Khảo sát ngữ nghĩa thành ngữ, quán ngữ thời hiện đại, những giá trị biểu trưng - Pdf 96

Khảo sát ngữ nghĩa thành ngữ, quán ngữ thời
hiện đại, những giá trị biểu trưng

Nguyễn Thị Nguyệt Minh

Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn; Khoa Ngôn ngữ học
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học; Mã số: 60 22 01
Người hướng dẫn: GS.TS Lê Quang Thiêm
Năm bảo vệ: 2012

Abstract. Trình bày cơ sở lý luận về thành ngữ, quán ngữ và quan niệm của các nhà
ngôn ngữ học Việt Nam về thành ngữ, quán ngữ. Nghiên cứu toàn cảnh thành ngữ, quán
ngữ thời hiện đại: cấu trúc của thành ngữ, quán ngữ thời hiện đại; thành ngữ có cấu trúc
so sánh; thành ngữ có kết cấu cụm từ; thành ngữ có kết cấu câu. Tìm hiểu ngữ nghĩa thực
tại của thành ngữ, quán ngữ thời hiện đại và giá trị biểu trưng của chúng.

Keywords. Ngữ nghĩa; Thành ngữ; Quán ngữ; Tiếng Việt

Content.

MỞ ĐẦU

1.Lý do chọn đề tài
Thành ngữ, quán ngữ là những ngữ cố định và chúng là một loại đơn vị mà trong
ngôn ngữ học thừa nhận là tương đương với từ trong chức năng biểu đạt và hoạt động
ngôn từ.
Có thể nói thành ngữ, quán ngữ là một bộ phận quan trọng trong hệ thống từ vựng
tiếng Việt. Ngôn ngữ càng phát triển tất yếu sẽ kéo theo sự xuất hiện của các quán ngữ và
đặc biệt là các thành ngữ mới, chúng xuất hiện cùng với sự biến đổi của đời sống xã hội
và phản ánh chân thực nhất những nét mới, sự thay đổi trong đời sống xã hội của người
Việt.

phận này chưa được mấy ai tập hợp hoặc mới chỉ tập hợp được một phần. Bởi vậy chúng
tôi tiến hành khảo sát thu thập ngữ liệu và phân tích những đặc điểm về hình thức, nội
dung của bộ phận thành ngữ, quán ngữ này.
6. Bố cục luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, phần nội dung của
luận văn gồm 3 chương:
Chƣơng 1: Lịch sử vấn đề, cơ sở lý luận
1. Lịch sử nghiên cứu thành ngữ, quán ngữ
2. Quan niệm của các nhà ngôn ngữ học Việt Nam về thành ngữ, quán ngữ
Chƣơng 2: Toàn cảnh thành ngữ, quán ngữ thời hiện đại
1. Một số khuynh hướng phân loại và tiêu chí phân loại của luận văn
2. Cấu trúc của thành ngữ, quán ngữ thời hiện đại
Chƣơng 3: Ngữ nghĩa thực tại của thành ngữ, quán ngữ thời hiện đại và giá trị biểu
trƣng của chúng
1. Quan niệm về nghĩa của từ, nghĩa của thành ngữ, quán ngữ
2. Quan niệm về nghĩa biểu trưng, nghĩa biểu tượng và giá trị biểu trưng, biểu tượng của
thành ngữ, quán ngữ
3. Ngữ nghĩa thành ngữ, quán ngữ thời hiện đại và giá trị biểu trưng của chún

CHƢƠNG 1: LỊCH SỬ VẤN ĐỀ, CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1. Lịch sử nghiên cứu thành ngữ, quán ngữ
Từ lâu thành ngữ đã là vấn đề dành được sự quan tâm đặc biệt của các nhà ngôn
ngữ học. Cho đến nay đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu về thành ngữ ở tất cả các
phương diện hình thái cấu trúc, ngữ nghĩa và văn hóa. Có thể nói nhìn một cách tổng thể,
các tác giả đã có rất nhiều đóng góp quý báu, họ đã có công lớn trong việc khai phá
những vấn đề có liên quan đến thành ngữ và có nhiều phát hiện bất ngờ thú vị.
Về phía quán ngữ, có thể thấy trong hàng chục đầu sách nghiên cứu về từ vựng
hiện đại chỉ có độ vài ba tác phẩm viết vài dòng về quán ngữ mà thôi. Nổi bật có các tác
giả như Nguyễn Văn Tu, Nguyễn Thiện Giáp, Đỗ Hữu Châu.

