Tài liệu Đề tài "Một số giải pháp phát triển hoạt động gia công may mặc xuất khẩu ở Xí nghiệp may xuất khẩu Lạc Trung" - Pdf 97



Luận văn Đề Tài:Một số giải pháp phát triển hoạt động
gia công may mặc xuất khẩu ở Xí nghiệp
may xuất khẩu Lạc Trung

1

LỜI MỞ ĐẦU
Những năm gần đây, xu thế toàn cầu hoá, hội nhập kinh tế quốc tế ngày
càng diễn ra mạnh mẽ; mối quan hệ kinh tế giữa các nước trên thế giới càng
trở nên chặt chẽ và rất phức tạp, chúng tác động rất nhiều đến sự phát triển
kinh tế của mỗi quốc gia. Với thực tế cấp thiết trên đòi hỏi Việt Nam phải
tích cực, chủ động tham gia hội nhập kinh tế với kinh tế khu vực và trên thế
giới nhằm khai thác có hiệu quả những thế mạnh của nền kinh tế trong nước.
Bên cạnh những hoạt động kinh tế đối ngoại đem lại hiệu quả cao như
xuất nhập khẩu hàng hoá thì các hoạt động gia công quốc tế cũng là một
phương pháp hữu hiệu, nó vừa phù hợp với thực tế nền kinh tế nước ta hiện
nay đồng thời phù hợp với đường lối chính sách của Đảng về phát triển công

thực tập tốt nghiệp không tránh khỏi có những thiếu sót, tôi rất mong nhận
được những ý kiến đóng góp của các thầy cô trong khoa và tất cả mọi người
để có thể rút kinh nghiệm và bổ sung thêm những kiến thức mới nhằm hiểu
hơn về công việc sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trong thực tế. Tôi xin chân thành cảm ơn!

3

CHƯƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ HOẠT ĐỘNG
GIA CÔNG MAY MẶC XUẤT KHẨU Ở VIỆT NAM
1.1 KHÁI NIỆM VÀ CÁC HÌNH THỨC GIA CÔNG MAY MẶC XUẤT
KHẨU

1.1.1 Khái niệm về gia công xuất khẩu
1.1.1.1 Định nghĩa
Gia công quốc tế là một hoạt động kinh doanh thương mại trong đó
một bên (gọi là bên nhận gia công) nhập khẩu nguyên liệu hoặc bán thành
phẩm của một bên khác (gọi là bên đặt gia công) để chế biến thành ra thành
phẩm, giao lại cho bên đặt gia công và nhận thù lao (gọi là phí gia công).
Như vậy, trong gia công quốc tế hoạt động xuất nhập khẩu gắn liền với hoạt
động sản xuất.
(Giáo trình Kỹ thuật nghiệp vụ Ngoại thương – Vũ Hữu Tửu)
Hoạt động gia công quốc tế ngày nay khá phổ biến trong buôn bán
ngoại thương của nhiều nước trên thế giới đặc biệt là ở các nước đang phát
triển. Đối với bên đặt gia công, phương thức này giúp họ lợi dụng được giá rẻ
về nguyên liệu phụ và nhân công của nước nhận gia công. Đối với bên nhận
gia công, phương thức này giúp họ giải quyết công ăn việc làm cho nhân dân

Bên đặt gia công giao nguyên vật liệu và phụ kiện cho bên nhận gia
công, sau một thời gian ký kết sẽ thu hồi thành phẩm hàng may mặc theo như
quy cách và tài liệu đã phê duyệt và trả phí gia công cho bên nhận gia công
theo như thoả thuận. Hình thức này trước đây được sử dụng đối với các nước
5

