BIỆN PHÁP GIÚP ĐỠ HỌC SINH HỌC
“ HỢP TÁC NHÓM” CÓ HIỆU QUẢ
PHẦN THỨ NHẤT : ĐẶT VẤN ĐỀ
- Dựa vào mục tiêu giáo dục đào tạo con người phát triển toán diện trong thời đại
mới, trong công cuộc đổi mới của đất nước. Giáo dục có vai trò quan trọng trong sự phát
triển nhân cấch con người. Cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật đang diến ra như vũ bão
trên toàn thế giới.
- Xuất phát từ nhu cầu của công cuộc đổi mới nền kinh tế của đất nước cần có
những con người có bản lĩnh, có năng lực trong lao động sáng tạo, dám nghĩ dám làm.
- Dựa vào yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học, nâng cao kiến thức năng lực tự
giác cho học sinh ở tất cả các cấp học bậc học.
- Sự mất cân đối của cách giảng dạy cũ, giữa hoạt động dạy và học, giáo viên lên
lớp chủ yếu bằng phương pháp thuyết trình, giảng giải, cách dạy này có đặc biệt .
Giáo viên Học sinh
Hạn chế năng lực
sáng tạo
Thiếu chủ động,
thiếu sáng tạo và
ế
ự
ế- Mục tiêu đào tạo: tạo ra con người biết chủ động sáng tạo tự khám phá sử lý
thông tin, phát hiện khoa học.
+ Quan điểm về người học: Mỗi học sinh có:
Nhu cầu, hứng thú, sở trường, thái độ khác nhau.
Đều có thể đạt trình độ học tập tối thiểu của cấp học.
Chịu trách nhiệm về học tập của bản thân.
Mọi năng lực đều có thể phát triển trong môi trường tốt.
Học cách học quan trọng hơn học cái gì ?
Cách học có hiệu quả nhất là: tự tiếp cận, tự phát hiện, tự chiếm lĩnh.
Mọi giáo viên đều có thể đáp ứng nhu cầu của tất cả học sinh.
Tạo ra môi trường học tập sinh động, bổ ích cho mọi học sinh.
+ Quan điểm đổi mới: Thực hiện mục tiêu giáo dục tiểu học góp phần đào tạo con
người chủ động sáng tạo thích ứng , biết hợp tác.
Thực hiện cá thể hóa dạy học, giạy cho từng cá nhân, những cá thể hóa trong từng
điều kiện tiểu học.
- Phát triển tối đa khả năng, tái năng của mọi cá nhân.
- Xây dựng tốt môi trường học tập.
+ Học tập theo phương thức hợp tác nhóm sẽ khắc phục được những hạn chế
nhiều vấn đề. Ngày nay học hợp tác nhóm đang được áp dụng ngày càng nhiều vào nhà
trường và đã trở thành một trong những phương pháp giáo dục có hiệu quả nhất.
- Học hợp tác nhóm (HTN) không phải là tư tưởng mới. Học hợp tác nhóm xuất
hiện cùng vời quả trình phát triển của nhân loại khi mọi người cần hợp tác với nhau để
tồn tại. Lịch sử loài người đã chỉ ra rằng, những cá nhân có thể tổ chức, phối hợp nỗ lực
mọi thành viên để đạt mục tiêu chống lại kẻ thù chung. Thực tế là con người cần phải hợp
tác, săn bắn, khai thác miền đất mới,…
- Nhiều nhóm nghiên cứu và những nhà thực hành ở Mĩ, Canada và nhiều nước
khác đã quan tâm nghiên cứu và áp dụng phương thức học tập hợp tác vào quá trình dạy
học. Các công trình nghiên cứu ở nhiều nơi đã thu được những kết quả và những thành
công có giá trị.
