Tài liệu Luận văn: Phân tích các hình thức trả lương tại Công Ty Cơ Khí An Giang doc - Pdf 97

Phân tích các hình thức trả lương tại Công Ty Cơ Khí An Giang
-1 -GVHD:Nguyễn Tri Như Quỳnh_ SVTH:Đoàn Hà Hồng Nhung
Luận văn
Phân tích các hình
thức trả lương tại
Công Ty Cơ Khí An
Giang
Phân tích các hình thức trả lương tại Công Ty Cơ Khí An Giang
-2 -GVHD:Nguyễn Tri Như Quỳnh_ SVTH:Đoàn Hà Hồng Nhung
I. Lý do chọn đề tài:
PHẦN MỞ ĐẦU
Lao động là hoạt động quan trọng nhất của con người nhằm tạo ra các
của cải vật chất và tinh thần cho xã hội. Lao động có năng suất, chất lượng và
hiệu quả cao là nhân tố quyết định sự phát triển của đất nước.
Để tuyển dụng và giữ lại đúng người làm đúng việc, ban giám đốc cần
có một hệ thống thù lao cạnh tranh và công bằng. Mặt dù tiền không phải là lý
do duy nhất để nhân viên làm việc cho một doanh nghiệp, nhưng những
phương pháp trả lương không công bằng vẫn là nguyên nhân chính gây ra sự
bất mãn của nhân viên và làm tăng tình trạng bỏ việc, giảm hiệu quả quan hệ
lao động và gây ra những chi phí không cần thiết cho doanh nghiệp.
Hệ thống tiền lương và tiền công sẽ cho phép doanh nghiệp tuyển dụng
các nhân viên mới với mức lương thỏa đáng, tăng mức lương phù hợp cho
nhân viên và hình thành một con đường sự nghiệp cho các cá nhân. Để thực
hiện được tất cả các công việc này, cần phải có một hệ thống tiền lương và
tiền công có tổ chức hợp lý. Mục đích của một hệ thống tiền lương và tiền
công là đảm bảo rằng những người thực hiện các nhiệm vụ được coi là có giá
trị như nhau sẽ nhận được mức thù lao như nhau.Thù lao bao hàm tất cả các
hình thức thu nhập mà các cá nhân nhận được cho phần lao động của họ.
Bản chất của tiền lương cũng thay đổi tùy theo các điều kiện, trình độ
phát triển kinh tế xã hội và nhận thức của con người. Trước đây, tiền lương
được coi là giá cả sức lao động trong nền kinh tế thị trường. Giờ đây, với việc

lương cho công nhân quá cao sẽ ảnh hưởng đến tổng chi phí sản phẩm và giá
thành sản phẩm sẽ tăng. Chính vì vậy, thông qua kế toán tiền lương nhà quản
trị sẽ đưa ra một hệ thống thang lương hợp lý.
Tổ chức sử dụng lao động hợp lý, bình đúng thù lao lao động và thanh
toán kịp thời tiền và các khoản khác có liên quan cho người lao động sẽ kích
thích họ quan tâm đến doanh nghiệp dẫn đến năng suất lao động cao, giảm chi
phí về lao động sẽ hạ được giá thành sản phẩm,làm cho lợi nhuận của doanh
nghiệp tăng lên, một mặt nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người lao
động.
Nhận thức được tầm quan trọng của kế toán tiền lương tôi quyết định
chọn đề tài: “Phân Tích Các Hình Thức Trả Lương Tại Công Ty Cơ Khí An
Giang” . Đề tài sẽ giúp tôi tìm hiểu thực tế về việc trả lương tại Công Ty Cơ
Khí tỉnh An Giang, đồng thời mong cùng công ty nghiên cứu, hoàn thiện và
nâng cao hiệu quả của việc trả lương tại doanh nghiệp.
II. Mục đích nghiên cứu:
Phân tích và nghiên cứu tình hình trả lương ở công ty Cơ Khí nhằm trả
lời các câu hỏi sau:

Công ty đang áp dụng các hình thức trả lương nào? Tại sao phải áp
dụng hình thức đó ?

