Tiểu luận Chính sách kích cầu chống suy thoái ở Việt Nam và thế giới - Pdf 95

Tiểu luận: Chính sách kích cầu chống suy thoái ở Việt Nam và thế giới

Nhóm 1 – Ngày 3 – K21 Trang 1

Tiểu luận Chính sách kích cầu chống suy thoái ở
Việt Nam và thế giới Tiểu luận: Chính sách kích cầu chống suy thoái ở Việt Nam và thế giới

Nhóm 1 – Ngày 3 – K21 Trang 2

MỤC LỤC

KẾT LUẬN 30
TÀI LIỆU THAM KHẢO 31 Tiểu luận: Chính sách kích cầu chống suy thoái ở Việt Nam và thế giới

Nhóm 1 – Ngày 3 – K21 Trang 4 LỜI MỞ ĐẦU

Khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu những năm 2007-2010 đã ảnh hưởng
tới hầu hết mọi nền kinh tế trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Vậy suy thoái kinh tế là gì?
Nguyên nhân và tác động của hiện tượng này như thế nào? Tại sao thế giới và cả Việt Nam đều
sử dụng chính sách kích cầu để đối phó với hiện tượng suy thoái kinh tế?

 Các cú sốc ngoại sinh như: giá dầu, thời tiết, hay chiến tranh có thể tự chúng
gây ra suy thoái kinh tế nhất thời, hoặc ngược lại, tăng trưởng kinh tế ngắn hạn.
1.1.3 Các kiểu suy thoái kinh tế
Phân loại theo hình dáng của đồ thị tăng trưởng theo quý, có các kiểu suy thoái sau:
Suy thoái hình chữ V (kiểu suy thoái thường thấy):có pha suy thoái ngắn, tốc độ suy
thoái lớn; đồng thời, pha phục phồi cũng ngắn và tốc độ phục hồi nhanh; điểm đồi chiều
giữa hai pha này rõ ràng.
Tiểu luận: Chính sách kích cầu chống suy thoái ở Việt Nam và thế giới

Nhóm 1 – Ngày 3 – K21 Trang 6

Suy thoái hình chữ U (kiểu suy thoái mà pha phục hồi xuất hiện rất chậm): nền kinh tế
sau một thời kỳ suy thoái mạnh tiến sang thời kỳ vất vả để thoát khỏi suy thoái. Trong
thời kỳ thoát khỏi suy thoái, các quý tăng trưởng dương và âm xen kẽ nhau.
Suy thoái hình chữ W (kiểu suy thoái liên tiếp). Nền kinh tế vừa thoát khỏi suy thoái
được một thời gian ngắn lại tiếp tục rơi ngay vào suy thoái.
Suy thoái hình chữ L (suy thoái không lối thoát hay khủng hoảng kinh tế). Nền kinh tế
rơi vào suy thoái nghiêm trọng rồi suốt một thời gian dài không thoát khỏi suy thoái.
1.1.4 Những tác động của suy thoái kinh tế
 Thất nghiệp tăng
GDP thực tế giảm thì tỷ lệ thất nghiệp tăng vì khi các doanh nghiệp sản xuất ít hàng
hoá và dịch vụ hơn, họ sa thải bớt công nhân và số người thất nghiệp tăng. Trong mỗi
đợt suy thoái, tỷ lệ thất nghiệp tăng lên rất cao. Khi suy thoái kết thúc và sản lượng bắt
đầu tăng, tỷ lệ thất nghiệp giảm dần biến động xung quanh tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên
bằng khoảng 5 phần trăm.
 Biến động kinh tế bất thường và không thể dự báo
Biến động của nền kinh tế thường được gọi là “chu kỳ kinh doanh”, gắn liền với
những thay đổi trong điều kiện kinh doanh. Tuy nhiên, thuật ngữ “chu kỳ kinh doanh”
có thể dẫn tới hiểu lầm, vì nó có vẻ hàm ý biến động kinh tế diễn ra theo quy luật, có
thể dự báo được. Trên thực tế, chu kỳ kinh doanh không hề có tính chất định kỳ và