kém phát triển không đủ máy móc thiết bị kỹ thuật mà phải nhờ vốn của bên
đặt gia công có khi cả về kỹ thuật.
1.1.2.2 Hình thức mua đứt bán đoạn dựa trên hợp đồng mua bán với nước
ngoài
Bên đặt gia công bán đứt nguyên phụ liệu cho bên nhận gia công, bên
nhận gia công sẽ mở L/C để mua nguyên phụ liệu và như vậy quyền sở hữu
nguyên liệu sẽ được chuyển sang bên nhận gia công. Sau một thời gian sản
xuất, bên đặt gia công sẽ mua lại toàn bộ sản phẩm theo như định mức đã
duyệt với số tiền phải trả là toàn bộ chi phí mua nguyên vật liệu và giá gia
công được quy định trong hợp đồng. Phương thức này ngày càng được áp
dụng nhiều với các nước đang phát triển vì nó vừa tiết kiệm cho bên đặt gia
công vừa thuận lợi cho bên nhận gia công.
1.1.2.3 Hình thức kết hợp
Là hình thức gia công kết hợp giữa hình thức gia công hoàn chỉnh và
hình thức mua đứt bán đoạn. Trong đó, bên đặt gia công may mặc chỉ giao
nguyên liệu chính và một nửa nguyên liệu phụ, còn số kia có thể được bên
nhận gia công mua theo yêu cầu của bên đặt gia công.
1.2 TÌNH HÌNH GIA CÔNG MAY MẶC XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM
1.2.1 Thực trạng phát triển
Giai đoạn từ 1955- 1980, đây là giai đoạn hình thành các doanh
nghiệp nhà nước, cơ sở vật chất kỹ thuật nhỏ bé, thô sơ, chủ yếu làm hàng
xuất khẩu thủ công. Do vậy mặt hàng trong thời kỳ này hết sức giản đơn như:
áo sơ mi, quần áo bảo hộ lao động, giầy vải và da, len mỹ nghệ được xuất
sang thị trường các nước trong khối SNG và Liên Xô (cũ). Phương thức gia

7

Ngoài ra, thông qua các cuộc tiếp xúc, ký kết hợp đồng mua bán, tiến
hành hội thảo với khách hàng về những vấn đề của sản phẩm, từ đó có thể
khẳng định hàng may mặc Việt Nam đã đạt được những bước tiến tốt đẹp. Cụ
thể, năm 2000 ngành dệt may Việt Nam đạt kim ngạch xuất khẩu 1,9 tỷ USD,
trong đó, gia công xuất khẩu chiếm trên 50% tổng kim ngạch. Năm 2001, mặc
dầu đây là một năm đầy khó khăn nhưng kim ngạch xuất khẩu của ngành dệt
may vẫn đạt trên 2 tỷ USD. Năm 2002 đánh dấu bước phát triển đáng kể của
ngành dệt may Việt Nam với kim ngạch xuất khẩu toàn ngành đạt 2,75 tỷ
USD, tăng 36% so với năm 2001, vượt mức kế hoạch đề ra là 12,5% và trong
8 tháng đầu năm 2003, kim ngạch xuất khẩu của ngành tăng 57,9%. Đây là
mức tăng trưởng cao nhất từ trước tới nay, là kết quả hết sức khích lệ và là cơ
sở tin cậy để toàn ngành dệt may phấn đấu đạt mục tiêu đề ra trong chiến lược
phát triển 2001-2010.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả khả quan đã đạt được, ngành dệt
may Việt Nam đặc biệt là các doanh nghiệp hoạt động gia công xuất khẩu
cũng cần phải tiếp tục chuẩn bị sẵn sàng đón nhận những thách thức khắc
nghiệt trong những năm tiếp theo. Thực tế là chỉ còn khoảng hơn hai năm nữa
Việt Nam đã phải hội nhập đầy đủ vào Khu vực Mậu dịch Tự do Đông Nam
Á (AFTA) và cũng chỉ còn hơn một năm nữa hiệp định hàng dệt may trong
khuôn khổ WTO sẽ được thực hiện hoàn toàn. Thương mại thế giới bước vào
giai đoạn mới, giai đoạn tự do thương mại hàng dệt may.
Việc cường quốc xuất khẩu dệt may lớn nhất thế giới là Trung Quốc đã
trở thành thành viên của WTO càng làm gia tăng mối e ngại về khả năng cạnh
tranh của các nhà cung cấp dệt may nhỏ đối với giai đoạn sau 2004. Để có thể
tiếp cận được thị trường xuất khẩu thế giới, các nước chưa phải là thành viên
WTO đang khẩn trương đàm phán để gia nhập tổ chức này. Campuchia, nước
láng giềng của Việt Nam cũng gia nhập WTO trong tháng 9. Song song với
8