Tác động của hình thức trả lương đó đối với người lao động, đối với
doanh nghiệp, đối với nhà nước.
Khi nghiên cứu đề tài này sẽ giúp tôi hiểu thực tế việc trả lương tại
công ty như thế nào. Từ đó tôi có những kiến nghị đối với hình thức trả lương
tại công ty và mong cùng công ty hoàn thiện các hình thức trả lương tại công
ty.
III. Phương pháp nghiên cứu:
Với các mục tiêu trên đề tài được phân tích và phát triển dựa trên các
phương pháp nghiên cứu sau:

2.Nhiệm vụ kế toán tiền lương:
Để thực hiện chức năng của kế toán trong việc điều hành quản lý hoạt
động của doanh nghiệp, kế toán tiền lương cần thực hiện những nhiệm vụ sau:

Tổ chức ghi chép, phản ánh, tổng hợp một cách trung thực, kịp thời,
đầy đủ, tình hình hiện có và sự biến động về số lượng và chất lượng lao động,
tình hình sử dụng thời gian lao động và kết quả lao động.

Tính toán chính xác, kịp thời, đúng chính sách, chế độ các khoản tiền
lương và các khoản liên quan khác cho người lao động trong doanh nghiệp,
kiểm tra tình hình huy động lao động và sử dụng lao động. Phản ánh kịp thời
đầy đủ, chính xác tình hình thanh toán các khoản trên cho người lao động.

Thực hiện việc kiểm tra tình hình huy động và sử dụng lao động, tình
hình chấp hành các chính sách, chế độ về lao động tiền lương

Tính toán và phân bổ chính xác, đúng đối tượng các khoản tiền lương
và các khoản liên quan khác vào chi phí sản xuất kinh doanh

Hướng dẫn và kiểm tra các bộ phận trong đơn vị thực hiện đầy đủ, đúng
đắn chế độ ghi chép ban đầu về lao động, tiền lương. Mở sổ kế toán và hạch
toán lao động, tiền lương

Lập các báo cáo về lao động, tiền lương và các báo cáo khác thuộc
phạm vi trách nhiệm của kế toán. Tổ chức phân tích tình hình sử dụng lao
động đề xuất các biện pháp nhằm khai thác có hiệu quả tiềm năng lao động,
tăng năng suất lao động. Đấu tranh chống những hành vi vô trách nhiệm, vi
phạm kỷ luật lao động, vi phạm chính sách chế độ về lao động tiền lương.
II. Một số hình thức trả lương:
1.Những nguyên tắc cơ bản của tổ chức tiền lương:


sau:
 Mỗi ngành nghề trong nền kinh tế quốc dân có tính chất phức tạp về
kỹ thuật khác nhau. Do đó đối với những người lao động làng nghề làm việc
trong các ngành có yêu cầu kỹ thuật phức tạp phải trả lương cao hơn những
người lao động làm việc trong những ngành không có yêu cầu kỹ thuật cao.
 Tiền lương bình quân giữa các ngành có điều kiện lao động khác nhau
cần có sự chênh lệch khác nhau.Công nhân làm việc trong điều kiện nặng nhọc
có hại đến sức khỏe phải được trả lương cao hơn những người làm việc trong
điều kiện bình thường.
Những ngành chủ đạo có tính chất quyết định sự phát triển của nền kinh
tế quốc dân thì cần được đãi ngộ mức tiền lương cao hơn nhiều nhằm khuyến
khích công nhân yên tâm phấn khởi làm việc lâu dài ở những ngành nghề đó,
sự khuyến khích này cũng phải phù hợp với yêu cầucủa việc phân phối sức lao
động một cách có kế hoạch trong thời kỳ phát triển kinh tế.
Đối với những cơ sở sản xuất ở những vùng xa xôi hẻo lánh, điều kiện
khí hậu xáu, sinh hoạt đắt đỏ, đời sống gặp khó khăn, nhân lực thiếu,…Cần
được đãi ngộ tiền lương cao hơn hoặc thêm những khoản phụ cấp thì mới thu
hút được công nhân đến làm việc
 Khuyến khích bằng lợi ích vật chất kết hợp với giáo dục tư tưởng cho
người lao động.
2.Xác định quỹ tiền lương năm kế hoạch để xây dựng đơn giá tiền
lương:
Quỹ tiền lương năm kế hoạch để xây dựng đơn giá tiền lương theo công thức:
ZV kh = [ L đb * TL mindn * ( H cb + H pc ) + V vc ] * 12 tháng
Trong đó:
ZV kh: Tổng quỹ lương kế họach
L đb: lao động định biên
TL mindn: mức lương tối thiểu của doanh nghiệp lựa chọn trong khung
quy định

