Bài giảng dược học cổ truyền - Học thuyêt ngũ hành - Pdf 98

THUYẾT NGŨ HÀNH
1- ĐẠI CƯƠNG
1.1. Khái niệm
- Ngũ là 5, hành là vận động, đi
- Học thuyết ngũ hành là một học thuyết về mối
quan hệ giữa các sự vật hiện tượng. Đó là mối
quan hệ “động” vì vậy gọi là hành
- Có 2 kiểu quan hệ: tương sinh và tương khắc
do đó mà có 5 vị trí( gọi là ngũ)
2/08

1


- Người xưa qui nạp vật thể thiên nhiên thành 5
loại: kim (kim loại), mộc (gỗ), thủy (nước), hỏa
(lửa), thổ (đất), và gán cho chúng tính chất
riêng:
+ Mộc có tính chất động, khởi đầu (sinh)
+ Hỏa có tính chất nhiệt, phát triển (trưởng)
+ Thổ có tính chất ni dương, sinh sản (hóa)
+ Kim có tính chất thu lại (thu)
+ Thủy có tính chất tàng chứa (tàng)
- Cụ thể hóa, mở rộng phạm vi thuyết âm dương
- Y DHCT vận dụng một cách triệt để.


Méc

Thđy


Sự phân chia này giúp rất nhiều, trong việc chẩn bệnh :
Thí dụ :
Những người liệt nửa bên trái, thường kèm theo đau
nửa đầu, chảy nước mắt ... (những biểu hiện của
Can)... Liệt nửa phải thường kèm theo nói khó khăn,
khó đi cầu (những biểu hiện của Phế, Đại trường)...


1.3. Ngũ hành và sinh lý con người
a) Quan niệm cổ truyền :
+ Can và Hành mộc : Tính của cây gỗ thì cứng
cỏi giống như chức năng của Can là 1 vị
tướng, vì thế, dùng hành Mộc ví với can.
+ Tâm và Hành hỏa : Lửa cháy thì bốc lên, giống
như Tâm bốc lên mặt và lưỡi, vì thế, dùng hành
Hỏa ví với Tâm.
+ Tỳ và Hành thổ : Đất là mẹ đẻ của muôn vật
giống là con người sinh tồn được là nhờ vào
các chất dinh dưỡng do Tỳ vị cung cấp, vì thế,
dùng Hành thổ ví với Tỳ.


+ Phế và Hành kim : Kim loại thường phát ra âm
thanh giống như con người phát ra tiếng nói
nhờ Phế, vì thế, dùng hành Kim ví với Phế.
+ Thận và Hành thủy : Nước có tác dụng đi
xuống, thấm nhuần mọi chỗ giống như nước
uống vào, một phần thấm vào cơ thể, phần
còn lại theo đường tiểu bài tiết ra ngồi, vì vậy
đem hành Thủy ví với Thận.


Thí dụ : Cũng bệnh về Tỳ.
- Hỏa của Tỳ vượng gây nôn ra máu.
- Mộc của Tỳ vượng gây co thắt bao tử.
- Thủy của Tỳ suy gây tiêu chảy.
Nếu chỉ quy Tỳ vào hành Thổ thì khó có thể
giải thích được các dấu hiệu gây bệnh do
Mộc và Thủy... của Tỳ đã gây ra
Như vậy, nếu xét một cách rộng hơn thì :
Mỗi tạng phủ đều có Ngũ hành chi phối.


2- NỘI DUNG:
2.1- TRONG ĐIỀU KIỆN BÌNH THƯỜNG
(sinh lý)
a-Tương sinh ( sinh hàm ý nuôi dưỡng, giúp
đỡ)
- Các hành thúc đẩy, giúp đỡ, tạo điều kiện cho
nhau phát triển
- Nguyên tắc tạng đứng trước (mẹ) sinh ra tạng
đứng sau (con)
- Mộc -> Hỏa -> Thổ -> Kim -> Thủy -> Mộc
2/08

11


Méc

Thđy

2.2- TRONG ĐIỀU KIỆN KHƠNG BÌNH
THƯỜNG (bệnh lý)
a.Tương thừa ( thừa thế lấn át)
- Hành đi khắc, khắc quá mạnh, gây bệnh
cho hành bị khắc.
- Kim > mộc > thổ > thủy > hỏa
> kim)
Ví dụ: giận dữ quá độ (can mộc thái quá)
gây loét dạ dày (vị thổ bị tổn hại)

2/08

14


Méc

Háa

Thđy

Kim
2/08

Tương thừa

Th





2/08

18


Méc
Kim

Thỉ

Thđy

Háa

Thđy

Háa
Méc
Kim
2/08

Quy luật chế hóa

Thỉ
19


3- VẬN DỤNG HỌC THUYẾT NGŨ HÀNH
3.1- vận dụng vào thiên nhiên

Khí hậu Phong Nhiệt Thấp
2/08

Táo

Đông
Hàn
20


Hiện
tượng Mộc

Hỏa

Ngũ hành
Thổ
Kim

Thủy

Ngũ
Tanh
hương

Khét

Thơm

nồng


tẻ

Nếp

Đậu

Ngũ
cầm





Bị

Ngựa

Lợn

2/08

21


3.2. Vận dụng vào tổ chức công việc, sinh
hoạt hàng ngày
Dựa theo tính chất và các qui luật mà tổ chức
công việc hàng ngày:
- Khởi đầu một ngày, công việc ln có tính chất


Kim

Thủy

Tạng

Can

Tâm

Tỳ

Phế

Thận

Phủ

Đởm

Tiểu
tràng

vị

Đại
tràng

Bàng


Ngũ
quan

Mắt

Lưỡi

Miệng

Ngũ chí
Ngũ âm

Giận
La
hét

Mừng Nghĩ
Cười hát

Bệnh
biến

Co
Hồi
quắp hộp

Chỗ bị
bệnh



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status