC sẽ tận dụng
được rất nhiều thời gian và năng lực làm việc của các máy. Hệ thống sẽ hoạt động
với hiệu quả rất cao nếu vùng hoạt động của hệ thống chứa vài trăm máy tính tr

lên.
Thông thường các cơ quan, công ty luôn cần phải thi hành những nhiệm vụ
lâu dài. Những công ty ấy có thể đang sử dụng một hệ thống dạng có thể thực hiện
một lô công việc nào đó, hay là các nhiệm vụ tính toán được thực hiện bởi sự khởi
động chương trình mỗi buổi tối và hi vọng rằng nó sẽ kết thúc trước khi họ trở lại
10
vào buổi sáng hôm sau. Trong các tình huống như vậy, một hệ thống HTC với
Condor có ưu thế vượt trội. Đặc biệt, Condor còn tiết kiệm thời gian và công sức
đáng kể hơn khi thời gian thi hành công việc kéo dài càng lâu.
Ngoài ra, hệ thống HTC cho phép hầu hết các ứng dụng có thể chạy mà
không cần quản lí sự tương tác với người dùng. Đây là một ưu điểm lớn vì phần
lớn các công ty nhỏ hiện nay không hỗ tr
ợ các chương trình dành cho khách hàng
tự xây dựng và phát triển nên trong thực tế các công việc xây dựng và triển khai
ứng dụng cho khách hàng vẫn là trách nhiệm chính của các đội phát triển của các
công ty, không có sự tham gia của khách hàng và cần được thực hiện tự động
nhiều hơn.
Hệ thống HTC được ứng dụng trong rất nhiều lĩnh vực khác nhau, đặc biệt
là trong các ngành khoa học đòi hỏi sự tính toán phức tạp, lâu dài như khoa học
máy tính, công nghệ
sinh học, công nghiệp điện ảnh…
Lấy ví dụ từ những doanh nghiệp đang sử dụng một môi trường HTC như
vậy, cụ thể là môi trường HTC sử dụng phần mềm Condor, các nhiệm vụ đòi hỏi
biểu diễn các hình ảnh 3 chiều cho một bộ phim, một công việc được xây dựng về
ban đêm và sự kiểm tra hồi qui trên phần mềm, mô phỏng và phân tích thị trường
chứng khoán, hay là mô phỏng hiệu quả của rất nhiều quyết định công cộng nói

trạm làm việc nào đó trong cụm. Cuối cùng, sự tận dụng các tài nguyên không
được trao tặng đòi hỏi khả năng đặt thứ tự ưu tiên (preempt) và phục hồi một ứng
dụng bằng cách sử dụng một cơ chế kiểm tra điểm trạng thái.
1.3.1. Kiến trúc phần mềm phân tầng
Hệ thống HTC có nhiều trạm làm việc, mỗi trạm tương ứng một khách
hàng và tương ứng với một giao diện làm việc. Khả năng vận chuyển của hệ thống
HTC sẽ phụ thuộc vào một kiến trúc phần mềm phân tầng, như hình vẽ. Hệ thống
được viết cho một giao diện độc lập hệ thống API, giảm giá thành của việc chuyển
đổi sang một ki
ến trúc mới bởi vì các mã không chuyển đổi được thì được tách ra
và đặt vào các thư viện API.
Giao diện API của mạng (network API) thực hiện tất cả các chuyển đổi
giữa host và mạng về các dạng số nguyên một cách tự động, kiểm tra sự tràn bộ
nhớ (chẳng hạn khi gửi tin từ một máy trạm 64 bít sang một máy trạm 32 bít) và
cung cấp các cơ chế tìm kiếm địa chỉ host.
Giao diện API quản lí tiế
n trình (process management API) cung cấp khả
năng để khởi tạo, trì hoãn, thôi trì hoãn, và loại bỏ hoàn toàn (kill) một tiến trình
để cho phep hệ thống HTC điều khiển việc thi hành các ứng dụng khách hàng.
12
Giao diện API biểu diễn các thông tin máy trạm (workstation statistics API)
thông báo các thông tin cần thiết để cài đặt các chính sách của người chủ tài
nguyên và xác nhận các yêu cầu cho ứng dụng khách hàng về thời gian trong
ngay, thời gian kể từ lần cuối cùng sử dụng bàn phím hay chuột, lượng bộ nhớ có
sẵn có thể chuyển đổi và các thuộc tính tài nguyên khác. Chẳng hạn, ứng dụng
khách hàng có thể đòi hỏi một hệ điều hành và cấu hình CPU xác định, một lượ
ng
bộ nhớ vật lí tối thiểu có sẵn, khoảng trống đĩa và băng thông mạng.
Nhiều thư viện đã có cung cấp khả năng chuyển vận cho các dịch vụ hệ
thống dùng cho các ứng dụng. Có những lợi ích rõ ràng khi sử dụng các thư viện