Z P kh
Trong đó:
Vđg: đơn giá tiền lương ( đồng/1000đồng )
Z V kh: tổng quỹ tiền lương năm kế hoạch
Z P kh: lợi nhuận kế hoạch
* Tổng quỹ lương chung năm kế hoạch:
V c = V kh + V pc + V bs + V tg
Trong đó:
Vc: tổng quỹ lương chung năm kế hoạch
Vkh: tổng quỹ lương năm kế hoạch để xây dựng đơn giá tiền lương
Vpc: quỹ các khoản phụ cấp lương kế hoạch và các chế độ khác
( nếu có ) không được tính trong đơn giá tiền lương theo quy định
Vbs: quỹ tiền lương bổ sung theo kế hoạch chỉ áp dụng đối với doanh
nghiệp được giao đơn giá tiền lương theo đơn vị sản phẩm
Vtg: quỹ tiền lương làm thêm giờ được tính theo kế hoạch, không vượt
quá số giờ làm thêm của bộ luật lao động quy định.
3. Hình thức trả lương theo sản phẩm:
Hiện nay phần lớn các nhà máy, xí nghiệp ở nước ta đều áp dụng hình
thức trả lương theo sản phẩm. Trả lương theo sản phẩm là hình thức tiền lương
căn cứ vào số lượng, chất lượng sản phẩm sản xuất ra của mỗi người và đơn
giá lương sản phẩm để trả lương cho cán bộ công nhân viên chức.
Sở dĩ như vậy là vì chế độ lương cấp bậc và các khoản phụ cấp chưa
kiểm tra giám sát được chặt chẽ về sức lao động của mỗi người để đãi ngộ về
tiền lương một cách đúng đắn. Hình thức tiền lương trả theo sản phẩm là hình
thức căn bản để thực hiện quy luật phân phối theo lao động. Để quán triệt đầy
đủ hơn nữa nguyên nhân, nguyên tắc phân phối theo số lượng và chất lượng
lao động nghĩa là căn cứ trực tiếp vào kết quả lao động của mỗi người sản
xuất. Ai làm nhiều, chất lượng sản phẩm tốt, được hưởng nhiều lương, ai làm
ít chất lượng sản phẩm xấu thì hưởng ít lương. Những người làm việc như
nhau thì phải được hưởng lương bằng nhau. Mặt khác chế độ trả lương theo