- Từ những năm 1920 đã có nhiều nghiên cứu về hiệu quả phương pháp học hợp
tác nhóm, phương pháp thi đua, phương pháp nỗ lực cá nhân xoay quanh hiệu quả học
tập của học sinh, phân tích 122 nghiên cứu từ năm 1924 đến 1981 về các phương pháp
giảng dạy cho học sinh ở các độ tuổi khác nhau về các thao tác tư duy như: hình thành
khài niệm, giải quyết vấn đề bằng lời, phân loại, ghi nhớ và học thuộc lòng, các hoạt
đông thực hành, phỏng đoán, xem xét, dự đoán đã chỉ ra rằng hợp tác nhóm có hiệu quả
hơn hẳn so với các phương pháp khác như thi đua và nỗ lực cá nhân vì: 1. Nhiệm vụ học tập của học sinh trong phương pháp học hợp tác nhóm không
khác gì so với nhiệm vụ học tập các phương pháp khác. Các thao tá tư duy như hình
thành khái niệm, giải quyết vấn đề bằng lời, phân loại, ghi nhớ và học thuộc lòng, các
hoạt động thực hành, phỏng đoán - xem xét dự đoán trong phương pháp học hợp tác
nhóm đã phát triển hơn nhiều.
2. Quá trình trao đổi nhóm trong phương pháp học hợp tác nhóm đã làm tăng khả
năng khám phá và phát triển các thao tác tư duy trong quá trình nhận thứ c ở mức độ cao
hơn nhiều so với thao tác tìm nguyên nhân trong phương pháp thi đua.
3. Trong phương pháp học hợp tác nhóm luôn luôn tồn tại những yếu tố sau : mâu
thuẫn giữa các tư tưởng, quan điểm, đưa ra kết luận, cơ sở lý luận và thông tin tiép nhận
được của các thành viên trong nhóm. Giải quyết được những mâu thuẫn trên đã tạo điều
kiện phát triển động cơ học tập như một tiền đề để nâng cao kiến thức, thấu hiểu các khái
chung của toàn bộ nhóm cũng như của mỗi cá nhân.
2. Trong học hợp tác nhóm, trách nhiệm cá nhân của mỗi thành viên cần được rõ
ràng trong việc được giao nhiệm vụ, trong đánh giá sự tiến bộ, và các thành viên trong
nhóm đều được phân tích, biét rõ để có thể giúp đỡ, động viên. Trong phương pháp học
nhóm truyền thồng cá nhân trẻ không được thường xuyên trao đổi theo nhóm và trẻ lại
hay “ cóp” bài của nhau .
3. Trong học hợp tác nhóm, các thành viên trong một nhóm được lựa chọn theo sự
đa dạng về năng lực, tính cách, trong khi đó trong nhóm truyền thống các thành viên
được lựa chọn theo sự đồng nhất.
4. Trong học hợp tác nhóm, tất cả các thành viên đều được lần lượt và có trách
nhiệm làm nhóm trưởng. Trong nhóm truyền thống thấy nhóm trưởng được chọn sẵn.
5. Trong học hợp tác nhóm, trách nhiệm học tập của mỗi thành viên được chia sẻ.
Mỗi thành viên đều có trách nhiệm giúp đỡ, động viên lẫn nhau để hoàn thành nhiệm vụ.
Trong học nhóm truyền thống mỗi cá nhân chỉ chịu trách nhiệm về công việc của mình
trước khi chia sẻ kinh nghiệm động viên lẫn nhau.
6. Trong học hợp tác nhóm, mục tiêu tập trung vào phát triển tối đa năng lực của
mọi thành viên và duy trì quan hệ đầm ấm giữa các thành viên trong nhóm. Trong
phương pháp dạy học truyền thống, học sinh tập trung vào nhiệm vụ cá biệt của mình.
7. Trong học hợp tác nhóm, kỹ năng xã hội cần dạy cho học sinh là tập trung vào
việc cùng nhau hợp tác trong công việc ( kỹ năng làm nhóm trưởng, kĩ năng giao tiếp giải
quyết các mâu thuẫn của nhóm ) trong phương pháp truyền thống những kĩ năng trên
chưa được giải quyết.
8. Khi học hợp tác nhóm được tiến hành, giáo viên quan sát nhóm, phân tích
những vấn đề học thường gặp phải trong lúc học cùng nhau và cho những lời khuyên, chỉ bảo cho nhóm để có thể hoàn thành công việc. Trong nhóm truyền thống, giáo viên hầu
như không để ý tới việc này.