thể làm cho nền kinh tế trở nên nóng, tăng lạm phát. Nếu thực hiện quá chậm, khi nền
kinh tế đã bắt đầu tự phục hồi, kích cầu lúc đó lại có thể có tác dụng xấu do có khả năng
làm hun nóng nền kinh tế dẫn đến lạm phát và những mất cân đối vĩ mô lớn.
 Kích cầu phải đúng đối tượng (targeted)
Nghĩa là gói kích cầu nhằm vào các cá nhân, hộ gia đình, doanh nghiệp và chính
quyền sẽ sử dụng những đồng tiền này, và qua đó đưa thêm tiền vào nền kinh tế. Tiền
kích cầu phải được sử dụng để khuyến khích các nhóm đối tượng này tiến hành các khoản
chi tiêu mới, hoặc hạn chế việc các nhóm này cắt giảm chi tiêu.
Khi nền kinh tế khủng hoảng thì nhóm người có thu nhập thấp chịu nhiều bất lợi nhất.
Nhóm người này lại thường có mức tiêu dùng biên cao và chi tiêu chủ yếu vào hàng nội. Do
Tiểu luận: Chính sách kích cầu chống suy thoái ở Việt Nam và thế giới

Nhóm 1 – Ngày 3 – K21 Trang 8

vậy nếu kích cầu vào đúng nhóm đối tượng này thì đạt được đồng thời cả hai mục tiêu là hiệu
quả và công bằng.
 Kích cầu chỉ được thực hiện trong ngắn hạn (temporary)
Nghĩa là các biện pháp kích cầu chỉ có tính tạm thời và sẽ chấm dứt khi nền kinh tế
đã vượt qua suy thoái. Nguyên tắc ngắn hạn cần chú ý sau:
Thứ nhất, tính ngắn hạn làm tăng hiệu quả của gói kích cầu do sẽ khuyến khích doanh
nghiệp đẩy nhanh tốc độ đầu tư để tận dụng ưu đãi. Những chính sách mà vẫn còn hiệu lực
sau khi nền kinh tế phục hồi là những chính sách kém hiệu quả vì sẽ trở thành chi phí của
Chính phủ hoặc khoản thất thu khi thời gian kích thích đã kết thúc. Nếu là những biện
pháp dài hạn thì sẽ không kích thích được cầu do các doanh nghiệp sẽ thấy không cần thiết
phải đẩy nhanh tốc độ đầu tư trong giai đoạn nền kinh tế cần được kích thích nhất.
Thứ hai, kích cầu vừa đủ để đảm bảo nền kinh tế có thể vượt qua suy thoái nhưng
không làm ảnh hưởng lớn tới ngân sách trong dài hạn và làm tăng tính bất ổn của nền
kinh tế. Nếu gói kích cầu quá bé thì kích thích sẽ bị hụt hơi và tổng cầu có thể không bị
kích thích nữa, gây lãng phí. Nếu gói kích cầu quá lớn tạo ra tác động kéo dài khiến cho
nền kinh tế đã hồi phục mà vẫn tiếp tục được kích thích thì sẽ dẫn tới kinh tế mở rộng quá

đầu tư, chi tiêu chính phủ và xuất khẩu ròng: AD = C + I + G + NX
Trong đó: C - chi tiêu tiêu dùng của hộ gia đình, khu vực tư nhân mua sắm hàng hóa và
dịch vụ, I - đầu tư của các doanh nghiệp vào xây dựng vào cơ sở hạ tầng, nhà máy……,
G - chi tiêu chính phủ gồm mua sắm hàng hóa và dịch vụ, NX - xuất khẩu ròng, phần
chênh lệch giữa xuất khẩu EX và nhập khẩu MX
Chính sách kích cầu là chính sách làm tăng một hoặc cả bốn cấu phần của tổng cầu để
làm tổng cầu tăng lên. Đó là sự kết hợp rất linh hoạt của hầu hết các chính sách kinh tế vĩ
mô như chính sách tài khóa, tiền tệ, chính sách lương tiền, chính sách ngoại thương, tỷ giá
hối đoái.
 Các chính sách kích cầu:
 Kích cầu tiêu dùng: tiêu dùng sẽ tăng khi:
Tiểu luận: Chính sách kích cầu chống suy thoái ở Việt Nam và thế giới