như cung cấp nguyên vật liệu đúng quy cách, chất lượng, kịp thời gian. Kiểm
tra nghiệm thu được chính xác số lượng, chất lượng sản phẩm. Điều chỉnh lại
lao động trong dây chuyền sản xuất. Thống kê thanh toán tiền lương nhanh
chóng, chính xác, đúng kì hạn,…Các vấn đề đó ảnh hưởng trực tiếp đến năng
suất tiền lương của công nhân nên họ rất quan tâm phát hiện và yêu cầu giải
quyết. Bất kì một hiện tượng nào vi phạm đến kỹ thuật công nghệ và chế độ
phục công tác, người công nhân không những tìm cách khắc phục kịp thời mà
còn tích cực đề phòng các khuyết điểm có thể xảy ra. Đồng thời, đấu tranh
chống hiện tượng tiêu cực, làm việc thiếu trách nhiệm trong cán bộ quản lí và
công nhân sản xuất.
- Củng cố và phát triển mạnh mẽ phong trào thi đua xã hội chủ
nghĩa, xây dựng tác phong thái độ lao động xã hội chủ nghĩa. Phong trào thi
đua phát triển là do nhiệt tình yêu nước, ý thức giác ngộ xã hội chủ nghĩa và
trình độ văn hóa kỹ thuật của công nhân, do năng suất lao động được nâng cao
mà có. Muốn thi đua đạt được bền bỉ thường xuyên liên tục thì phải được bồi
dưỡng bằng vật chất mới có tác dụng. Trả lương theo sản phẩm là phương tiện
tốt để thực hiện yêu cầu đó. Động viên thi đua liên tục và mạnh mẽ đồng thời
áp dụng một cách đúng chế độ tiền lương tính theo sản phẩm sẽ kết hợp chặt
chẽ được hai mặt khuyến khích bằng vật chất và động viên tinh thần để thúc
đẩy và phát triển sản xuất. Hai vấn đề này phải dựa vào nhau và thúc đẩy lẫn
nhau làm cho năng suất lao động ngày càng tăng và phong trào thi đua xã hội
chủ nghĩa ngày càng mở rộng và có chất lượng cao. Ngoài ra chế độ lương sản
phẩm còn góp phần bồi dưỡng giáo dục cho công nhân có hứng thú nhiệt tình
trong lao động _ có ý thức và trách nhiệm quan tâm đến việc của tập thể.
Qua những tác dụng kể trên ta thấy chế độ trả lương theo sản phẩm có
ý nghĩa kinh tế, chính trị quan trọng. Nó động viên mạnh mẽ mọi người tích
cực sản xuất với chất lượng tốt và năng suất cao. Vừa tăng thu nhập cho cá
nhân người lao động vừa làm tăng hơn sản phẩm cho xã hội góp phần thay đổi
nền kinh tế cả nước.
3.2. Điều kiện và hình thức trả lương theo sản phẩm:


cơ b

ản công nhân + phụ cấp
Mức sản lượng
Như vậy muốn có đơn giá hợp lý, chính xác phải xác định đúng đắn
cấp bậc công việc. Nếu cấp bậc công việc được đánh giá xác định cao hơn yêu
cầu kỹ thuật thì đơn giá sẽ cao hơn hoặc ngược lại nếu cấp bậc công việc được
đánh giá xác định thấp hơn yêu cầu kỹ thuật thì đơn giá sẽ thấp hơn. Do đó
nếu xí nghiệp chưa có cấp bậc công việc thì phải xây dựng cấp bậc công việc.
Nếu có rồi thì phải rà soát lại để kịp thời sữa đổi những cấp bậc công việc đã
lạc hậu.
O
Định mức lao động: là thước đo tiêu chuẩn về tiêu hao lao động,
đánh giá kết quả lao động và tính đơn giá sẽ sai và tiền lương của công nhân
sẽ tăng hoặc giảm không hợp lý. Do đó sẽ không khuyến khích công nhân tăng
năng suất lao động.
Định mức lao động để trả lương sản phẩm là mức lao động trung
bình tiên tiến_do đó phải xây dựng định mức từ tình hình thực tế sản xuất ở xí
nghiệp đã được chấn chỉnh. Các mức lao động đang áp dụng ( nếu có )
phải kiểm tra lại để kịp thời sửa đổi những mức bất hợp lí không sát thực tế
sản xuất.
3.2.3. Công tác kiểm tra nghiệm thu sản phẩm:
Yêu cầu của chế độ lương sản phẩm là đảm bảo thu nhập tiền lương
theo đúng số lượng sản phẩm đã hoàn thành theo xác nhận của K.C.S do đó
cần phải kiểm tra nghiệm thu sản phẩm chặt chẽ nhằm đảm bảo sản xuất
những sản phẩm có chất lượng tốt, tránh khuynh hướng chạy theo sản lượng
để tăng thu nhập, làm ra những sản phẩm sai hỏng, không đúng quy cách và
yêu cầu kỹ thuật đồng thời đảm bảo việc trả lương cho công nhân đúng đắn,
kịp thời.