9. Trong hợp tác nhóm, giáo viên cùng học sinh phân tích kết quả học tập đẻ rút ra
các kinh nghiệm cho các hoạt động sau:
Điều đó có thể đạt được qua việc : thiết lập mục tiêu bài dạy chung cho mọi trẻ,
giao nhiệm vụ phù hợp với từng đối tượng, vai trò độc lập của từng trẻ và động viên,
khích lệ đúng lúc. Để cho điều kiện học tập trở thành hợp tác học tập gắn bó cần thiết cho học sinh cảm nhận học sinh hoàn toàn độc lập với các thành viên trong hợp tác học
tập.
2. Hợp tác học tập đòi hổi sự “ Đối mặt “ nhau trong nhóm học sinh.
Sự trao đổi qua lại tích cực giữa các học sinh độc lập trong nhóm là kết quả của
hợp tác nhóm.
3.Trách nhiệm cá nhân của từng cá nhân trong nhóm trong việc học : Mỗi
thành viên trong nhóm được phân công thực hiện 1 vai trò nhất định ( các vai trò được
luân phiên trong các hoạt động học tập khác nhau ) và thể hiện rằng họ không thể dựa
vào công việc của người khác. Do đó hợp tác trong nhóm còn làm cho mỗi thành viên trở
nên mạnh mẽ hơn. Mục tiêu của hợp tác học tập là phát huy tối đa kết quả học tập của
từng thành viên. Phát hiện khả năng học tập của học sinh là điều kiện cần thiết để hỗ trợ
trẻ.
4. Hợp tác học tập đòi hỏi học sinh cần có những kĩ năng giao tiếp và kĩ năng
hoạt động xã hội trong nhóm cần thiết. Để có thể hoạt động cho mục tiêu chung, mỗi
học sinh cần có những kĩ năng :
- Hiểu và hoàn toàn tin tưởng nhau
- Giao tiếp với nhau phù hợp và rõ ràng
- Chấp nhận và ủng hộ lẫn nhau
- Giải quyết các mâu thuẫn trong nhóm trên tinh thần xây dựng để có được kĩ năng này
học sinh cần được luyện tập.
5. Nhận xét nhóm.
Tính hiệu quả của nhóm thường được thể hiện bằng việc nhận xét của nhóm về
các hoạt động của nhóm. Nội dung nhận xét nhóm có thể là những vấn đề cần thiết như
sau :
- Hoạt động của thành viên nào là có lợi cho nhóm.
+ Người báo cáo: có nhiệm vụ thông báo hay truyền đạt lại cho toàn bộ nhóm về
công việc mà các nhóm nhỏ đã thực hiện. Họ có thể thay mặt các nhóm nhỏ yêu cầu sự
giúp đỡ của cả nhóm công việc mà họ đang tiến hành.
+ Người đảm bảo thực hiện: quy định về động não có mục nhắc nhở các thành
viên nhớ những quy định về kỹ năng động não. Đó là tất cả các ý kiến đã được chấp nhận
và đã được ghi chép lại trong quá trình tư duy (suy nghĩ trước khi đọc một vấn đề một
yêu cầu của câu hỏi, bài tập)
+ Người duy trì chuẩn mực: có trách nhiệm nhắc nhở ứng dụng các chuẩn mực
mà nhóm đã đề xuất cho từng nhiệm vụ và mối quan hệ của nhóm. + Người ngắt chuyện: sẽ ra dấu hiệu khi nghe thấy tiếng xì xào và đề nghị những
thành viên đang xì xào cho biét có phải bạn đang thảo luận những vấn đề chung với cả
nhóm không.
+Người quan sát: phải giám sát hành vi của các thành viên trong nhóm trong suốt
quá trình động não và ra dấu hiệu khi thấy thành viên nào lên tiếng quá sớm.
+ Người giữ công bằng: đảm bảo rằng mọi thành viên của nhóm được tham gia
một cách công bằng.
II. NỘI DUNG CỤ THỂ CỦA SÁNG KIẾN:
1. Xuất phát từ cơ sở lý luận về việc giúp đỡ học sinh học hợp tác nhóm tốt hơn.
Xuất phát từ yêu cầu đổi mới nâng cao phương pháp dạy học, nâng cao chất lượng dạy
học.