vấn đề thành ngữ, quán ngữ thời hiện đại cũng như giá trị biểu trưng của chúng vẫn chưa
dành được sự quan tâm nhiệt tình của các nhà ngôn ngữ học Việt Nam. Do vậy đi sâu
vào vấn đề này sẽ giúp cho chúng tôi có thể cung cấp cho người đọc một vốn ngữ liệu
liên quan đến thành ngữ, quán ngữ mới cũng như hiểu được những biến chuyển trong đời
sống văn hóa, xã hội của nhân dân trong thế kỷ 20 và đầu thế kỷ 21 bởi đây là thời kỳ
biến động trong lịch sử nước nhà. Đồng thời đưa ra một số lời giải thích mang tính chất
gợi mở về vấn đề này.
Chúng tôi cũng quan niệm rằng thành ngữ thời hiện đại là tổ hợp từ trước hết phải
mang những đặc trưng cơ bản của thành ngữ, tức là tính ổn định về thành phần từ vựng
và cấu trúc, tính hoàn chỉnh và bóng bẩy về nghĩa. Thành ngữ thời hiện đại là những tổ
hợp từ cố định được dùng đi dùng lại nhiều lần do thói quen của người sử dụng, chúng là
đơn vị xuất hiện trong khoảng khoảng mấy chục thập kỷ trở lại đây, phản ánh phẩm chất
đạo đức, tư duy lối sống và cách nhìn của nhân dân trong thời cuộc mới. Còn về phía
quán ngữ, chúng tôi coi quán ngữ là một bộ phận của thành ngữ. Do đó chúng tôi đi đến
quyết định sẽ ghép thành ngữ, quán ngữ lại thành một bộ phận và từ đó sẽ đi tới phân
loại chúng cũng như nêu ra đặc điểm ý nghĩa và giá trị biểu trưng của những thành ngữ,
quán ngữ mới này.

CHƢƠNG 2: TOÀN CẢNH THÀNH NGỮ, QUÁN NGỮ
THỜI HIỆN ĐẠI

2.1. Một số khuynh hƣớng phân loại và tiêu chí phân loại của luận văn
Dựa trên quan điểm riêng của mình, các nhà Việt ngữ học đều có cách phân loại
thành ngữ, quán ngữ riêng. Trong luận văn này như đã nói ở trên chúng tôi quan niệm
quán ngữ là một bộ phận của thành ngữ nên dự định sẽ phân loại cấu tạo thành ngữ,
quán ngữ thời hiện đại thành những kiểu cấu tạo như sau dựa trên quan điểm của các nhà
ngôn ngữ học đi trước.
- Thành ngữ, quán ngữ có cấu trúc đối xứng
- Thành ngữ, quán ngữ có cấu trúc so sánh
- Thành ngữ, quán ngữ có cấu trúc cụm từ