tìm tài nguyên phù hợp matchmaker, để bộ điều khiển này thông báo lại cho các
tác nhân khi một sự phù hợp được tìm thấy. Vì bộ điều khiển này không tham gia
trong giao thức thỏa thuận (claiming protocol), giao thức đ
ó có thể được điều
chỉnh cho phù hợp với yêu cầu của các tác nhân và có thể sửa đổi mà không ảnh
14
hưởng tới tiến trình đàm phán thương lượng của hệ thống. Bộ điều khiển tìm tài
nguyên phù hợp không cần biết chi tiết về sự thương lượng đó, nên nhiều giao
thức cho phép thỏa thuận có thể dễ dàng được hỗ trợ bởi các bộ điều khiển như
vậy.
1.3.3. Tính mềm dẻo của giao thức
Khi hệ thống file phân phối được phát triển và cung cấp các dịch vụ mới
chất lượng hơn, các giao thức cũng ảnh hưởng theo. Thông thường các giao thức
sẽ tăng lên để chuyển đổi thông tin. Điều này thường đòi hỏi tất cả các thành phần
của hệ thống phân phối được cập nhật để nhận biết được các thông tin bổ sung.
Trong một hệ thống HTC lớn thường b
ất tiện cho việc cập nhật tất cả các thành
phần ở một thời điểm, và do đó các tính năng mới không được triển khai cho tới
khi có một sự nâng cấp hệ thống chính trong tương lai.
Để hỗ trợ sự phát triển này, các giao thức mạng HTC có thể sử dụng một
cấu trúc dữ liệu với mục đích chung mà có tính mềm dẻo hơn. Trong các giao thức
mạng, người ta có thể
thêm vào danh sách tham số các tham số mới có tác động
đến các giao thức mạng để tạo ra những tính năng mới. Khả năng phục hồi lại của
giao thức được bảo đảm, vì các tác nhân cũ sẽ bỏ qua các tham số mới và các tác
nhân mới sẽ được sửa đổi để chấp nhận các gói dữ liệu có hoặc không các tham số
mới.
1.4. An toàn cho hệ thống
Một môi trường HTC rất dễ bị tổn thương vì những sự tấn công từ bên
ngoài vào các tài nguyên hoặc các khách hàng. Một tấn công tài nguyên xuất hiện