Nhóm 1 – Ngày 3 – K21 Trang 10

Thu nhập khả dụng tăng: chính phủ thực hiện chính sách tăng lương tối thiểu; giảm
thuế thu nhập. Chính sách tăng mức lương tối thiểu mặc dù có tác động làm tăng tiêu
dùng song trong thời kỳ suy thoái là khó thực hiện bởi lẽ trong thời kỳ này tỷ lệ thất
nghiệp đã cao nên nếu tiếp tục tăng mức lương tối thiểu thì trên thị trường lao động, thất
nghiệp còn bị đẩy cao hơn nữa.
Tăng kỳ vọng lạc quan vào tương lai, tăng khả năng vay nợ cho tiêu dùng
 Kích cầu chi tiêu của Chính phủ
Về mặt lý thuyết, kích cầu chi tiêu của chính phủ thông qua chính sách tài khóa là gia
tăng chi tiêu mua sắm của chính phủ hay mua sắm phần chênh lệch lượng hàng hóa mà
doanh nghiệp sản xuất và lượng hàng hóa được người dân tiêu dùng, giúp giữ niềm tin
của doanh nghiệp, giữ nền kinh tế được bình ổn, giữ tổng cầu không sụt giảm. Về thực
tiễn, không phải tất cả doanh nghiệp đều có lợi từ chính sách này do việc lựa chọn hàng
hóa và dịch vụ trong chi tiêu mua sắm của chính phủ sẽ quyết định điều này.
 Kích cầu đầu tư:
Đầu tư có thể được thực hiện trong ba khu vực: đầu tư công, đầu tư tư nhân và đầu tư

nên lỗi thời, thậm chí không khả thi. Có thể dùng biện pháp: tuyên truyền nâng cao ý thức
tự tôn, ưa chuộng hàng nội của người dân. Tuy nhiên để biện pháp này thành công thì
hàng nội phải có tính cạnh tranh cả về giá cả và chất lượng so với hàng ngoại nhập. Tiểu luận: Chính sách kích cầu chống suy thoái ở Việt Nam và thế giới

Nhóm 1 – Ngày 3 – K21 Trang 12

CHƯƠNG 2: CHÍNH SÁCH KÍCH CẦU CHỐNG SUY THOÁI KINH TẾ
TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM
2.1. Chính sách kích cầu trên thế giới
2.1.1. Chính sách kích cầu tại Mỹ
2.1.1.1. Tình hình kinh tế xã hội
Hoa Kỳ được coi là trung tâm của các cuộc khủng hoảng.
Năm 2007: tháng 8/2007, một số tổ chức tín dụng của Mỹ phá sản, cổ phiếu mất giá
mạnh. Tháng 12/2007, khủng hoảng trở nên trầm trọng hơn, tín dụng khan hiếm hơn làm
các khu vực kinh tế rơi vào tình trạng khó khăn, điển hình là ngành chế tạo ô tô: hãng GM
gần như tuyên bố phá sản. Chỉ trong 6 tuần, chỉ số bình quân công nghiệp Dow Jones sụt
tới 20%, chỉ còn 6.547,05 vào lúc đóng cửa 09/03/2009, thấp nhất kể từ tháng 4/1997.
Năm 2008: tháng 3/2008, Bear Stern sụp đổ đẩy khủng hoảng trầm trọng hơn. Tháng 8/