1.2.2.1 Thuận lợi
Theo đánh giá của các chuyên gia kinh tế, hoạt động gia công xuất
khẩu của Việt Nam đang ở vào thời điểm khá thuận lợi về thị trường tiêu thụ
sản phẩm. Xuất khẩu dệt may 4 tháng đầu năm 2003 đạt tốc độ tăng cao nhất
trong hơn 10 mặt hàng xuất khẩu chủ lực. Chúng ta đang có nhiều lợi thế để
đẩy mạnh xuất khẩu các sản phẩm dệt may như: an ninh kinh tế và chính trị
của Việt Nam được các tổ chức xếp loại có uy tín trên thế giới xếp loại nhất
trong khu vực Châu Á; hàng dệt may Việt Nam và nhất là hàng may mặc gia
công qua 10 năm xuất khẩu sang Nhật và EU đã chứng tỏ uy tín to lớn của
các doanh nghiệp Việt Nam đối với các hãng có tên tuổi trên thế giới cả về
chất lượng sản phẩm và thời hạn giao hàng được đảm bảo.
Có thể nói điểm mạnh nhất của ngành Dệt may Việt Nam nói chung là
đội ngũ lao động dồi dào, có trình độ tay nghề cao, khéo léo và chăm chỉ. Giá
lao động Việt Nam rẻ nhất khu vực Châu Á, từ 0,16-0,35 USD/giờ, trong khi
của Indonesia là 0,32 USD/giờ, Trung Quốc 0,70 USD/giờ và của Ấn Độ là
0,58 USD/giờ. Chúng ta đang chuyển đổi cơ cấu kinh tế nên số lao động nông
nghiệp dôi dư sẽ là nguồn nhân lực bổ sung vô tận cho phát triển công nghiệp
dệt may – một ngành thu hút nhiều lao động xã hội nhất hiện nay. Hơn nữa sự
nghiệp giáo dục trong nhiều năm qua đã tạo ra một đội ngũ lao động dự bị có
trình độ, có sức khoẻ tốt đủ sức tiếp thu công nghệ hiện đại để tạo ra những
sản phẩm có đẳng cấp quốc tế đáp ứng mọi nhu cầu cao trên thị trường dệt
may thế giới với giá cạnh tranh.
Hiện Hiệp hội Dệt may Việt Nam đang có kế hoạch tăng cường hoạt
động xúc tiến thương mại nhằm vào thị trường đầy tiềm năng ở Nam Phi. Đại
diện cơ quan Thương mại Việt Nam ở Nam Phi cho biết, Nam Phi không hề
10
phải chịu áp đặt hạn ngạch về dệt may. Quốc gia này đang tiến hành đàm
phán hiệp định tự do thương mại với Ấn Độ và Trung Quốc (mức thuế nhập
khẩu giao động 20-60%), phần lớn người dân Nam Phi lại ưa chuộng kiểu
quần áo giản đơn như jean, áo thun… Đây chính là một cơ hội rất tốt cho các

