Các vướng mắc về tài sản bảo đảm tại các NHTM và giải pháp khắc phục - Pdf 95

Các vướng mắc về tài sản bảo đảm
tại các NHTM và giải pháp khắc phục GVHD: PGS-TS. Trầm Thị Xuân Hương
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
KHOA NGÂN HÀNG
TIỂU LUẬN NGHIỆP VỤ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

Đề tài:
NHỮNG VƯỚNG MẮC VỀ TÀI SẢN BẢO ĐẢM TẠI
CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM VÀ
GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC

TP. Hồ Chí Minh, năm 2013
DANH SÁCH THÀNH VIÊN NHÓM 6
Nhóm 6 – Ngân hàng Ngày 2 K21 Trang 1
GVHD : PGS-TS. Trầm Thị Xuân Hương
Lớp : Ngân hàng Ngày 2 – K21
Thực hiện : Nhóm 6
Các vướng mắc về tài sản bảo đảm
tại các NHTM và giải pháp khắc phục GVHD: PGS-TS. Trầm Thị Xuân Hương
NGÂN HÀNG NGÀY 2 – K21
STT Họ Tên Ngày sinh Ký tên
1 Nguyễn Ngọc Duy 17/01/1980
2 Nguyễn Thị Hà 12/03/1987
3 Nguyễn Hoàn Cẩm Lan 13/05/1987
4 Nguyễn Ngọc Phong Lan 02/07/1986
5 Trần Ngọc Thanh 14/01/1981
6 Nguyễn Thị Thành 01/02/1987
7 Nguyễn Thị Lệ Thu 10/08/1988

rủi ro tín dụng tốt nhất ở Việt Nam hiện nay. Tuy nhiên, việc sử dụng công cụ
này cũng mang rất nhiều hạn chế, cũng như những vướng mắc mà chính bản
thân các ngân hàng vẫn chưa giải quyết tốt. Vì vậy, việc nghiên cứu về tài sản
đảm bảo cũng như các biện pháp để ứng dụng nó một cách hiệu quả là một
việc cần thiết mà các ngân hàng cần thực hiện.
Nhóm 6 – Ngân hàng Ngày 2 K21 Trang 5
Các vướng mắc về tài sản bảo đảm
tại các NHTM và giải pháp khắc phục GVHD: PGS-TS. Trầm Thị Xuân Hương
CHƯƠNG 1
KHÁI QUÁT VỀ TÀI SẢN BẢO ĐẢM TRONG HOẠT ĐỘNG
CHO VAY CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. Cơ sở pháp lý:
Bảo đảm tín dụng bằng TSBĐ được thực hiện theo
Nghị định số 163/2006/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 29 tháng
12 năm 2006, Nghị định 11/2012/NĐ-CP ngày 22 tháng 02 năm 2012 Về sửa
đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29 tháng 12
năm 2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm và thông tư 07/2003/TT-
NHNN ngày 19 tháng 5 năm 2003 Hướng dẫn thực hiện một số quy định về
bảo đảm tiền vay của các tổ chức tín dụng
1.2. Khái niệm:
Tài sản bảo đảm là tài sản mà bên bảo đảm dùng để bảo đảm thực hiện
nghĩa vụ dân sự đối với bên nhận bảo đảm, là tài sản hiện có hoặc tài sản hình
thành trong tương lai mà pháp luật không cấm giao dịch.
Bảo đảm tiền vay là việc tổ chức tín dụng áp dụng các biện pháp nhằm
phòng ngừa rủi ro, tạo cơ sở kinh tế và pháp lý để thu hồi được các khoản nợ
đã cho khách hàng vay. Nói chung bất kỳ tài sản hoặc các quyền phát sinh từ
tài sản đã tạo ra ngân lưu đều có thể dùng làm bảo đảm tiền vay.
1.3. Tác dụng:
Bảo đảm tín dụng bằng TSBĐ có một số tác dụng chủ yếu như sau:
T8ch cực:

tại các NHTM và giải pháp khắc phục GVHD: PGS-TS. Trầm Thị Xuân Hương
tài sản để cầm cố thế chấp, tài sản đó phải được đăng ký giao dịch bảo đảm.
Người yêu cầu đăng ký giao dịch bảo đảm có thể là bên bảo đảm, bên nhận
bảo đảm hoặc người được uỷ quyền. Nội dung đơn yêu cầu phải có đầy đủ nội
dung về bên bảo đảm, bên nhận bảo đảm và phải mô tả rõ về tài sản bảo đảm.
Thứ ba, tài sản dùng để bảo đảm phải không có tranh chấp về quyền và
nghĩa vụ hợp pháp trong quan hệ pháp luật tại thời điểm ký kết hợp đồng bảo
đảm. Khách hàng vay, bên bảo lãnh phải cam kết bằng văn bản với Ngân hàng
về việc tài sản cầm cố, thế chấp, bảo lãnh không có tranh chấp tại thời điểm ký
hợp đồng bảo đảm và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về cam kết của
mình.
Đối với tài sản mà pháp luật quy định phải bảo hiểm thì khách hàng
vay, bên bảo lãnh phải mua bảo hiểm tài sản trong thời hạn bảo đảm tiền vay.
1.5. Các hình thức đảm bảo tiền vay:
1.5.1. Cầm cố bằng tài sản của khách hàng vay:
Cầm cố tài sản là việc một bên (sau đây gọi là bên cầm cố) giao tài sản
thuộc quyền sở hữu của mình cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận cầm cố) để
đảm bảo thực hiện nghĩa vụ dân sự.
Động sản cầm cố có thể là loại không cần đăng ký quyền sở hữu, có loại
đăng ký quyền sở hữu. Đối với loại tài sản không đăng ký quyền sở hữu khi
cầm cố tài sản phải được giao nộp cho bên cho vay. Đối với tài sản có đăng ký
quyền sở hữu, khi cầm cố có thể thoả thuận để bên cầm cố giữ tài sản hoặc
giao tài sản cầm cố cho bên thứ ba giữ.
Tài sản cầm cố có thể bao gồm các loại tài sản sau đây:
 Một là, tài sản tài chính:
Nhóm 6 – Ngân hàng Ngày 2 K21 Trang 8
Các vướng mắc về tài sản bảo đảm
tại các NHTM và giải pháp khắc phục GVHD: PGS-TS. Trầm Thị Xuân Hương
 Tiền trên tài khoản / ký gởi / ký quỹ ….
 Trái phiếu, cổ phiếu, tín phiếu, kỳ phiếu, chứng chỉ tiền gửi, sổ tiết kiệm,

vật phụ thì vật phụ của bất động sản, động sản đó cũng thuộc tài sản thế chấp.
1.5.3. Bảo đảm bằng tài sản của bên thứ ba:
Bên thứ ba có thể là một tổ chức, một cá nhân hoặc một số tổ chức/cá
nhân có đầy đủ năng lực pháp lý và tài chính đồng thời có nghĩa vụ trả nợ thay
cho khách hàng trong trường hợp khách hàng không thực hiện được nghĩa vụ
trả nợ của mình.
Bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ ba là việc bên thứ ba (gọi là bên bảo
lãnh) cam kết với bên cho vay về việc sử dụng tài sản thuộc sở hữu của mình
để thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay cho bên đi vay, nếu đến hạn trả nợ mà bên đi
vay không thực hiện hoặc không thể thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ.
1.5.4 .Bảo đảm bằng tài sản hình thành trong tương lai:
Tài sản hình thành trong tương lai là tài sản tại thời điểm giao kết chưa
hình thành hoặc đã hình thành nhưng chưa thuộc sở hữu của bên thế chấp/cầm
cố.
Đây thực chất là dạng biến đổi của thế chấp/cầm cố tài sản mà tài sản
bảo đảm khoản vay được hình thành sau giải ngân.
Hình thức này được áp dụng đối với các loại hình tín dụng sau:
 Vay để thực hiện các dự án đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, phục vụ đời
sống.
 Vay để thực hiện lô hàng xuất, tài sản bảo đảm chính là lô hàng xuất.
 Vay để thực hiện lô hàng nhập, tài sản bảo đảm chính là lô hàng nhập.
Nhóm 6 – Ngân hàng Ngày 2 K21 Trang 10
Các vướng mắc về tài sản bảo đảm
tại các NHTM và giải pháp khắc phục GVHD: PGS-TS. Trầm Thị Xuân Hương
Tuy nhiên, để được vay theo hình thức bảo đảm bằng tài sản hình thành
trong tương lai, tài sản hình thành từ vốn vay cần thoả một số điều kiện sau:
 Thuộc quyền sở hữu của khách hàng vay.
 Xác định danh mục, số lượng, giá trị, đặc điểm của tài sản.
 Tài sản được phép giao dịch, không có tranh chấp.
 Phải mua bảo hiểm đối với tài sản mà pháp luật qui định trong suốt thời hạn