dần nền kinh tế.
 Các hạn chế của chính sách kích cầu
- Nợ và thâm hụt ngân sách cao: năm 2008, tổng số nợ là 11.500 tỉ USD. Năm 2009:
thâm hụt ngân sách lên đến 1.840 tỉ USD
 Gây khó khăn trong việc vay thêm tiền nước ngoài. Đảng Cộng hòa đề xuất giảm thuế
sẽ khiến ngân sách thêm thâm hụt, hậu quả là các bang sẽ cắt giảm phúc lợi xã hội và các
dịch vụ công ích dành cho người nghèo.
2.1.2. Chính sách kích cầu tại Châu Âu
2.1.2.1. Tình hình kinh tế xã hội
 Suy thoái kinh tế năm 2008:
- Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân của các nước Trung và Đông Âu năm 2008
chỉ còn 3,2% so với mức 5,4% năm 2007. Năm 2008 khu vực này tăng trưởng âm
ít nhất 0,4%.
Đồng tiền của nhiều quốc gia ở đây vì thế đã sụt giảm mạnh tỷ giá so với Euro,
khiến lượng nợ Euro mà các nước này đang mang càng thêm khổng lồ. Chẳng hạn,
đồng Zloty của Ba Lan đã mất giá 48% so với đồng Euro từ mức đỉnh ở mùa hè
năm ngoái.
Tiểu luận: Chính sách kích cầu chống suy thoái ở Việt Nam và thế giới

Nhóm 1 – Ngày 3 – K21 Trang 14

- Đức : nền kinh tế lớn nhất châu Âu này đã chính thức công bố Tổng sản phẩm
quốc nội (GDP) của nước này giảm 0,5% trong quý III/2008.Trước đó, trong quý
II/2008 GDP nước này cũng giảm 0,4% và là dấu hiệu đầu tiên cho thấy nền kinh
tế nước này sẽ bước vào suy thoái.Như vậy, đây là lần đầu tiên trong vòng 5 năm
qua, nền kinh tế đầu tàu của lục địa già rơi vào tình trạng này. Và là đợt suy thoái
nặng nhất trong vòng 12 năm qua.
- Uỷ ban châu Âu ngày 3/11 vừa qua đã thừa nhận nền kinh tế 15 nước sử dụng
đồng euro có thể đã bước vào một đợt suy thoái.
- Ngành ngân hàng châu Âu đang đối diện với những diễn biến xấu đi. Tập đoàn

Các nước châu Âu đã khởi sắc trở lại phần lớn là nhờ chính sách nới lỏng tiền tệ, giữ
lãi suất siêu thấp, đi đôi với các gói kích thích kinh tế
Đức: Thủ tướng Đức Angela Merkel vừa chấp thuận chi khoảng 85 tỷ EUR (tương
đương 121 tỷ USD) để kích thích tăng trưởng, trước thời điểm cuộc tổng tuyển cử
quốc gia diễn ra . Trong đó, 2,500 EUR được dùng để hỗ trợ cho chương trình đổi xe
cũ lấy xe mới và cung cấp cho các doanh nghiệp bảo toàn lực lượng lao động khi nhu
cầu hàng hóa vẫn còn trì trệ.
Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) đã đồng ý cho vay khẩn cấp tổng số tiền 50 tỷ USD cho
các quốc gia gồm Iceland, Hungary, Latvia, Ukraine, Serbia và Belarus.
Ngân hàng Trung ương Anh (BOE) triển khai kích cầu qua việc mua trái phiếu chính
phủ, giải phóng tiền mặt nhằm tăng cường cho vay, và bơm thêm 50 tỷ bảng, nâng
tổng giá trị của gói kích cầu lên 325 tỷ bảng.
2.1.2.3. Đánh giá
 Thành tựu đạt được của chính sách kích cầu
- Đưa châu Âu thoát khỏi khủng hoảng kinh tế trong giai đoạn suy thoái
- Giúp kinh tế một loạt nước thuộc EU đã tăng trưởng trở lại sau 15 tháng giảm
liên tục: tốc độ tăng trưởng kinh tế trung bình ở 27 nước thành viên EU đã đạt
0,2%. Trong khi đó, tốc độ tăng trưởng kinh tế trung bình ở 16 nước sử dụng
đồng tiền chung euro là 0,4%. Trong đó, đầu tàu Đức tăng trưởng 0,7%, trụ cột
Pháp tăng 0,3%.
 Các hạn chế của chính sách kích cầu
- Chỉ một số nước trong liên minh châu Âu kích cầu hiệu quả, còn các nước
khác không có động thái kích cầu rõ ràng, họ chờ đợi sự trợ giúp từ bên ngoài.
- Chính sách kích cầu chưa thực sự vực dậy các nước EU một cách vững vàng
đã tạo tiền đề cho nguy cơ suy thoái sắp tới.
Tiểu luận: Chính sách kích cầu chống suy thoái ở Việt Nam và thế giới