cách nhờ hạn ngạch của các doanh nghiệp khác làm giảm hiệu quả kinh doanh
của doanh nghiệp.
Tuy nhiên, một lý do khác quan trọng khác đẩy các doanh nghiệp gia
công xuất khẩu vào tình trạng bấp bênh, hoạt động cầm chừng như hiện nay
là hầu hết các doanh nghiệp đều không dám ký hợp đồng gia công với khách
hàng Mỹ cho năm sau vì không biết chắc lượng hạn ngạch mình được cấp sẽ
là bao nhiêu. Bài học “xương máu” hạn ngạch trong năm nay đã làm không ít
doanh nghiệp phải lao đao với hậu quả để lại hết sức nghiêm trọng, khiến đa
phần trở nên ngại ngần trong việc thương thảo các hợp đồng mới. Ngoài ra,
việc tìm kiếm các đơn hàng ở các thị trường khác trở nên khó khăn hơn khi đã
có không ít khách hàng ở những thị trường truyền thống như EU, Nhật Bản,
Hồng Kông, Đài Loan… đi sang các nước Campuchia, Trung Quốc hay
Indonesia đặt hàng.
Vấn đề nổi cộm đối với ngành Dệt may Việt Nam là việc hiện nay các
doanh nghiệp mới chỉ dừng lại ở mức độ sản xuất các sản phẩm rất thông
dụng và chủ yếu theo phương thức gia công. Vì vậy, các mặt hàng dệt may
của Việt Nam phải cạnh tranh trực diện với các sản phẩm phổ thông khác từ
các nước có lợi thế về gia công nhưng rất mạnh về nguyên phụ liệu như:
Trung Quốc, Pakistan, Srilanca, Ấn Độ
Theo thống kê, chi phí cho một đơn vị sản phẩm gia công của Việt
Nam đều cao hơn từ 15-20% mặt hàng tương tự của Trung Quốc, Bangladesh,
12
Pakistan. Tuy giá lao động rẻ nhưng năng suất lao động của ngành dệt may
Việt Nam nói chung không cao, chỉ bằng 2/3 mức bình quân các nước
ASEAN, chi phí nguyên phụ liệu (phần lớn phải nhập khẩu) và khâu trung
gian cao làm sản phẩm thiếu tính cạnh tranh. Ngoài ra, Trung Quốc - đối thủ
cạnh tranh lớn nhất của Việt Nam đang thực hiện kế hoạch 10 năm (2001-
2010) với mục tiêu tăng gấp đôi GDP trong đó ngành dệt may giữ vai trò
nòng cốt nhằm khai thác lợi thế hội nhập WTO và có tốc độ tăng trưởng sản
xuất hàng năm cao, đạt 6%.

nước. Đứng trước sự cạnh tranh gay gắt của nhiều đơn vị may mặc xuất khẩu
đã có nhiều thâm niên, kinh nghiệm và uy tín trên thị trường, Xí nghiệp vẫn
đứng vững và ngày càng phát triển, mở rộng được thị trường. Sản phẩm của
14
Xí nghiệp đã được xuất khẩu sang nhiều nước như: Anh, Mỹ, Hà Lan,
Singapo, Đài Loan, Canada, Úc, Malaysia, Indonesia, Hàn Quốc…
Trải qua gần hai chục năm hình thành và phát triển, xí nghiệp là đơn vị
thuộc doanh nghiệp Nhà nước, tự hạch toán không có sự bao cấp như trước
đây. Để tạo chỗ đứng cho mình xí nghiệp đã không ngừng kiện toàn bộ máy
tổ chức, đầu tư mua sắm máy móc thiết bị, nâng cao trình độ chuyên môn
nghiệp vụ cho cán bộ công nhân viên trong xí nghiệp, tăng doanh thu, lợi
nhuận. Hoạt động sản xuất kinh doanh của xí nghiệp không ngừng được mở
rộng về mặt quy mô. Thời kỳ đầu xí nghiệp chỉ có 1 phân xưởng chuyên may
áo Jacket, đến nay xí nghiệp đã có 3 phân xưởng may nhiều loại mặt hàng
khác nhau: quần âu, váy, quần áo trẻ em… Từ chỗ chỉ có 220 công nhân khi
mới thành lập, đến năm 1998 xí nghiệp có 418 công nhân và hiện nay có hơn
700 công nhân đang làm việc tại xí nghiệp.
2.1.2 Cơ cấu tổ chức
2.1.2.1 Sơ đồ tổ chức