1.6.2. Một khoản vay có thể được bảo đảm bởi nhiều tài sản.
Nghĩa vụ trả nợ ghi trong hợp đồng tín dụng có thể được bảo đảm bằng
một hoặc nhiều tài sản; bằng một hoặc nhiều biện pháp bảo đảm bằng tài sản,
với điều kiện tổng giá trị các tài sản bảo đảm phải lớn hơn giá trị nghĩa vụ
được bảo đảm.
Trong trường hợp cầm cố nhiều tài sản để bảo đảm thực hiện một nghĩa
vụ dân sự thì mỗi tài sản được xác định bảo đảm thực hiện toàn bộ nghĩa vụ.
Các bên cũng có thể thỏa thuận mỗi tài sản bảo đảm thực hiện một phần nghĩa
vụ.
Trong trường hợp thế chấp nhiều tài sản để bảo đảm thực hiện một
nghĩa vụ dân sự thì mỗi tài sản được xác định bảo đảm thực hiện toàn bộ
nghĩa vụ. Các bên cũng có thể thỏa thuận mỗi tài sản bảo đảm thực hiện một
phần nghĩa vụ.
Trong trường hợp một nghĩa vụ dân sự được bảo đảm bằng nhiều giao
dịch bảo đảm, mà khi đến hạn bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện
không đúng nghĩa vụ thì bên nhận bảo đảm có quyền lựa chọn giao dịch bảo
Nhóm 6 – Ngân hàng Ngày 2 K21 Trang 12
Các vướng mắc về tài sản bảo đảm
tại các NHTM và giải pháp khắc phục GVHD: PGS-TS. Trầm Thị Xuân Hương
đảm để xử lý hoặc xử lý tất cả các giao dịch bảo đảm, nếu các bên không có
thoả thuận khác.
1.7. Quy trình tài sản bảo đảm:
 Bước 1: Hướng dẫn, tiếp nhận và kiểm tra hồ sơ TSBĐ
- Hướng dẫn khách hàng
- Đối chiếu danh mục TSBĐ do NH quy định.
- Kiểm tra bản chính hồ sơ TSBĐ: số lượng, tính hợp pháp hợp lệ, phù hợp về
nội dung giữa các tài liệu.
 Bước 2: Thẩm định TSBĐ
- Thẩm định tính pháp lý của hồ sơ TSBĐ, khả năng chuyển nhượng, khả
năng quản lý TSBĐ.

+ Đối chiếu kết quả chấm điểm, phân loại, phân nhóm, hạng khách hàng vay.
- Trường hợp bên cầm cố, thế chấp không là khách hàng vay:
+ Xem xét năng lực pháp luật và năng lực hành vi.
+ Có tài sản hợp pháp.
+ Có tài sản đủ điều kiện và giá trị để thế chấp, cầm cố.
1.8.3. Thẩm định bên bảo lãnh:
- Xem xét bảo đảm về năng lực pháp luật.
- Tình hình tài chính lành mạnh, có uy tín; năng lực tài chính tại thời điểm bảo
Nhóm 6 – Ngân hàng Ngày 2 K21 Trang 14
Các vướng mắc về tài sản bảo đảm
tại các NHTM và giải pháp khắc phục GVHD: PGS-TS. Trầm Thị Xuân Hương
lãnh.
1.9. Định giá Tài sản bảo đảm:
1.9.1 Phương pháp thẩm định giá trị TSBĐ:
Phương pháp thẩm định giá là những phương pháp, cách thức để ước
tính giá trị bằng tiền với độ tin cậy cao nhất về giá trị của một tài sản
- Trong từng thời kỳ, căn cứ vào tính chất, mức độ thanh khoản của từng
TSBĐ và diễn biến của nền kinh tế, NH quy định phương pháp thẩm định giá
trị TSBĐ phù hợp với quy định của pháp luật, Ngân hàng Nhà nước, an toàn
và hiệu quả.
- Trên cơ sở phương pháp thẩm định giá trị TSBĐ, NH xác định và thống nhất
với bên bảo đảm về giá trị TSBĐ trong phạm vi cho phép, phù hợp với tính
chất rủi ro của từng trường hợp cụ thể, đảm bảo nếu xảy ra rủi ro phải xử lý
TSBĐ thì thu hồi được nợ gốc và lãi.
- Khi thẩm định giá trị TSBĐ, NH phải lưu giữ các căn cứ, tài liệu trong hồ sơ
cấp tín dụng.
1.9.2. Việc thẩm định giá trị TSBĐ phải tính đến các yếu tố sau:
- Tuổi thọ kỹ thuật, giá trị sử dụng. Đối với tài sản cố định, NH phải tham
khảo tốc độ hao mòn vô hình và hữu hình của tài sản.
- Hiện trạng của tài sản, vị trí địa lý, điều kiện kết cấu hạ tầng, lợi thế thương