Cấu trúc này có thể chia thành những cấu tạo nhỏ hơn như dưới đây:
Động từ + Bổ ngữ (Xd, Yd)
Bổ ngữ là danh từ
Bó chân bó tay
Đ Xd Đ Yd
2.2.1.3.Vế của thành ngữ có cấu tạo theo kiểu: Cụm số từ
Qua quá trình nghiên cứu chúng tôi nhận ra có 10 /87 thành ngữ thuộc kiểu này.
Cấu tạo này chia thành những cấu tạo nhỏ hơn như sau:
Số từ + danh từ
Nhất muối tiêu nhì Việt kiều
S Xd S Yd
2.2.1.4.Vế của thành ngữ có cấu trúc theo kiểu: Cụm tính từ
Có 7/87 thành ngữ được cấu tạo theo kiểu này.
Tính từ + danh từ
Chắc tay súng vững tay cày
T Xd T Y
Ngoài ra có một số thành ngữ đối xứng được cấu tạo theo cấu trúc cụm tính từ:
Mạnh vì gạo, bạo vì tiền
2.2.1.5.Thành ngữ được cấu tạo theo cấu trúc: Chủ ngữ + Vị ngữ
Qua quá trình nghiên cứu có thể nhận thấy có 12/87 thành ngữ được cấu tạo theo
cấu trúc: Chủ ngữ + Vị ngữ
Đồn là nhà biên cương là tổ quốc
C V C V
2.2.2. Thành ngữ có cấu trúc so sánh
Thành ngữ có kết cấu so sánh là một tổ hợp từ bền vững, bắt nguồn từ phép so
sánh với nghĩa biểu trưng kiểu: Nhảy như loi choi; Như cá nằm trên thớt…. Những thành
ngữ này đã được các nhà nghiên cứu dành sự quan tâm đặc biệt tới như Trương Đông
San, Hoàng Văn Hành… Ở đây, bên cạnh việc tiếp thu quan điểm của các nhà Việt ngữ
học, chúng tôi cũng coi những tổ hợp từ được dựng theo quan hệ so sánh hơn kém cũng
có thể là thành ngữ có kết cấu so sánh bởi những kiểu thành ngữ này cũng là một tổ hợp

Khuôn hình: A hơn B
Cắt cổ hơn đổ rượu
A B
Khuôn hình: At hơn B
Chân ngoài dài hơn chân trong
At B
Khuôn hình: t hơn B
Tệ hơn vợ thằng Đậu
t B
2.2.3.Thành ngữ có kết cấu cụm từ
Qua quá trình khảo sát chúng tôi nhận thấy thành ngữ có cấu trúc cụm từ chiếm số
lượng khá lớn, có tới 83/315 thành ngữ thuộc loại này.Loại thành ngữ này được cấu tạo
dựa trên hai bộ phận chính có thể mô hình hóa là Ax (A là yếu tố đứng đầu, là đối tượng
chính cần diễn đạt, x là yếu tố đứng sau A, biểu thị thuộc tính của A).
2.2.3.1. Thành ngữ có có kết cấu cụm danh từ
Qua quá trình nghiên cứu có 25/93 thành ngữ có kết cấu cụm danh từ. Chẳng hạn
như:
Công tử Bac Liêu
A x
2.2.3.2.Thành ngữ có kết cấu cụm tính từ
Thành ngữ có kết cấu cụm tính từ có 23/93 thành ngữ. Ví dụ như:
Ảo tung chảo
A x
2.2.3.2.Thành ngữ có kết cấu cụm động từ
Thành ngữ có kết cấu cụm động từ có 45/93 thành ngữ như:
Gãi đúng chỗ ngứa
A x
2.2.4.Thành ngữ có kết cấu câu
Thành ngữ có kết cấu câu là thành ngữ không được cấu tạo theo một mô hình đặc
biệt nào, chúng được cấu tạo như một cấu trúc ngữ pháp bình thường và nghĩa của thành