Thực ra không phải bây giờ chúng ta mới nghiên cứu về vấn đề hợp tác nhóm, càng
không phải bây giờ chúng ta mới sử dụng phương pháp hợp tác nhóm. Mà đã từ lâu có rất
nhiều các nhà nghiên cứu về vấn đề này, và cũng có rất nhiều cơ sở, sử dụng phương
pháp học hợp tác nhóm . Có điều trên lý thuyết thì đúng, nhưng khi triển khai, áp dụng
thì chưa được đồng bộ, chưa được kết quả như mong muốn.
2. Thực tế trường tôi, cùng một số trường trong ngành giáo dục huyện, tỉnh nhà
nói chung, đã thường xuyên áp dụng việc học hợp tác nhóm và bước đầu đạt được một số
kết quả học tập nhất định. Học hợp tác nhóm phát huy được khả năng đánh giá của bản
Tốt nhất giáo viên nên bắt đầu từ nhóm nhỏ hoặc trao đổi đôi một. Khi học sinh đã
có kinh nghiệm, có kỹ năng quyết định sẽ tổ chức nhóm với số lượng cao hơn. Nhưng
đừng bao giờ vượt quá 6. Kinh ghiệm cho thấy, nêu nhóm có số lượng hơn 6, nhiều học
sinh sẽ thụ động, hoặc chỉ tương tác với một hay hai thành vien bên cạnh. Hợp tác nhóm
cần tạo điều kiện cho học sinh được rèn luyện các kỹ năng hợp tác và tham gia vào các
hoạt động với sự thể hiện vai trò quyết định, chịu trách nhiệm với các quyết định đó, để
cùng hưởng vui, buồn với kết quả của mìn, do vậy học sinh cần có thời gian để thích ứng
với các hoạt động nhóm.
- Lựa chọn các thành viên vào một nhóm: khi thành viên vào một nhóm, giáo viên
cần nhắc nhở những vấn đề sau:
+ Nhóm đồng nhất hay đa dạng: nhóm đồng nhất có thể được tổ chức với mục tiêu
cung cấp một vài những kỹ năng đặc biệt đáp ứng mục tiêu chuyên biệt nào đó< Kinh
nghiệm cho thấy nhóm hoạt động có hiệu quả là nhóm có các thành phần với năng lực đa
dạng: trình độ nhận thức cao, trung bình và yếu, đa dạng về thành phần xuất thân, điều
kiện kinh tế, điều kiện môi trường sống. Nói cách khác là các thành viên trong nhóm phải
có cả giỏi, khá, yếu…. Với nhóm như vậy mỗi một vấn đề cần giải quyết sẽ chứa đựng sự
cân nhắc toàn diện hơn. + Nhiệm vụ của toàn bộ các thành viên trong nhóm đã được xác định từ trước hay
chưa được xác định. Nếu tất cả học sinh đã được biết trớc học sinh sẽ phải làm gì? Hợp
tác như thế nào, và với ai hiệu quả của nhóm sẽ cao hơn.
+ Là ai chọn - Học sinh tự chọn hay giáo viên chọn ? Nừu để học sinh tự chọn,
thông thường chúng sẽ chọn những bạn có cùng trình độ nhận thức hoặc bạn khá hơn,
hợp tính hơn, cùng hoàn cảnh kinh tế, nhận thức xã hội…vào nhóm của mình. Như vậy
sẽ là nhóm thuần nhất, hiệu quả hợp tác sẽ không cao. Do vậy, giáo viên cần lựa chọn
nhóm cho các em. Tuy cũng cần cân nhắc ý kiến của các em. Có thể tiến hành như sau:
Chọn 2 em hợp với nhau vào cùng một nhóm bằng cách yêu cầu các em đề tên 3 bạn
mình thích vào nhóm của mình … Từ danh sách 3 học sinh này, giáo viên có thể chọn lấy
2 còn những thành viên khác có thể bổ sung vào sao cho nhóm phải là nhóm đa dạng.
giản, hợp lý và hoạt động cách dễ dàng nhanh chóng.
Cũng như đã nói ở trên, mỗi nhiệm vụ mỗi thành viên đều phải nắm chắc chắn, vì
sẽ đến lượt mình lần lượt giữ một vai trò, sẽ thay đổi cho nhau, tránh mỗi thành viên
đóng vai trò quá lâu.