2.1.2.2 Chức năng, nhiệm vụ của từng bộ phận

Giám đốc
Giám đốc là người lãnh đạo, chịu trách nhiệm cao nhất trong việc điều
hành hoạt động sản xuất- kinh doanh tại xí nghiệp. Đồng thời Giám đốc là
người trực tiếp phụ trách công tác tổ chức cán bộ và công tác tài chính của xí
nghiệp.

Phó Giám đốc sản xuất
Phó Giám đốc sản xuất là người tham mưu giúp việc cho Giám đốc về
lĩnh vực hoạt động sản xuất- kinh doanh của xí nghiệp, chịu trách nhiệm trong
việc đảm bảo tiến độ sản xuất, kế hoạch cung ứng các yếu tố đầu vào của quá
trình sản xuất

Phòng Tổ chức- hành chính
Phòng tổ chức- hành chính có chức năng tham mưu cho Giám đốc xí
nghiệp trong các mặt công tác tổ chức cán bộ, lao động tiền lương, thanh tra
bảo vệ, thi đua khen thưởng và kỷ luật. Phòng còn tham gia tổ chức các hoạt
động hành chính quản trị để phục vụ cho sản xuất, kinh doanh và đời sống của
cán bộ công nhân viên. Phòng gồm 14 người trong đó có 1 Trưởng phòng phụ
trách, giúp việc cho trưởng phòng có 1 phó phòng. Phòng có các nhiệm vụ cụ
thể sau:
- Nghiên cứu, đề xuất cơ cấu tổ chức bộ máy, sắp xếp cán bộ theo yêu
cầu nhiệm vụ của xí nghiệp, đảm bảo các hoạt động đồng bộ, thông suốt, tinh
gọn.
- Xây dựng kế hoạch tuyển dụng, đào tạo sử dụng lao động, kế hoạch;
kế hoạch lao động tiền lương hàng tháng, quý, năm và tổ chức theo kế hoạch
đã duyệt.
16

trong việc xác định phương hướng sản xuất, kinh doanh trong từng thời kỳ và
điều hành hoạt động sản xuất- kinh doanh trong xí nghiệp. Phòng gồm 18
người trong đó có 1 trưởng phòng, 1 phó phòng, những người còn lại phụ
trách các mảng công việc cụ thể. Với chức năng trên, phòng có các nhiệm vụ
sau:
- Điều tra, nghiên cứu, thu thập thông tin về nhu cầu thị trường, giá cả,
chủng loại hàng hoá, thị hiếu người tiêu dùng trong và ngoài nước.
- Xây dựng kế hoạch sản xuất- kinh doanh, tổng hợp hệ thống kế
hoạch sản xuất- kinh doanh.
- Tổ chức khai thác nguồn hàng sản xuất gia công, xây dựng các hợp
đồng kinh tế, tính toán các phương án sản xuất- kinh doanh đảm bảo đúng
hợp đồng đã ký.
- Làm các thủ tục xuất nhập khẩu cho xí nghiệp và các đơn vị xí
nghiệp nhận uỷ thác.
- Chuẩn bị các điều kiện theo yêu cầu sản xuất, nắm vững năng lực sản
xuất, phương tiện, thiết bị nhà xưởng, lao động vật tư, số lượng sản phẩm, địa
chỉ và thời gian giao hàng trong từng thời kỳ sản xuất.
- Tổ chức các cơ sở gia công theo sự chỉ đạo của Giám đốc.
- Xây dựng kế hoạch tác nghiệp, theo dõi tiến độ thực hiện kế hoạch
và tiêu thụ sản phẩm của từng hợp đồng.
- Xây dựng kế hoạch giá thành sản phẩm, giá bán, giá gia công và các
hàng hoá nguyên phụ liệu.
- Quản lý các kho nguyên phụ liệu, máy móc phụ tùng, nhiên liệu phục
vụ sản xuất và phương tiện vận tải.
- Quản lý và tổ chức vận chuyển hàng hoá theo kế hoạch.