trong văn bản, diễn ngôn. Nghĩa của ngôn ngữ thể hiện trong mọi hình thức tồn tại của
tín hiệu nên ngữ nghĩa học và nghĩa của tín hiệu phải được xem xét ở loại đơn vị có
thuộc tính tín hiệu đặc biệt là ở dạng cụ thể trừu tượng của các hình thức thể hiện tín
hiệu. Nghĩa là một thực thể tinh thần do con người và bởi con người cấu tạo, sử dụng
ngôn ngữ như một phương tiện, công cụ nên quan điểm chức năng phải được xem là
nòng cốt trung tâm của kiến giải nghĩa. Nghĩa là nội dung xác định hình thành nhờ chức
năng song không là chức năng riêng rẽ trong hoạt động mà là một loại chức năng thể
hiện qua văn cảnh. Trong phạm vi nghĩa từ vựng là các loại chức năng từ vựng ngữ
pháp. Trong phạm vi ngữ pháp, ngữ dụng cũng là khái quát loại chức năng ngữ pháp và
ngữ dụng. Nội dung của ngữ nghĩa học bao gồm: ngữ nghĩa học từ vựng, ngữ nghĩa học
ngữ pháp, ngữ nghĩa học ngữ dụng” [30, 86].
3.1.2. Quan niệm về nghĩa của thành ngữ, quán ngữ
Có thể nhận thấy trong các công trình nghiên cứu về từ vựng, ngữ pháp tiếng Việt
nói chung, về thành ngữ tiếng Việt nói riêng, các nhà ngôn ngữ học Việt Nam đã đi đến
một số điểm khá thống nhất căn bản về nghĩa của thành ngữ. Phần lớn các tác giả trong
những công trình nghiên cứu về từ vựng – ngữ nghĩa nói chung đều ghi nhận nghĩa của
thành ngữ là một chỉnh thể được khái quát từ nghĩa của các thành tố cấu tạo. Nghĩa khái
quát được tạo lập không phải bằng phép cộng giản đơn nghĩa của các thành tố trong
thành ngữ
Qua tìm hiểu về đặc điểm ngữ nghĩa của thành ngữ có thể thấy, nghĩa của các
thành ngữ là một chỉnh thể hoàn chỉnh, không phải do nghĩa các yếu tố tạo nên nó cộng
lại, nó biểu thị phản ánh khái niệm và có tính bóng bẩy, gợi cảm.
3.2.Quan niệm về nghĩa biểu trƣng, nghĩa biểu tƣợng và giá trị biểu trƣng, biểu
tƣợng của thành ngữ, quán ngữ.
3.2.1. Quan niệm về nghĩa biểu trưng, nghĩa biểu tượng
3.2.1.1. Một số quan niệm về biểu trưng, biểu tượng
. Nghĩa là nghĩa biểu tượng là loại nghĩa dành cho nội dung nghĩa những từ mà
hình thức ngữ âm (mô phỏng âm thanh) hoặc hình thức cấu âm (mô phỏng cấu hình) như
có liên hệ đến nội dung được biểu hiện của từ. Đó chính là các từ tượng thanh, tượng
hình như: meo meo, ha hả, ào ào…

Chính trong những năm tháng khốc liệt đó, hình ảnh người lính đã trở nên nổi bật
và cuộc sống lao động chiến đấu của họ luôn dành được sự quan tâm mạnh mẽ của quần
chúng nhân dân.
Những người lính đã được nhân dân trìu mến gọi là “bộ đội cụ Hồ” và hình ảnh
của họ được phản ánh trong cách nói ví von, giàu biểu cảm:
Nhất chân chì, nhì bốn túi
Má văn công, mông bộ đội
Chính trong hai cuộc chiến tranh đó đã hình thành nên biểu tượng về chiến tranh
như:
Chiếc gậy Trường Sơn
Cuộc chia ly màu đỏ
Dáng đứng Bến Tre
Mùa lá đỏ
Chính trong những năm tháng khốc liệt đó, hình ảnh người lính đã trở nên nổi bật
và cuộc sống lao động chiến đấu của họ luôn dành được sự quan tâm mạnh mẽ của quần
chúng nhân dân.
Những người lính đã được nhân dân trìu mến gọi là “bộ đội cụ Hồ” và hình ảnh
của họ được phản ánh trong cách nói ví von, giàu biểu cảm:
Nhất chân chì, nhì bốn túi
Má văn công, mông bộ đội
Đầu binh cuối cán
Gắn liền với người lính là môi trường sống hay môi trường lao động chiến đấu ác
liệt của họ:
Tên bay đạn lạc
Bom rơi đạn nổ
Mưa bom bão đạn
Mũi tên hòn đạn
Bắn như vãi đạn
Đạn lạc bom rơi
Hình ảnh của họ còn gắn liền với người dân:

Chị( anh) có "gì" bán không? ( từ "gì" này hiểu ý là tem phiếu thịt cá, đậu phụ, trứng,
nước mắm) .Gặp phải người khách đáo để, những bà đanh đá thì bị mắng cho xa xả:- Có
gì, có cái thân tôi có mua thì mua. Biết gặp phải người không vừa mấy bà phe tản đi hết.
Dân phe phẩy này cũng toàn là công nhân, hay nhân viên nhà nước tranh thủ một
ít thời gian trong 8 giờ vàng ngọc của nhà nước, hoặc giờ nghỉ trưa la cà ngoài mấy cái
cửa hàng thực phẩm mua đi bán lại ít tem phiếu kiếm lời nuôi con chứ họ cũng chả sung
sướng gì. Nhưng ngày xưa, cái thời bao cấp thì cho rằng dân phe phẩy là không tốt.
Những người nào đi phe mà cán bộ lãnh đạo của cơ quan họ bắt gặp thì rất lôi thôi. Sẽ bị
ghi vào lí lịch cán bộ là làm ăn buôn bán bất hợp pháp. Nên họ phải lén lút, họ phải kín
đáo để không bị phát hiện.
Không phải ai cũng có tài phe phẩy. Không phải người nào cũng có gan đi buôn.
Những người nhìn mặt cũng phải ghê gớm, dữ dằn một chút mới có thể làm ăn buôn bán
mà không bị các con buôn khác bắt nạt. Nhiều khi họ coi "mảnh đất làm ăn" chỗ này là
của họ thì cấm ai được bén mảng đến. Họ cũng có hội hè kết bè phái để đàn áp bắt nạt
những người ho he mới vào nghề. Thế nên con phe nào mới vào nghề cũng phải nịnh các
đàn anh đàn chị.
Có người không buôn tem phiếu thì tranh thủ bán thúng xôi buổi sáng ở các cơ
quan, trường học cũng kiếm kha khá. Bán hết thúng xôi thì về đi làm. Hôm nào đắt hàng
thì về sớm đi làm đúng giờ. Hôm nào ế về muộn thì đi làm muộn, lại xin ít giờ nhà nước
kiếm tiền nuôi các con ăn học. Những công dân tranh thủ giờ nhà nước đi buôn được gọi
là "đi đánh quả" hoặc là"chân ngoài dài hơn chân trong".
Ngoài ra tiêu cực còn thể hiện trong cách suy nghĩ của mọi người như:
Thủ kho to hơn thủ trưởng
Làm thì láo báo cáo thì giỏi
Có tiền mua tiên cũng được
Hạ cánh an toàn
Đồng tiền đi trước là đồng tiền khôn
Lương tâm không bằng lương tháng
Sạp báo lớn không bằng sạp báo nhỏ
Ban đêm cả nhà lo việc nước, bên ngày cả nước lo việc nhà

quán ngữ thời hiện đại đã tập trung miêu tả những vấn đề sau: Cuộc sống vất vả của
người dân đất Việt, công cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, những tiêu cực của xã hội.
3.3.5. Những hình ảnh biểu trưng của thành ngữ, quán ngữ
Biểu trưng là một hiện tượng khá lí thú và phổ biến ở các dân tộc. Biểu trưng là
lấy một sự vật, một hiện tượng nào đó để biểu hiện một cách tượng trưng, ước lệ cho cái
gì đó có tính khái quát, trừu tượng.
Gà, ngan được sử dụng làm biểu tượng cho cuộc sống, tính cách của con người
Ấm ớ gà mờ
Gà công nghiệp
Tê giác được sử dụng làm hình ảnh biểu trưng cho tính cách của con người:
Ác như con tê giác
Không chỉ những hình ảnh động vật biểu trưng cho tính cách, cuộc sống, thân
phận của con người mà những vũ khí trong chiến tranh như bom, đạn, súng cũng có thể
biểu hiện cho cuộc sống của người dân Việt lúc bấy giờ:
Bắn như đổ đạn
Bắn như vãi đạn
Tiểu kết
Như vậy có thể thấy thành ngữ, quán ngữ hiện đại ra đời đã phản ánh được những
thay đổi trong đời sống của người dân nước ta trong thế kỷ 20 và đầu thế kỷ 21. Những
thay đổi trong đời sống hiện đại đã ảnh hưởng sâu sắc đến quan điểm, suy nghĩ của người
dân Việt Nam trong suốt thời kỳ đó.
Bắt đầu từ thời kỳ thực dân Pháp xâm lược đất nước ta cho đến khi phát xít Nhật
nhảy vào dây máu ăn phần khiến cho dân ta phải chịu cảnh một cổ hai tròng, cho tới khi
đế quốc Mỹ tiến hành xâm chiếm Việt Nam. Tất cả đều được thể hiện rõ trong những
thành ngữ, quán ngữ thời hiện đại. Và nổi bật lên trên tất cả là tinh thần dốc hết sức vì
miền Nam ruột thịt,xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước, sẵn sàng hy sinh tất cả để bảo vệ
đất nước. Chính tinh thần thép, quyết tâm ấy đã khiến cho những bà má Hậu Giang,
dáng đứng Bến Tre, chiếc gậy Trường Sơn… đã trở nên bất tử. Trong hai cuộc chiến
tranh chống Pháp và chống Mỹ, hình ảnh người lính, bộ đội cụ Hồ đã in đậm trong lòng
những người dân Việt Nam vì tinh thần quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh, sẵn sàng vượt