vốn.
- Phạm vi áp dụng: Phương pháp trên được sử dụng hạn chế, áp dụng cho
một số đối tượng tài sản (các bất động sản như nhà hàng, khách sạn…),
Nhóm 6 – Ngân hàng Ngày 2 K21 Trang 16
Các vướng mắc về tài sản bảo đảm
tại các NHTM và giải pháp khắc phục GVHD: PGS-TS. Trầm Thị Xuân Hương
thường được kết hợp với phương pháp so sánh trực tiếp và được dùng
như một phương pháp kiểm chứng.
1.9.4. Các thông tin làm căn cứ khi thẩm định giá trị TSBĐ:
- Kết quả định giá của cơ quan thẩm định giá; Kết quả khảo sát của NH.
- Giá quy định của Nhà nước (nếu có); giá mua, bán trên thị trường; giá trị còn
lại trên sổ sách kế toán; giá chuyển nhượng thực tế của TS tương tự; giá ghi
trên giấy báo giá, hoá đơn, hợp đồng mua bán liên quan đến TSBĐ.
- Các thông tin về giá cả từ cơ quan cấp GCN QSH tài sản, trên phương tiện
thông tin đại chúng; trung tâm giao dịch, mua bán TS; doanh nghiệp thẩm
định giá; trung tâm địa ốc; SGD chứng khoán
NH phải định giá TSBĐ chi tiết theo loại và tính chất của tài sản. Việc
định giá, định giá lại TSBĐ phải lập thành biên bản và là một bộ phận không
thể tách rời của Hợp đồng bảo đảm.TSBĐ phải được thẩm định giá trị tại thời
điểm ký kết HĐBĐ và thời điểm định giá lại theo quy định của NH. Việc thẩm
định giá trị tài sản tại các thời điểm này chỉ để làm căn cứ thẩm định mức cấp
tín dụng của NH, không áp dụng khi xử lý tài sản đề thu hồi nợ.
1.10. Đăng ký giao dịch bảo đảm:
- Những trường hợp bắt buộc phải thực hiện thủ tục đăng ký giao dịch
bảo đảm:
+ Thế chấp quyền sử dụng đất.
+ Thế chấp quyền sử dụng rừng, quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng
trồng.
+ Thế chấp tàu bay, tàu biển.
+ Thế chấp một tài sản bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ.

tại các NHTM và giải pháp khắc phục GVHD: PGS-TS. Trầm Thị Xuân Hương
- Bên xử lý TSBĐ là NH nhận bảo đảm hoặc bên được NH ủy quyền xử lý
TSBĐ.
- TSBĐ được xử lý theo thỏa thuận giữa NH và các bên cùng nhận bảo đảm
với bên có TSBĐ tại Hợp đồng bảo đảm (HĐBĐ) hoặc các văn bản thỏa thuận
khác (trừ TSBĐ mà pháp luật quy định phải được bán tại các tổ chức bán đấu
giá chuyên trách).
- Trường hợp một tài sản bảo đảm cho nhiều nghĩa vụ trả nợ, nếu phải xử lý
TSBĐ để thực hiện một nghĩa vụ trả nợ đến hạn, thì các nghĩa vụ trả nợ khác
tuy chưa đến hạn cũng coi là đến hạn và NH được xử lý để thu hồi nợ.
- Trường hợp NH nhận nhiều tài sản thế chấp, cầm cố bào đảm cho một hoặc
nhiều nghĩa vụ trả nợ thì việc lựa chọn tài sản cụ thể để xử lý phải theo thỏa
thuận tại HĐBĐ hoặc các văn bản thỏa thuận khác. Nếu không có thỏa thuận
thì NH có quyền lựa chọn TSBĐ để xử lý hoặc xử lý tất cả các tài sản.
- Các bên có thể thỏa thuận sửa đổi, bổ sung hoặc thỏa thuận mới về việc xử
lý TSBĐ. Việc thỏa thuận này phải lập thành văn bản và không trái vớ quy
định của pháp luật.
- Quá trình xử lý TSBĐ để thu hồi nợ phải tuân thủ các quy định của NH và
các văn bản quy phạm pháp luật được Nhà nước ban hành có liên quan đến
việc xử lý TSBĐ.
1.11.3. Các phương thức xử lý TSBĐ theo thỏa thuận:
a/ Bán TSBĐ:
- Là việc NH hoặc bên có TSBĐ hoặc các bên phối hợp để bán tài sản trực
tiếp cho người mua hoặc ủy quyền cho bên thứ 3 bán.
- Bên thứ 3 được ủy quyền bán tài sản có thể là Trung tâm bán đấu giá tài sản
hoặc tổ chức có chức năng bán đấu giá tài sản theo quy định của pháp luật.
b/ NH nhận chính TSBĐ để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ của khách
hàng:
Nhóm 6 – Ngân hàng Ngày 2 K21 Trang 19
Các vướng mắc về tài sản bảo đảm