Phòng kỹ thuật- KCS
18
Phòng kỹ thuật có chức năng tham mưu giúp Giám đốc về khâu kỹ
thuật, làm mẫu để tiến hành triển khai các hợp đồng. Phòng gồm 7 người

Phối hợp với phòng kế hoạch cân đối nguyên phụ liệu của khách hàng giao,
bảo đảm vật tư theo các mã hàng.
- Chuẩn bị các mẫu động, mẫu cứng, sơ đồ cắt theo đúng yêu cầu kỹ
thuật để tổ chức sản xuất.
- Xây dựng quy trình công nghệ, tiêu chuẩn kỹ thuật, thiết kế bố trí các
dây chuyền sản xuất phù hợp với từng mã hàng. Xây dựng đơn giá tiền lương,
thanh toán lương cho từng phân xưởng.
- Đề xuất các phương án cải tiến quy trình công nghệ, hợp lý hoá sản
xuất để tổ chức lao động khoa học trong từng phân xưởng.
- Hướng dẫn, kiểm tra kỹ thuật ở các tổ sản xuất của từng phân xưởng,
kiểm hoá sản phẩm nhập kho, chịu trách nhiệm chất lượng hàng hoá đối với
khách hàng.
- Tổ chức đóng gói ở từng phân xưởng theo sự phân công của xí
nghiệp.
- Quản lý máy móc thiết bị và tài sản hàng hoá do xí nghiệp giao, chấp
hành đầy đủ việc bảo toàn, sửa chữa điều chỉnh thiết bị trong phân xưởng.
Xây dựng kế hoạch bảo dưỡng định kỳ, sửa chữa lớn thiết bị để xí nghiệp
duyệt.
- Thực hiện nghiêm túc các quy trình công nghệ, định mức tiêu hao
nguyên, nhiên phụ liệu, phụ tùng máy, định mức lao động và yêu cầu kỹ thuật
của xí nghiệp.
- Nghiêm chỉnh chấp hành các quy định về an toàn lao động, máy móc
thiết bị, công tác phòng cháy chữa cháy, bảo hộ lao động, vệ sinh công
nghiệp.
20
- Rèn luyện tay nghề cho công nhân, phối hợp với các Phòng tổ chức-
hành chính, Phòng kỹ thuật tổ chức thi tuyển lao động giữ bậc, nâng bậc cho
công nhân.

2.2 THỰC TRẠNG SẢN XUẤT VÀ XUẤT KHẨU GIA CÔNG MAY MẶC

SỐ TIỀN
(1.000US
D)
TỶ
TRỌNG
(%)
SỐ TIỀN
(1.000US
D)
TỶ
TRỌNG
(%)
XK UỶ
THÁC
411,3 53,91 2.255,2 59,2 2.408 52,69 1171,4 46,1
GIA
CÔNG
XK
299,1 41,32 1.173,5 30,7 1.707,2 37,35 1.024 40,3
21
XK
TRỰC
TIẾP
51,7 6,79 381,3 10,1 456,8 9,96 345,6 13,6
TỔNG
KIM
NGẠCH
762,1 100 3.810 100 4.572 100 2.541 100