- Giải thích nhiệm vụ: Người giáo viên là người quan trọng nhất, quyết định đến
vận mạng, trách nhiệm, hiệu quả của học sinh trong việc học nhóm, nên người giáo viên
cần chú ý đến các kỹ năng giao nhiệm vụ:
+ Ngôn ngữ phải rõ ràng, ngắn gọn.
+ Giải thích mục tiêu của bài học và mục tiêu cần đạt cũng như những kiến thức,
kinh nghiệm của học sinh phải vận dụng .
+ Giải thích những khái niệm cần thiết và hướng dẫn trình tự học sinh phải tiến
hành, đưa ra các nhiệm vụ nếu cần.
+ Ra các câu hỏi nhằm kiểm tra học sinh đã hiểu nhiệm vụ chưa trước khi học sinh
tiến hành công việc.
- Tổ chức hợp tác trong nhóm: Cần giải thích nói rõ cho học sinh rằng đánh giá kết
quả theo nhóm, không đánh giá theo cá nhân. Học sinh cần nhận thấy mọi thành viên đều
phải có trách nhiệm đóng góp và có trách nhiệm hoàn thành công việc, mọi thành viên
cần được lĩnh hội kiến thức. Tránh tình trạng học sinh khá làm bài còn học sinh yếu ngồi
ỳ chờ đợi.
Để thực hiện được điều này có kết quả thực sự, người giáo viên có thể thực hiện
được nhiều cách :
* Phần thưởng cho cả nhóm.
* Thu 1 sản phẩm chung, kiểm tra bất kỳ thành viên nào trong nhóm. - Nâng cao sự phụ thuộc tích cực cuả các thành viên trong nhóm. Thông báo với học sinh
mục tiêu chung của cả nhóm để học sinh cần hợp tác chặt chẽ với nhau. Trong học hợp
tác nhóm, mọi học sinh phải hiểu hợp tác để hoàn thành nhiệm vụ và phải chắc chắn rằng
mọi thành viên cùng hoàn thành nhiệm vụ một cách tốt nhất Một số giáo viên thường
sử dụng như sau :
công nếu nỗ lực.
+ Các tiêu chí được đưa ra không chỉ cho từng nhóm mà cho cả lớp. đây là tiền đề
để học sinh có ý thức hợp tác tập thể không chỉ trong nhóm của mình mà cho cả lớp.
Những tiêu chí này học sinh thông tin là chúng đã thực hiện tốt bài tập này chứ không
phải đếm có bao nhiêu học sinh đã làm đúng.
- Những biểu hiện hợp tác:
+ Mỗi thành viên phải được giải thích và hiểu rõ làm thế nào để có câu trả lời
+ Mỗi thành viên phải được chia sẻ tự vận dụng kinh nghiệm, kiến thức đã có vào
lĩnh hội kiến thức, kỹ năng mới.
+ Kiểm tra đã làm rõ mọi thành viên trong nhóm có hiểu rõ nhiệm vụ và đồng ý
với phần bài làm đã xây dựng chưa.
+ Khuyến khích mọi thành viên đều được tham gia, đóng góp giải quyết nhiệm vụ.
+ Khuyến khích mọi thành viên đưa ra lý lẽ, lập luận để có câu trả lời. Học xảy ra
không phải do áp lực của cả nhóm hay ý kiến đa số
+ Không chỉ trích cá nhân cụ thể mà chỉ phân tích ý tưởng, suy nghĩ. Nói cách
khác trong tranh luận không có ai sai ai đúng mà chỉ có các vấn đề hợp lý và chưa hợp lý.
Trong phương pháp học hợp tác nhóm cần phải có những kỹ năng như sau:
+ Kỹ năng giao tiếp và tương tác giữa các học sinh với học sinh
+ Biết trình bày ý kiến một cách rõ ràng
+ Lắng nghe và biết thừa nhận ý kiến người khác
+ Biết ngắt lời một cách hợp lý
+ Biết phản đối một cách lịch sự và đáp lại sự phản đối một cách chân thành
+ Biết thuyết phục người khác và đáp lại sự thuyết phục
+ Kỹ năng hợp tác: Sự ảnh hưởng qua lại, sự gắn bó sôi nổi hào hứng, đoàn kết,
trách nhiệm tự giác.