Nhóm 1 – Ngày 3 – K21 Trang 16

2.1.3. Chính sách kích cầu tại Nhật Bản


Chiến tranh Thế giới thứ hai. Trước khi động thái can thiệp diễn ra, tỷ giá đồng Yên đã
lên tới mức cao là 75,35 Yên/USD. Tháng 12/2011, sau gần một năm nỗ lực không ngừng
để khôi phục và tái thiết đất nước, nhiều chỉ số kinh tế có biến chuyển tích cực: sản lượng
công nghiệp tháng 12 tăng 3,8%.
Năm 2012: sản lượng công nghiệp tháng Giêng tăng đến 2% trong khi đó dự tính tháng
2 và tháng 3 này đạt khoảng 1,7%. Đơn đặt hàng của Nhật Bản tăng lên cho thấy những
tín hiệu vui về triển vọng tăng trưởng của nền kinh tế lớn thứ 3 thế giới này.
2.1.3.3. Đánh giá
 Thành tựu đạt được của chính sách kích cầu
- Chính sách kích cầu của Chính phủ phần nào phát huy tác dụng. Các chính sách kích
thích này chủ yếu tập trung hỗ trợ 2 đối tượng: doanh nghiệp và người dân.
- Hỗ trợ tín dụng cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ: khuyến khích họ sử dụng lao động.
- Miễn thuế cho người lao động, người mua nhà gặp khó khăn, giúp ích cho hoạt động
sản xuất kinh doanh tại các công ty.
- Trợ cấp trực tiếp cho các hộ gia đình khó khăn; giảm thuế đường xá.
- Bơm tiền vào thị truờng tài chính.
 Các hạn chế của chính sách kích cầu
- Chính sách tài chính không được thiết kế với mục tiêu tối đa hóa tác động vĩ mô của
nó do chi tiêu công của Chính phủ đã hướng hết vào các công trình công cộng và
giảm thuế chung chung. Đáng lẽ, các gói kích cầu phải chủ yếu dành cho chi tiêu vào
mạng lưới an sinh xã hội và giảm thuế tiêu dùng.
- Phần chi tiêu công cộng do các chính quyền địa phương triển khai không đủ mức đề
ra do các chính quyền này đã dùng một phần gói kích cầu để bù đắp thâm hụt ngân
sách địa phương. Các công trình công cộng địa phương đã không có tác dụng nâng
cao năng suất của vốn đầu tư tư nhân.
- Giá trị các gói kích cầu nhỏ, không đủ vực dậy nền kinh tế
2.1.4. Chính sách kích cầu tại các nước đang phát triển (điển hình tại ASEAN)
Tiểu luận: Chính sách kích cầu chống suy thoái ở Việt Nam và thế giới


chuyển tiền cho doanh nghiệp, ngân hàng… Các nước đang phát triển không thể áp
Tiểu luận: Chính sách kích cầu chống suy thoái ở Việt Nam và thế giới