Nguồn: Báo cáo tổng kết xuất khẩu của xí nghiệp

Nhận thấy gia công xuất khẩu là một hoạt động kinh doanh mà Xí
nghiệp có khả năng đảm nhiệm và có thể đem lại nhiều lợi ích. Xí nghiệp
quyết định tiến hành nhận may gia công. Với hình thức này Xí nghiệp là
người trực tiếp ký kết các hợp đồng gia công với phía nước ngoài.
Thực hiện may gia công xuất khẩu, Xí nghiệp không phải lo nhiều về
vốn, kỹ thuật, nguyên vật liệu, thị trường Do đó phương thức gia công xuất
khẩu là một biện pháp quan trọng để giải quyết vấn đề công ăn việc làm cho
nhiều cán bộ công nhân viên của Xí nghiệp. Nó cũng tạo điều kiện phát triển
ngành hàng may mặc của Xí nghiệp, tạo cho Xí nghiệp cơ hội xâm nhập vào
thị trường các nước phát triển, góp phần mở rộng hoạt động kinh doanh của
Xí nghiệp.
Tuy nhiên khác với hình thức xuất khẩu uỷ thác, ở hình thức này, Xí
nghiệp phải chịu nhiều rủi ro hơn, chịu mọi trách nhiệm về chất lượng và giá
cả, sản lượng và thời gian giao hàng. Như mọi doanh nghiệp làm hàng gia
công khác, Xí nghiệp luôn ở trong thế bị động, có được phía nước ngoài thuê
hay không và thường phải chấp nhận sản xuất theo các yêu cầu về kỹ thuật và
mẫu mã mà phía đối tác đưa ra; hơn nữa công việc sản xuất lại phụ thuộc vào
thời gian của hợp đồng gia công.
Mặc dù gia công xuất khẩu được coi là hoạt động sản xuất chính của
Xí nghiệp nhưng số tiền thu được từ hoạt động này lại rất nhỏ, thường chỉ
23
chiếm 30–40% trong tổng kim ngạch xuất khẩu do đó khả năng đổi mới máy
móc, thiết bị, điều kiện làm việc vẫn còn là một vấn đề khó khăn của doanh
nghiệp. Công nhân làm hàng gia công bị mất đi năng lực sáng tạo, chỉ làm
việc một cách thụ động, máy móc theo sự chỉ đạo của bên trên.
Tuy có những hạn chế nhưng gia công xuất khẩu là một hoạt động
tương đối ổn định và là một hình thức kinh doanh cần được tiếp tục duy trì.
Vấn đề đặt ra là qua gia công xuất khẩu Xí nghiệp cần hết sức tận dụng vốn
nước ngoài, tranh thủ học hỏi kinh nghiệm của bạn hàng trong lĩnh vực ngành
nghề. Đây cũng là một lý do quan trọng để Xí nghiệp đạt được mục đích

BẢNG 2: CƠ CẤU THỊ TRƯỜNG GIA CÔNG XUẤT KHẨU

1999 2000 2001 2002
6 tháng đầu
năm 2003
THỊ
TRƯỜNG
Giá trị
(1.000US
D)
Thị
phần
(%)
Giá trị
(1.000US
D)

Thị
phần
(%)
Giá trị
(1.000US
D)

Thị
phần
(%)
Giá trị
(1.000US
D)


1.026 42

MỸ
301,8

31,9

292,5

38,4

572,9

15

307,5 6,7

678

27,7
CHÂU Á
98,9

10,5

42,5

5,6


945,9

100

762,1

100

3.810,
0

100

4.572,
0

100

2.451 100Nguồn: Báo cáo tổng kết xuất khẩu của xí nghiệp

Thị trường EU
EU vốn được coi là cái nôi của ngành may mặc thế giới, chi tiêu cho
may mặc của khu vực thị trường này khá lớn: 6- 10% tiêu dùng cá nhân và là

Trích đoạn BẢNG 2: CƠ CẤU THỊ TRƯỜNG GIA CÔNG XUẤT KHẨU Đặc điểm về cơ cấu sản phẩm gia công may mặc xuất khẩu Ưu điểm và những vấn đề còn tồn tại trong công tác gia công may mặc xuất khẩu ở Xí nghiệp may xuất khẩu Lạc Trung Những mặt tồn tại và nguyên nhân Thực tế phát triển của các doanh nghiệp gia công may mặc xuất khẩu của Việt Nam
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status