Xã hội phát triển cũng dẫn đến hình thành một thế hệ gà công nghiệp thường
xuyên thất bại vì ngại thành công hay sống vô cảm, một con ngựa đau, cả tàu được ăn cỏ,
sẵn sàng ném tiền qua cửa sổ, chạy theo mốt, chạy theo thời thường để thỏa mãn mong
muốn của mình.
Có thể nói như vậy mọi vấn đề trong cuộc sống thời hiện đại đều được phản ánh rõ
nét qua thành ngữ, quán ngữ mới này. Tìm hiểu về những thành ngữ, quán ngữ này sẽ giúp
cho người đọc hiểu sâu sắc hơn về những năm tháng đã qua, đưa ra được bức tranh toàn
cảnh về xã hội lúc bấy giờ… Do đó, việc nghiên cứu về những thành ngữ, quán ngữ này có
tính thời sự, ý nghĩa lịch sử và giá trị tinh thần sâu sắc.

KẾT LUẬN

Có thể nói thành ngữ, quán ngữ là sản phẩm ngôn từ của nhân dân, đi vào lời ăn
tiếng nói hàng ngày của nhân dân một cách tự nhiên. Do đó thành ngữ, quán ngữ trở
thành vốn từ vựng quan trọng của mỗi người cũng như trong kho từ vựng dân tộc.
Việc hình thành của thành ngữ, quán ngữ bộc lộ rõ dấu ấn chủ quan bắt nguồn từ
những quan sát, cảm nhận và mang đặc trưng văn hóa, tư duy riêng của người bản ngữ.
Chính vì vậy, đó là một kho báu lưu giữ những trầm tích văn hóa đặc sắc và phong phú
của dân tộc. Thành ngữ, quán ngữ là những tổ hợp từ cố định được sử dụng rộng rãi
trong giao tiếp hàng ngày. Nội dung của thành ngữ chính là tiếng nói và tâm linh của
người dân được bộc bạch qua đó. Do đó nội dung của nó gắn bó với cuộc sống hàng
ngày, những kinh nghiệm về sản xuất, về cách nhìn nhận đánh giá con người.
Thành ngữ, quán ngữ thời hiện đại ra đời vào khoảng đầu thế kỷ 20 và kéo dài cho
tới tận bây giờ. Do đó nó thể hiện rõ những biến chuyển trong đời sống văn hóa, xã hội
của nhân dân thời kỳ này. Chính vì vậy nghiên cứu về thành ngữ, quán ngữ thời hiện đại
và những giá trị biểu trưng của chúng là hướng nghiên cứu mới, cần được phát triển. Do
đó trong luận văn này chúng tôi mới chỉ đưa ra được một số giải thích mang tính chất gợi
mở, cần được bổ sung thêm.
Luận văn cũng tổng hợp quan điểm của các nhà nghiên cứu tiếng Việt về thành
ngữ, quán ngữ song có thể thấy vấn đề thành ngữ, quán ngữ thời hiện đại và giá trị biểu