Nếu công việc được định mức thời gian:
Đơn giá = Mức lương cấp bậc công viên * mức thời gian

Nếu công việc định mức sản lượng:
Mứ

c lương

cấp b

ậc công việc + Ph



cấp
Đơn giá =
Mức sản lượng
-12 -GVHD:Nguyễn Tri Như Quỳnh_ SVTH:Đoàn Hà Hồng Nhung
Tiền lương tính theo sản phẩm là tiền lương tính trả cho ngừơi lao động
theo kết quả lao động _ khối lượng sản phẩm công việc và lao vụ đã hoàn
thành, bảo đảm đúng tiêu chuẩn, kỹ thuật, chất lượng đã quy định và đơn giá
tiền lương tính cho một đơn vị sản phẩm, công việc lao vụ đó. Tiền lương theo
sản phẩm trực tiếp được tính cho từng người lao động hoặc một tập thể người
lao động thuộc bộ phận trực tiếp sản xuất.
Tiền lương được lĩnh
=
trong tháng
Số lượng ( khối lượng )
*
công việc hoàn thành

trực tiếp đến việc đạt và vượt mức của công nhân chính hưởng lương theo sản
phẩm. Nhiệm vụ và thành tích của họ gắn liền với nhiệm vụ và thành tích của
công nhân đứng máy. tiền lương của công nhân phục vụ được tính căn cứ vào
số lượng sản phẩm của công nhân đứng máy sản xuất ra. Những công nhân
sửa chữa máy nếu áp dụng lương sản phẩm gián tiếp cần phải quy định và
kiểm tra chặt chẽ việc nghiệm thu trong định kì sửa chữa máy, đề phòng hiện
tượng tiêu cực đồng tình với công nhân đứng máy chạy theo sản lượng, cho
máy chạy quá mức làm cho máy hỏng
Đơn giá sản phẩm gián tiếp được tính bằng cách lấy mức lương tháng
của công nhân phục vụ chia cho định mức sản xuất chung của công nhân đứng
máy do công nhân đó phục vụ
Mứ

c lươ

ng tháng củ

a công nhân phụ

c v

ụĐơn giá
=
Định mức sản xuất chung
Như vậy nếu những công nhân đứng máy trực tiếp sản xuất sản phẩm
càng nhiều, tiền lương của số công nhân phục vụ ngày càng nhiều và ngược lại
nếu những công nhân đứng máy sản xuất được ít sản phẩm thì tiền lương của


tiền lươ ng

s ả

n phẩ

m l ũ

y tiế n:
Chế độ tiền lương này được tính như sau:
Đối với số sản phẩm được sản xuất ra trong phạm vi định mức khởi điểm
lũy tiến thì được trả theo đơn giá bình thường, còn số sản phẩm sản xuất ra
vượt mức khởi điểm lũy tiến được trả theo đơn giá lũy tiến, nghĩa là có nhiều
đơn giá cho những sản phẩmvượt mức khởi điểm lũy tiến. Nếu vượt mức với
tỷ lệ cao thì được tính những sản phẩm vượt mức bằng đơn giá cao hơn.
Chế độ lương này áp dụng cho công nhân sản xuất ở những khâu quan
trọng, lúc sản xuất khẩn trương để bảo đảm tính đồng bộ ở những khâu mà
năng suất tăng có tính chất quyết định đối với việc hoàn thành chung kế hoạch
của xí nghiệp.
Tiền lương của công nhân làm theo chế độ sản phẩm lũy tiến được tính theo
công thức:
L = [ Q
1
* P ] + [ Q
1
– Q
0
] * P * K
Trong đó:

giá sản phẩm sẽ tăng lũy tiến theo tỉ lệ vượt mức sản lượng
-15 -GVHD:Nguyễn Tri Như Quỳnh_ SVTH:Đoàn Hà Hồng Nhung