truy cập vào hệ thống file, tác nhân đó có thể sử dụng các giao diện API của hệ
điều hành để thiết lập thư mục chủ hệ thống file (the file system root directory) để
trở thành một thư mục đặc biệt được bảo vệ gọi là thư mục “sandbox”. Tuy nhiên,
có lẽ cách làm hiệu quả nhất là ngăn ngừa các lời g
ọi hệ thống từ các ứng dụng
bằng cách chèn thêm vào giao diện hệ điều hành. Việc này cho phép tác nhân tài
nguyên kiểm soát toàn bộ việc truy nhập hệ thống thực hiện bởi ứng dụng và
khẳng định một cách chắc chắn chính sách truy cập tài nguyên của người chủ bằng
cách loại bỏ tất cả các lời gọi hệ thống từ xa mà vi phạm chính sách đó.
Để đưa vào một ứng d
ụng cho môi trường HTC, khách hàng phải được cho
phép truy cập hệ thống tới các ứng dụng có thể thi hành và các file dữ liệu. Điều
này được thực hiện bởi sự chuyển đổi các file tới một thư mục hay một hệ thống
file được chia sẻ cho các ứng dụng HTC. Trong trường hợp này, không cần thiết
phải có sự tin cậy về uy tín của khách hàng. Khi ứng dụng kết thúc, khách hàng
truy tìm kết quả trong các file đầu ra (output file) n
ằm trong thư mục được chia sẻ
này. Khi đó, các file dữ liệu và file thi hành của khách hàng có nguy cơ bị can
thiệp và sửa đổi. Mặt khác, môi trường HTC có thể chạy ứng dụng với sự tin cậy
của hệ thống file của khách hàng, cho phép các file của khách hàng được truy
16
nhập trực tiếp và thuận tiện. Trong trường hợp đó, tài khoản của khách hàng dễ bị
tấn công.
Một tác nhân tài nguyên không đáng tin cậy có thể dễ gây ra một sự tấn
công khách hàng (customer attack). Do đó, để cho phép sự thực hiện từ xa được
đảm bảo, một ứng dụng cần phải truy cập các file dữ liệu thông qua một cơ chế
truy cập từ xa. Tác nhân tài nguyên phải có khả năng điề
u khiển hay thay ứng
dụng để làm nhiệm vụ lấy dữ liệu của khách hàng hay sửa đổi các file của khách
hàng. Trong trường hợp này, khi ứng dụng chạy với sự tin cậy của hệ thống file

Người quản trị hệ thống cũng không cần phải tạo một tài khoản mới cho khách
hàng ở
mỗi máy trạm mà chỉ cần tạo một tài khoản HTC.
Các khách hàng từ xa là những người không làm việc trực tiếp trong cụm
có thể mong muốn có sự xem xét đặc biệt khi cấu hình môi trường HTC. Những
tác nhân khách hàng đó có thể không được xem là đáng tin cậy như tác nhân
khách hàng địa phương, và do đó sự phòng ngừa an toàn có thể cần bổ sung. Các
tác nhân khách hàng từ xa có thể kết nối tới cụm qua một mạng diện rộng với bă
ng
thông được giới hạn, tính tin cậy thấp hơn và vấn đề an toàn được quan tâm hơn.
Do đó, có một đòi hỏi lớn hơn về việc áp dụng cơ chế truy nhập file từ xa, lưu trữ
cục bộ các file trung gian trong cụm và mã hóa sự giao tiếp qua mạng.
18

Chương 2. GIỚI THIỆU PHẦN MỀM CONDOR

2.1. Tổng quan về Condor
2.1.1. Khái niệm chung
Condor là một hệ thống phần mềm để tạo ra một môi trường Tính toán
thông lượng cao HTC. Nó sử dụng hiệu quả sức mạnh tính toán của các máy trạm
được giao tiếp với nhau qua mạng. Condor có thể quản lí một cụm các máy được
dành riêng. Sức mạnh tính toán của Condor có được do tận dụng các tài nguyên
rỗi trong cụm máy đó.
Một người dùng đưa công việc tới Condor. Condor tìm một máy sẵn sàng
làm việc trên mạng và bắt đầu chạ
y công việc trên máy đó. Condor có khả năng
nhận thấy một máy đang chạy một công việc là không tiếp tục sẵn sàng (có thể bởi
vì người chủ máy đó trở lại và bắt đầu gõ vào bàn phím). Nó có thể kiểm tra trạng
thái của công việc và di chuyển công việc đó tới một máy khác đang nằm rỗi.
Condor sẽ có thể tiếp tục thực hiện công việc trên máy mới này sau khi nó dời


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status