luận tốt nghiệp, Trường Đại học KHXH & NV (ĐHQG Hà Nội)
2. Đỗ Hữu Châu. 1999. Từ vựng – ngữ nghĩa tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội
3. Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến. 2005. Cơ sở ngôn ngữ học
và tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội
4. Nguyễn Thị Kim Dung. 2007. Khảo sát các thành ngữ và tục ngữ xuất hiện trên
báo phụ nữ Việt Nam thời kỳ đổi mới (1985 – 2005), Luận văn thạc sĩ, Trường
Đại học KHXH & NV (ĐHQG Hà Nội)
5. Vũ Dung, Vũ Thúy Anh ,Vũ Quang Hào. 2000. Từ điển thành ngữ tục ngữ Việt
Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội
6. Nguyễn Văn Đạm. Từ điển tường giải và liên tưởng tiếng Việt. Nxb VHTT, Hà
Nội
7. Hữu Đạt, Trần Trí Dõi, Thanh Lan. 2000. Cơ sở tiếng Việt, Nxb Văn hóa thông
tin, Hà Nội
8. Lưu Ngọc Đức. 2009. Khảo sát thành ngữ tiếng Việt từ năm 1945 đến nay, Khóa
luận tốt nghiệp, Trường Đại học KHXH & NV (ĐHQG Hà Nội)
9. Nguyễn Công Đức. 1995. Bình diện cấu trúc hình thái ngữ nghĩa của thành ngữ
tiếng Việt, Luận án PTSKH ngữ văn, Hà Nội
10. Nguyễn Thiện Giáp. 1998. Cơ sở ngôn ngữ học, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội
11. Nguyễn Thiện Giáp. 2003. Từ vựng học tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội
12. Hoàng Văn Hành (chủ biên).1994.Kể chuyện thành ngữ, tục ngữ , Nxb Khoa học
Xã hội, Hà Nội
13. Hoàng Văn Hành. 2004. Thành ngữ học tiếng Việt, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội
14. Nguyễn Văn Hằng.1999. Thành ngữ bốn yếu tố trong tiếng Việt hiện đại, Nxb
Khoa học Xã hội, Hà Nội
15. Bùi Thị Hiền, 2001, Bước đầu khảo sát các quán ngữ trong văn bản khoa học giai
đoạn 1950 – 2000, Khóa luận tốt nghiệp, Trường Đại học KHXH & NV (ĐHQG
Hà Nội)
16. Ngô Hữu Hoàng, 2002, Vai trò của quán ngữ trong việc kiến tạo phát ngôn (trên
cứu liệu tiếng Anh và tiếng Việt), Luận án tiến sĩ khoa học ngữ văn, Hà Nội
17. Lê Tài Hòe. 2004. Hình ảnh con chim và con cò trong thành ngữ, tục ngữ, ca dao

Nội
35. Cù Đình Tú. 1973. Góp ý kiến phân biệt thành ngữ và tục ngữ. Tạp chí ngôn ngữ,
số 1.
36. Từ điển Bách Khoa Việt Nam. 1995. Nxb Từ điển Bách Khoa, Hà Nội
37. Kiều Văn. 2005. Tân từ điển thành ngữ tiếng Việt, Nxb Giáo dục.
38. Viện Ngôn ngữ.2006. Từ điển tiếng Việt, Nxb Từ điển Bách khoa, Hà Nội
39. Bùi Khắc Việt. Về tính biểu trưng của thành ngữ tiếng Việt. Ngôn ngữ số 1 năm
1973
40. Nguyễn Như Ý, Hoàng Văn Hành, Lê Xuân Thại, Nguyễn Văn Khang, Phan Xuân
Thành . 1998. Từ điển giải thích thành ngữ tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội
41. Nguyễn Như Ý (chủ biên).1998.Đại từ điển tiếng Việt, Nxb VHTT, Hà Nội


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status