Phải thống kê xác định rõ chất lượng và số lượng sản phẩm tiền lương
của công nhân, mức lũy tiến, mức hạ thấp giá thành và giá trị tiết kiệm được

Phải dự kiến được kết quả kinh tế của chế độ lương tính theo sản phẩm
lũy tiến nhằm xác định mức lũy tiến cao nhất của đơn giá sản phẩm. Vì khi
thực hiện chế độ tiền lương này lương của công nhân sẽ tăng nhanh hơn sản
lượng làm cho phần tiền lương trong đơn vị sản phẩm cũng tăng lên. Do đó
giá thành sản phẩm cũng tăng theo, bởi vậy khi áp dụng chế độ lương này phải
tính toán kết quả kinh tế, nâng cao năng suất lao động làm hạ giá thành sản
phẩm.
C h

ế độ

lương khoán s ả

n phẩ

m:
Chế độ lương khoán sản phẩm là chế độ lương sản phẩm khi giao công
việc đã quy định rõ ràng số tiền để hoàn thành một khối lượng công việc cho
một đơn vị thời gian nhất định. Chế độ lương này áp dụng cho những công
việc mà xét thấy giao từng việc chi tiết không có lợi về mặt kinh tế, bởi vì
trong sản xuất có nhiều công việc mang tính chất tổng hợp không thể giao việc
mà thống kê kinh nghiệm thu kết quả lao động theo từng đơn vị sản phẩm từng
phần riêng biệt của từng công nhân hoặc từng tổ sản xuất. Như vậy ngay từ
khi nhận việc, công nhân đã biết ngay toàn bộ số tiền lương mà mình sẽ được

m có t h

ưởng và c h

ế độ

lương khoán có thưở ng:

Chế độ lương khoán sản phẩm có thưởng là chế độ lương khoán kết
hợp với khen thưởng khi công nhân đạt những chỉ tiêu về số lượng, chất lượng
hay thời gian đã quy định. Nhưng nếu vượt được các chỉ tiêu đã quy định về
chất lượng sản phẩm, tiết kiệm được nguyên liệu bảo đảm an toàn hoặc nâng
cao năng suất máy móc, thiết bị,…thì được thêm tiền thưởng. Khoản tiền
thưởng này chi trả khi công nhân hoàn thành định mức sản lượng.
Thực hiện chế độ lương này phải xác định rõ những chỉ tiêu và điều
kiện thưởng. Tỷ lệ tiền thưởng cũng phải xác định đúng đắn.

Chế độ tiền lương tính theo sản phẩm có thưởng là tiền lương tính theo
sản phẩm trực tiếp hay gián tiếp kết hợp với chế độ khen thưởng do doanh
nghiệp quy định như thưởng chất lượng sản phẩm_tăng tỷ lệ chất lượng sản
phẩm chất lượng cao, thưởng tăng năng suất lao động, tiết kiệm nguyên
liệu,…
Tiền lương theo sản phẩm có thưởng được tính cho từng người lao động hoặc
cho một tập thể người lao động.
Ví dụ: công ty may S quy định đơn giá tiền lương cho 1 sản phẩm là
2000 đồng, nhưng đơn giá có các sản phẩm thứ 11 sẽ là 2.200 đồng.
Tiền lương tính theo s ả

n phẩ


Hệ số chia
lương
Tổ

ng tiền lư ơ

ng t hự

c tế

đượ

c lĩ nh

c ủ

a tập t h

ể = Tổng tiền lương theo cấp bậc và thời gian làm việc
của các công nhân trong tập thể

Tính tiền lương chia cho từng người:
Tiền lương theo cấp bậc
Tiền lương được lĩnh
Hệ số chia
từng người
= và thời gian làm việc của *