BĐS thuộc diện quy hoạch, tài sản đang tranh chấp, kê biên, … dẫn đến tài
sản mất khả năng thanh khoản.
- Người thế chấp tài sản không đủ năng lực pháp lý.
2.2. Vướng mắc trong định giá tài sản đảm bảo:
2.2.1. Đối với tài sản là bất động sản:
- Chưa hình thành chuẩn mực định giá giữa các ngân hàng. Việc định
giá gặp nhiều khó khăn bởi các qui định từ Ngân hàng cấp trên chưa thống
nhất, chưa cụ thể, còn có những điểm chồng chéo, khó hiểu làm cho cấp dưới
khó thực hiện.
Ví dụ, quy định về phương pháp xác định giá trị TSBĐ là quyền sử
dụng đất ở hiện nay của Ngân hàng Công thương Việt Nam. Ngân hàng cho
các chi nhánh ngân hàng trong hệ thống của mình được cùng với khách hàng
thoả thuận theo giá đất thực tế chuyển nhượng ở địa phương đó tại thời điểm
định giá thế chấp / định giá lại với mức:
Thứ nhất, mức tối đa bằng với mức giá đất thực tế chuyển nhượng trên
thị trường nếu thấp hơn hoặc bằng với giá ghi trong khung giá đất của UBND
tỉnh, thành phố nơi có đất.
Thứ hai, mức tối đa không quá 70% giá thực tế chuyển nhượng trên thị
trường nếu cao hơn giá ghi trong khung giá đất của UBND tỉnh, thành phố nơi
có đất.
Tuy nhiên, nếu áp dụng cách thứ nhất thì không thể cho vay được vì giá
trị quyền sử dụng đất mà UBND các địa phương đưa ra chỉ để áp dụng tính
Nhóm 6 – Ngân hàng Ngày 2 K21 Trang 21
Các vướng mắc về tài sản bảo đảm
tại các NHTM và giải pháp khắc phục GVHD: PGS-TS. Trầm Thị Xuân Hương
thuế chứ không quy định bán, chuyển nhượng trên thị trường. Còn áp dụng
cách thứ hai, mặc dù có thoáng hơn cách thứ nhất nhưng cũng rất khó thực
hiện do ột số tỉnh hiện nay chưa ban hành khung giá đất, các ngân hàng không
thể có khung giá thị trường để áp dụng tính đúng 70% theo qui định được.
Còn nếu thuê cơ quan chuyên môn thì do co những qui định ràng buộc bởi