Nhóm 1 – Ngày 3 – K21 Trang 19

dụng thức này do tiềm lực còn hạn chế. Vì vậy, phải dùng hình thức khác như bù
lãi suất, cho vay không lãi, hỗ trợ mua bảo hiểm y tế…
Thái Lan: Giai đoạn một, kế hoạch cứu trợ 3,35 tỉ USD nhằm vào: phát tiền mặt cho
người nghèo; giảm thuế cá nhân; tăng số học sinh được miễn học phí; trợ giá tiền điện,
nước và vé tàu xe đi lại cho dân. Giai đoạn hai, bắt đầu từ tháng 03/2009, Chính phủ
khuyến khích bằng cách trợ cấp 2000 Baht/tháng cho viên chức nhà nước có thu nhập
dưới 15.000 baht/tháng (khoảng 7,5 triệu đồng). Khoảng 9 triệu người nhận được khoản
trợ cấp kích cầu tiêu dùng này, nhờ đó người dân không hốt hoảng, bảo đảm tiêu dùng nội
địa, giảm thiểu tác động của suy giảm kinh tế.
Singapore đưa ra gói kích cầu trị giá 13,8 tỉ USD: hỗ trợ tiền mặt cho chủ sử dụng lao
động giúp họ trang trải một phần chi phí lương và tránh sa thải lao động, giảm 20% thuế
thu nhập cá nhân, trợ cấp thêm 300 - 500 SGD/người/tháng cho lao động khó khăn …
Indonesia đưa ra gói kích cầu trị giá 73.300 tỉ rupiah vào tháng 02/2009, trong đó dành 90
nghìn tỉ rupiah (7,5 tỉ USD) cho Bộ, ngành; dành 300 nghìn tỉ rupiah đẩy mạnh tiêu dùng
hàng nội địa; các cơ quan nhà nước bắt buộc phải tiêu dùng hàng nội địa như quần áo,
giày dép đồng phục. Không như các quốc gia ASEAN khác, hầu hết các doanh nghiệp
Indonesia đều phải trợ giúp khoản đóng thuế thu nhập của nhân công, và đây được coi là
gánh nặng của các doanh nghiệp. Vì vậy, Chính phủ trợ cấp 6.500 tỉ rupiah đền bù thuế
thu nhập người lao động mà các doanh nghiệp thường trả thay. Nhờ đó giúp doanh nghiệp
tiết kiệm chi phí, đẩy mạnh chi tiêu kích thích tiêu dùng nội địa.
 Kích cầu đầu tư: tạo động lực tăng trưởng kinh tế và bảo đảm an sinh xã hội trong
bối cảnh suy giảm động lực phát triển từ bên ngoài.
Thái Lan: vay 2 tỉ USD từ các quỹ tổ chức tín dụng quốc tế. Nhờ các khoản kích thích tài
chính lớn và tình trạng tài chính của khu vực tư nhân tốt nên tiêu dùng nội địa tăng 4% -
5% (năm 2009) và đạt 7% (năm 2010).

hệ thống tài chính bằng việc bảo đảm tiền gửi; tăng thực hiện các dự án công (4,7 tỉ đôla
Singapore); đối với tài khóa: ưu tiên cho việc làm bằng hỗ trợ tài chính cho doanh nghiệp
như giảm tiền thuê nhà, giảm thuế. Gói kích cầu của Singapore tập trung đầu tư vào 4 vấn
đề: giáo dục - đào tạo, việc làm, hỗ trợ tài chính và giúp đỡ người khó khăn.
2.1.4.3. Đánh giá
 Thành tựu đạt được của chính sách kích cầu
Tiểu luận: Chính sách kích cầu chống suy thoái ở Việt Nam và thế giới