=
Tổng tiền lương do tăng năng suất
c ủ

a tập t h

ể Tổng số điểm được bình của tập thể
*
số điểm được
bình mỗi
người
người

Xác định tiền lương được lĩnh của từng người là số tổng cộng phần
lương tính theo cấp bậc công việc và thời gian làm việc với phần lương được
lĩnh do tăng năng suất lao động.
- Chia lương theo bình công chấm điểm hàng ngày cho từng người lao động
trong tập thể đó.
Tùy thuộc vào tính chất công việc được phân công cho từng người lao
động trong tập thể lao động có phù hợp giữa cấp bậc kỹ thuật công nhân với
cấp bậc công việc được giao; lao động giản đơn hay lao động có yêu cầu kỹ
thuật cao… để lựa chọn phương án chia lương cho thích hợp nhằm động viên,
khuyến khích và tạo điều kiện chi người lao động phát huy hết năng lực của
mình.
¾ Trong thực tế, hình thức trả lương này thường áp dụng trong các dây
chuyền lắp ráp, trong ngành xây dựng, sửa chữa cơ khí, trong nông nghiệp,…
để kích thích các nhân viên trong nhóm làm việc tích cực, việc phân phối tiền

Tci
Tiền công của mỗi công nhân sẽ được xác định trên cơ sở số tiền khoán
chung cho cả nhóm và thời gian làm việc chuẩn của mỗi người, theo công
thức:
Wi =
Số

tiền khoán cho c ả

nhóm * Tc
i
Tổng thời gian chuẩn
Ví dụ: sau khi giám định mức độ hư hỏng của một chiếc máy tiện ,
phân xưởng khoán cho 3 công nhân thực hiện với tổng số tiền thù lao là
60.000đồng. 3 người thợ sửa chữa trong nhóm sẽ được trả lương tương ứng
với các hệ số lương, thời gian làm việc thực tế và mức độ tích cực của mỗi
người như trong bảng 9.1
Bảng 9.1 : trả lương khoán cho nhóm người lao động
Công
nhân
Hệ số
lương
( Hs )
Tổng

t
hời
gian thực
tế làm việc
( giờ )

về an toàn, vệ sinh công cộng,…
4. Hình thức tiền lương theo thời gian:
Tiền lương tính theo thời gian là tiền lương tính trả cho người lao động
theo thời gian làm việc, cấp bậc công việc và thang lương của người lao động.
Tiền lương tính theo thời gian có thể thực hiện tính theo tháng, ngày hoặc giờ
làm việc của người lao động tùy thuộc theo yêu cầu và trình độ quản lý thời
gian lao động của doanh nghiệp.
Tiền lương thời gian có thể thực hiện tính theo thời gian giản đơn hoặc
thời gian có thưởng.

Tiền lương thời gian giản đơn: tính theo thời gian làm việc và đánh giá
lương thời gian.

Tiền lương có thưởng: là hình thức thời gian giản đơn kết hợp với chế
độ tiền lương.
o Tiền lương tháng là tiền lương trả cố định hàng tháng trên cơ sở
hợp đồng lao động.
o Tiền lương tuần là tiền lương trả cho một tuần làm việc được xác
định trên cơ sở tiền lương tháng nhân với 12 tháng và chia cho 52 tuần.
o Tiền lương ngày là tiền lương trả cho một ngày làm việc được
xác định trên cơ sở tiền lương tháng chia cho 22 hoặc 26 ngày.
o Tiền lương giờ là tiền lương trả cho một giờ làm việc được xác
định trên cơ sở tiền lương ngày chia cho số giờ tiêu chuẩn.
Công thức tính lương theo thời gian:
Mức lương
tháng
=
Mức lương cơ bản (tối
thiểu)
*