+ Kỹ năng xây dựng niềm tin trong nhóm ( tránh tự ti mặc cảm bản thân)
+ Kỹ năng giải quyết mâu thuẫn
+ Kỹ năng đưa ra quyết định kịp thời phù hợp
+ Những kỹ năng cần được dạy như một nội dung của bài giảng.
+ Trong quá trình soạn giáo án giáo viên cần xác định rõ
Một số vấn đề liên quan khác như : Tài liệu, mục tiêu, môi trường…
-Thực hiện học hợp tác nhóm ở tất cả các môn, nhưng không phải lúc nào, nội
dung nào cũng thực hiện hợp tác nhóm. Có những môn học hợp tác nhóm ở nội dung này
Các phương pháp học
Ganh đua Độc lập
Hợp tác
Cách xắp xếp trong nhóm
Sự phụ thuộc
tích c
ự
c
Kỹ năng hợp tác nhóm
Trách nhiệm của từng thành
viên
Đánh giá rút kinh nghi
ệ
em và số cặp từ của các em chỉ đạt 6 - 8 từ hoặc cụm từ. Nhưng nếu dùng phiếu bài tập
thì cả lớp tham gia , cũng từng đo thời gian thì học sinh làm được rất nhiều cặp từ, thậm
chí có em làm được đến 20 cặp.
*/ Lớp 3A: 22 học sinh chia thành 5 nhóm. Như đã nói nhiều lần ở trên, việc áp dụng học
hợp tác nhóm có thể áp dụng ở rất nhiều bộ môn , nhưng cũng phải khẳng định rõ ràng là
tùy theo nội dung yêu cầu của từng bài, từng phần mà áp dụng hợp tác nhóm cho hợp lí. Cũng không phải bài nào nên áp dụng thường xuyên ở một phần. Chẳng hạn môn tập đọc
có thể bài này áp dụng ở phần tìm hiểu bài nhưng bài khác lại áp dụng ở phần luyện đọc.
Cái chính là người giáo viên phải khéo léo điều khiển để lớp thực hiện với kết quả tốt.
Ví dụ 1: Bài “Cửa Tùng” Tuần 13 (Tiếng việt 3- tập 1)
Yêu cầu nội dung: Giúp học sinh cảm nhận vẻ đẹp kì diệu của Cửa Tùng một cửa biển ở
miền Trung nước ta. Giáo viên đưa phần hợp tác nhóm vào phần tìm hiểu bài. Sau khi
cho học sinh đọc thầm đoạn 1,2 và trả lời câu hỏi 1,2 (SGK). Giáo viên giới thiệu địa
danh trong bài, gọi học sinh đọc đoạn 3 trao đổi nêu ý kiến. Giáo viên cho hợp tác nhóm
với câu hỏi: Người xưa so sánh bãi biển Cửa Tùng với cái gì? “, nhóm trao đổi 2 bạn,
chọn, thống nhất cách trả lời tốt nhất (dựa vào nội dung của bài trong SGK), học sinh nộp
phiếu trả lời cho giáo viên và như vậy cả lớp đều được trình bày ý kiến của mình. Nếu để
giáo viên gọi từng cá nhân trả lời thì phần hướng dẫn tìm hiểu bài chỉ trong khoảng 10
phút giỏi lắm được 1/4 lớp tham gia.
Ví dụ 2: Luyện từ và câu. Bài: Nhân hóa. Ôn cách đặt và trả lời câu hỏi Như thế
nào ?
Giáo viên gọi học sinh nêu yêu cầu. Giáo viên hướng dẫn thực hiện mẫu, chia
nhóm giao việc. Đại diện nhóm thi đọc kết quả. 100% cả lớp thực hiện xong yêu cầu của
bài. Nếu giáo viên gọi học sinh trả lời chỉ được 5- 10 em trong một thời gian ngắn.
Mỗi một lần kiểm tra phiếu hoặc bài học tôi thường kiểm tra đánh giá thực tiễn,
tổng kết xem nhận thức của học sinh thay đổi có hiệu quả không ?
Thực ra tôi lấy lớp 3A thực nghiệm để áp dụng phương pháp giúp đỡ học sinh học
hợp tác nhóm là muốn so sánh với các lớp của năm trước và để khẳng định chắc chắn