Nhóm 1 – Ngày 3 – K21 Trang 21

Tính hiệu quả và kịp thời của các gói kích cầu tạo ra sự phục hồi mạnh mẽ, giúp các
nước ASEAN vượt qua cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu tốt hơn mong đợi. Năm
2010, tăng trưởng GDP các nước ASEAN là 6,0% (Indonesia); 6,8% (Việt Nam); 7,2%
(Malayxia); 7,3% (Philippin) và 7,8% (Thái Lan).
Các gói kích cầu như chiếc phao cứu sinh làm tăng lòng tin của doanh nghiệp, ngân
hàng, nhà đầu tư trong và ngoài nước vào trách nhiệm Chính phủ trong hỗ trợ các tổ chức
gặp khó khăn, tăng niềm tin vào triển vọng thị trường và môi trường đầu tư trong nước.
Gói kích cầu trực tiếp hỗ trợ giúp các doanh nghiệp tiếp cận các nguồn vốn ngân hàng
với chi phí rẻ hơn, giảm bớt chi phí kinh doanh, từ đó giảm giá sản phẩm, tăng cạnh tranh
và tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ trên thị trường. Nhiều doanh nghiệp có thêm cơ hội giữ
vững và mở rộng sản xuất, góp phần giảm áp lực thất nghiệp và bảo đảm ổn định xã hội.
Bên cạnh đó, gói kích cầu còn trực tiếp góp phần gia tăng các hoạt động đầu tư phát triển
kết cấu hạ tầng kinh tế và xã hội, duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế, tạo nền tảng và động
lực của sự phát triển xã hội cả hiện tại và tương lai.
Những cải tiến trong chính sách vĩ mô, chặt chẽ hơn trong giám sát hệ thống ngân
hàng, điều hành doanh nghiệp tốt và quản lý rủi ro hiệu quả hơn trong khu vực tư nhân …
giúp các nước Asean chống đỡ được phần lớn tác động của khủng hoảng toàn cầu.
 Các hạn chế của chính sách kích cầu
Chưa tập trung kích cầu đầu tư vào trọng điểm, vào các dự án có dung lượng và triển
vọng thị trường tiêu thụ tốt, các dự án góp phần duy trì và mở rộng năng lực sản xuất,

năm 2009 chỉ thu được $2,1 tỷ FDI, giảm 70% so với năm 2007.
2.2.2. Chính sách kích cầu tại Việt Nam
Ngày 12/5/2009, Bộ Kế hoạch và Đầu tư công bố chính thức về gói kích cầu có giá
trị 143.000 tỷ đồng (tương đương 8 tỷ USD) của Chính phủ, sau đó tăng lên 160 nghìn tỷ
đồng (tương đương 9 tỷ USD). Theo đó, gói kích cầu tương đương 8 tỷ USD được chia
thành 8 phần có các giá trị khác nhau. Cụ thể các phần của gói kích cầu này bao gồm:
- Hỗ trợ lãi suất vay vốn tín dụng khoảng 17.000 tỷ đồng.
- Tạm dừng thu hồi vốn đầu tư xây dựng cơ bản ứng trước khoảng 3.400 tỷ đồng.
- Ứng trước ngân sách nhà nước thực hiện dự án cấp bách khoảng 37.200 tỷ đồng.
- Chuyển vốn đầu tư kế hoạch năm 2008 sang năm 2009 khoảng 30.200 tỷ đồng.
Tiểu luận: Chính sách kích cầu chống suy thoái ở Việt Nam và thế giới