vực, phụ cấp độc hại, nguy hiểm, phụ cấp trách nhiệm, phụ cấp làm đêm, phụ
cấp thu hút, phụ cấp đắt đỏ, phụ cấp làm thêm giờ.
5.2. Tiền thưởng:
Bộ Luật Lao Động quy định tại Điều 64: “Người sử dụng lao động có
trách nhiệm trích từ lợi nhuận hàng năm để thưởng cho người lao động đã làm
việc từ một năm trở lên theo quy định của Chính Phủ phù hợp với đặc điểm
của từng loại doanh nghiệp”.
Cụ thể:
- Đối với doanh nghiệp, tổ chức kinh doanh, dịch vụ thuộc thành
phần kinh tế quốc doanh, mức tiền thưởng tối đa không quá 06 tháng tiền
lương theo hợp đồng lao động.
- Đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp
trong khu chế xuất, khu công nghiệp, mức tiền thưởng do hai bên thỏa thuận
nhưng không thấp hơn 01 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.
- Đối với doanh nghiệp tư nhân, mức tiền thưởng do hai bên thỏa
thuận, nhưng mức trích thưởng ít nhất là 10% lợi nhuận (Điều 9 Nghị định
197/CP ngày 31-12-1994).
* Tóm

l ạ

i : Hệ thống tiền lương và tiền công nhất quán là một bộ phận
then chốt của các thông lệ quản lý nguồn nhân lực công bằng và thống nhất.
Khi có một hệ thống tiền lương và tiền công tốt, các nhân viên và những người
quản lý được trả lương một cách công bằng cả theo tầm quan trọng của công
việc họ tiến hành và trong mối tương quan với nhau. Các nhân viên có thể biết
trước được thu nhập nếu như kết quả làm việc của họ thỏa mãn nhu cầu và
những người quản lý không phải phán đoán tiền lương hoặc không phải tính
toán mức tăng lương cho mỗi lần nâng bậc. Như vậy, kế toán tiền lương cung
cấp các thông tin cần thiết về việc trả lương cho ban giám đốc doanh nghiệp .

 Xí nghiệp cơ khí Tân Châu: ( giải thể 31/12/2001 ) đường 1/5, thị
trấn Tân Châu, tỉnh An Giang.
 Cửa hàng vật tư công nghiệp và thiết bị văn phòng: 103 đường
Nguyễn Huệ B, TPLX, tỉnh An Giang.
 Công ty liên doanh khai thác chế biến đá Antraco: núi dài lớn, xã
Châu Lăng, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang.
2. Lịch sử hình thành và phát triển của công ty:
Công ty Cơ Khí An Giang trước đây là Xí Nghiệp Cơ Khí quốc doanh
được thành lập theo quyết định số 117/QĐ.UB ngày 04/09/1976 của UBND
tỉnh An Giang. Quyết định số 572/QĐ.UB ngày 21/11/1992 của UBND tỉnh
An Giang thành lập lại doanh nghiệp nhà nước theo nghị định 388/CP. Quyết
định số 764/QĐ.UB ngày 20/04/1999 của UBND tỉnh An Giang đổi tên doanh
nghiệp thành Công Ty Cơ Khí An Giang.
Cơ sở vật chất kỹ thuật ban đầu lúc mới thành lập có nhiều khó khăn,
máy móc thiết bị cũ kỹ không đồng bộ, tuy nhiên công ty đã nổ lực phấn đấu
vươn lên từ hiệu quả họat động sản xuất kinh doanh, để tái đầu tư đổi mới máy
móc thiết bị và sửa chữa nâng cấp nhà xưởng mở rộng sản xuất, đáp ứng yêu
cầu của cơ chế kinh tế thị trường.
3. Phạm vi hoạt động:
Công ty Cơ Khí An Giang là một doanh nghiệp nhà nước hoạt động sản
xuất kinh doanh thuộc ngành công nghiệp cơ khí góp phần đẩy nhanh tiến
trình cơ giới hóa nông nghiệp và phát triển giao thông nông thôn tại địa
phương khu vực đồng bằng sông Cửu Long và cả nước, phục vụ mục tiêu
công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn của Đảng Nhà nước và
tham gia thị trường xuất khẩu
II. Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, sơ đồ tổ chức công ty:
1. Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của công ty:
1.1.Chức năng, nhiệm vụ :
- Nghiên cứu thiết kế sản xuất các loại máy móc thiết bị sản xuất
nông nghiệp, chế biến và bảo quản nông sản thực phẩm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status