2.2.2. Đối với tài sản là động sản:
Việc nhận tài sản bảo đảm tiền vay là máy móc, thiết bị và dây chuyền
sản xuất đang gặp không ít khó khăn, vướng mắc về thủ tục và khả năng thẩm
định. Cụ thể:
+ Máy móc thiết bị và dây huyền sản xuất của bên cầm cố, thế chấp
thường là đã qua sử dụng nên việc đánh giá, định giá những tài sản này khi
nhận cầm cố, thế chấp là khó khăn, đòi hỏi các TCTD phải kiểm tra, đánh giá
được tình trạng của tài sản đảm bảo, đồng thời phải có khả năng giám sát việc
sử dụng tài sản đảm bảo của khách hàng; phải có đội ngũ cán bộ có khả năng
chuyên môn về thẩm định giá, hoặc đôi khi phải thuê tổ chức tư vấn, tổ chức
chuyên môn xác định
Ngoài ra những máy móc thiết bị, dây chuyền sản xuất đều mang những
bí quyết công nghệ riêng, thường bị lỗi thời, lạc hậu và nhanh chóng bị mất
giá trị, bởi sự phát triển của khoa học kỹ thuật, hơn nữa do quá trình cạnh
tranh nên máy móc, thiết bị dây chuyền sản xuất phải thường xuyên được
khách hàng nâng cấp, đổi mới liên tục để phù hợp với sự phát triển và hội
nhập kinh tế quốc tế.
+ Khi đã nhận cầm cố và đặc biệt phải bán thanh lý khi người vay
không trả được nợ là rất phức tạp và số tiền bán tài sản thường không thu hồi
đủ gốc, lãi vay, do ít người có nhu cầu mua lại máy móc, thiết bị, dây chuyền
Nhóm 6 – Ngân hàng Ngày 2 K21 Trang 23
Các vướng mắc về tài sản bảo đảm
tại các NHTM và giải pháp khắc phục GVHD: PGS-TS. Trầm Thị Xuân Hương
sản xuất đã qua sử dụng, thời gian bán tài sản kéo dài làm cho tài sản hư hỏng,
xuống
cấp, mất giá trị…
2.2.3. Đối với tài sản là tài sản hình thành trong tương lai:
- Tại thời điểm giao kết hợp đồng bảo đảm, nếu trị giá quyền tài sản
được xác định trên toàn bộ căn hộ sẽ hình thành, trong khi bên thế chấp chưa
trả hết tiền thì có nghĩa là giá trị quyền tài sản của bên thế chấp được tính cả

vẫn còn là đề tài tranh cãi trong quá trình thực hiện nghiệp vụ công chứng. Để tạo
điều kiện nhanh chóng và thuận lợi thì đa số các công chứng viên – phòng công
chứng vẫn sử dụng “sổ hộ khẩu” để xác định số thành viên của hộ. Nhưng nếu, có
người chứng minh được họ không có tên trong “sổ hộ khẩu” nhưng là thành viên
của hộ theo quy định của Điều 106 BLDS 2005 mà không “được ký hợp đồng thế
chấp” thì việc hợp đồng thế chấp bị vô hiệu, rủi ro cho ngân hàng là hoàn toàn có
thể xảy ra.
- Hợp đồng thế chấp không được ký trước mặt công chứng viên tại phòng công
chứng: nhiều trường hợp Cán bộ tín dụng đã đưa hợp đồng thế chấp QSDĐ và tài
sản gắn liền với đất cho khách hàng để họ mang về nhà cho các chủ thể khác (vợ,
chồng, con…) ký vào hợp đồng. Có cả trường hợp nhân viên phòng công chứng
mang hợp đồng này đưa cho bên thế chấp về nhà ký rồi mang đến cơ quan công
chứng để chứng nhận. Theo quy định tại Điều 41 Luật Công chứng thì bên thế chấp
tài sản và bên nhận thế chấp đều phải ký vào hợp đồng thế chấp trước mặt công
chứng viên trừ trường hợp người có thẩm quyền giao kết hợp đồng của TCTD, DN
khác đã đăng ký chữ ký mẫu tại tổ chức hành nghề công chứng thì người đó có thể
ký trước vào hợp đồng. Việc để bên thế chấp mang hợp đồng thế chấp về nhà,
không ký tại cơ quan công chứng và trước mặt công chứng viên có thể gây hậu quả
khôn lường. Ví dụ QSDĐ là tài sản chung của vợ chồng nhưng một bên thế chấp là
vợ chồng đã giả chữ ký của vợ hoặc của chồng trong hợp đồng thế chấp. Khi thu hồi
nợ, TCTD đối mặt với rủi ro không xử lý được tài sản bảo đảm do tòa án xác định
Nhóm 6 – Ngân hàng Ngày 2 K21 Trang 25

Trích đoạn Các giải pháp trong xử lý TSBĐ: Kiến nghị với Chính phủ: Kiến nghị với Ngân hàng Nhà nước:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status