Nhóm 1 – Ngày 3 – K21 Trang 23

- Phát hành thêm trái phiếu Chính phủ khoảng 20.000 tỷ đồng.
- Thực hiện chính sách giảm thuế khoảng 28.000 tỷ đồng.
- Tăng thêm dư nợ bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp khoảng 17.000 tỷ đồng.
- Các khoản chi kích cầu khác nhằm ngăn chặn suy giảm kinh tế, đảm bảo an sinh xã
hội khoảng 7.200 tỷ đồng.
 Về các gói hỗ trợ lãi suất
Tính đến 24/9/2009, vốn tín dụng theo Quyết định 131 ngày 23/1/2009 của Thủ tướng
(gói hỗ trợ lãi suất 4%) đã giải ngân trên 405.000 tỉ đồng (95%), tín dụng theo Quyết định
443 (hỗ trợ lãi suất 4% cho vay trung và dài hạn) và Quyết định 497 (hỗ trợ lãi suất cho
nông nghiệp nông thôn) trên 34.000 tỉ đồng, giải ngân tín dụng bảo lãnh qua Ngân hàng
Phát triển Việt Nam trên 10.000 tỉ đồng (59%). Tổng số tiền hỗ trợ lãi suất chuyển cho
các tổ chức tín dụng ước thực hiện năm 2009 khoảng 10.000 tỉ đồng (59%).
 Về kích cầu đầu tư Chính phủ
Vốn kích cầu đầu tư chính phủ không đạt kế hoạch mong muốn. Theo số liệu báo cáo
tại phiên họp thứ 24 Uỷ ban thường vụ quốc hội, vốn đầu tư trái phiếu Chính phủ ước
thực hiện trong năm 2009 là 45 nghìn tỷ đồng, đạt 80,4% kế hoạch giao; về giải ngân,

Ủy ban Tài chính ngân sách Quốc hội vẫn đánh giá thu ngân sách Nhà nước năm 2009
vẫn vượt khoảng 2,9% so với dự toán.
 Về hỗ trợ đảm bảo an sinh xã hội
Chính phủ chỉ đạo các chính sách giảm nghèo: chính sách hỗ trợ các hộ nghèo, hộ bị
ảnh hưởng thiên tai xây dựng nhà ở ổn định sản xuất và đời sống, hỗ trợ cho vay vốn sản
xuất & kinh doanh; cho vay học sinh, sinh viên, mua thẻ bảo hiểm y tế, thực hiện chương
trình xây dựng nông thôn mới cùng với tổ chức, động viên các doanh nghiệp, cá nhân hỗ
trợ thực hiện chương trình này; ứng trước vốn cho các huyện, triển khai các chính sách mới
như cấp gạo cho hộ nghèo ở biên giới, thực hiện mức khoán mới về bảo vệ rừng, hỗ trợ học
nghề, xuất khẩu lao động và tăng cường cán bộ cho các huyện nghèo, chăm sóc người có
công và các đối tượng chính sách tiếp tục được duy trì và mở rộng.
Năm 2009 tổng số chi cho an sinh xã hội ước đạt 22.470 tỷ đồng, tăng 62% so với năm
2008, trong đó chi điều chỉnh tiền lương, trợ cấp, phụ cấp khoảng 36.700 tỷ đồng; trợ cấp
cứu đói giáp hạt và khắc phục thiên tai 41.580 tấn gạo. Tổng dư nợ của 18 chương trình
Tiểu luận: Chính sách kích cầu chống suy thoái ở Việt Nam và thế giới

Nhóm 1 – Ngày 3 – K21 Trang 25

cho vay hộ nghèo và các đối tượng chính sách do Ngân hàng Chính sách xã hội thực hiện
ước đến cuối năm đạt 76 nghìn tỷ đồng, tăng 45,3% so với năm 2008. Các doanh nghiệp
hỗ trợ 62 huyện nghèo trên 1.600 tỷ đồng.
Kết quả các nỗ lực chung đó đã góp phần cải thiện đời sống nhân dân, đặc biệt là đồng
bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, các đối tượng chính sách, góp phần xóa đói, giảm
nghèo, giải quyết việc làm và giữ vững ổn định chính trị, xã hội, đặc biệt là đối với người
nghèo. Tỷ lệ hộ nghèo cuối năm 2009 giảm còn khoảng 11%. Tuy nhiên, tình hình suy
giảm kinh tế ảnh hưởng đến khả năng giải quyết việc làm cho người lao động. Dự kiến
cuối năm 2009, khoảng 1,51 triệu lượt lao động được giải quyết việc làm, đạt 88,5% kế
hoạch năm. Số lao động đi làm việc ở nước ngoài năm 2009 ước đạt 7 vạn người, giảm
đáng kể so với con số 8,5 vạn người của năm 2008.
2.2.3. Đánh giá


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status