Tài liệu Đề tài “Một số giải pháp cho vấn đề huy động và sử dụng vốn có hiệu quả tại Công ty bánh kẹo Hải Hà” - Pdf 98





Đề Tài : Một số giải pháp cho vấn đề huy
động và sử dụng vốn có hiệu quả tại Công
ty bánh kẹo Hải Hà

Xuất phát từ tính cấp thiết đó và qua thời gian nghiên cứu, thực tập tại
Công ty Bánh kẹo Hải Hà, em xin trình bày một số vấn đề về “Một số giải
pháp cho vấn đề huy động và sử dụng vốn có hiệu quả tại Công ty bánh kẹo
Hải Hà” làm Luận văn tốt nghiệp.
Kết cấu của chuyên đề như sau:
- Lời nói đầu
- Phần I: Lý luận chung về huy động và sử dụng vốn sản xuất kinh doanh
trong doanh nghiệp.
- Phần II: Thực trạng nguồn vốn và sử dụng vốn sản xuất kinh doanh ở
Công ty bánh kẹo Hải Hà.
- Phần III: Một số giải pháp để tạo vốn và nâng cao hiệu quả sử dụng
vốn kinh doanh ở Công ty bánh kẹo Hải Hà.
Phần I
LÝ LUẬN CHUNG VỀ HUY ĐỘNG VÀ SỬ DỤNG VỐN SẢN XUẤT
KINH DOANH TRONG DOANH NGHIỆP

I. VỐN VÀ TẦM QUAN TRỌNG CỦA VỐN
1. Khái niệm
Trong nền kinh tế thị trường cũng như trong bất kỳ một hình thái kinh tế
xã hội nào khác, các doanh nghiệp tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh
đều với mục đích là sản xuất ra hàng hoá và dịch vụ để trao đổi với các đơn vị
kinh tế khác nhằm mục đích tối đa hoá lợi nhuận. Nhưng để tiến hành sản
xuất kinh doanh thì cần thiết phải có vốn.
“Vốn kinh doanh là giá trị của các tài sản hiện có của doanh nghiệp được
biểu hiện bằng tiền”. (1)
Dưới giác độ vật chất mà xem xét thì phân thành hai loại vốn là: Vốn
thực (công cụ lao động, đối tượng lao động) và vốn tài chính (tiền giấy, tiền
kim loại, chứng khoán và các giấy tờ có giá trị như tiền). Theo hình thái biểu
hiện chia ra: Vốn hữu hình (công cụ lao động, đối tượng lao động, tiền giấy,
tiền kim loại, chứng khoán ) và vốn vô hình (lợi thế trong kinh doanh, bằng

Qua sơ đồ ta thấy: quá trình vận động của vốn trải qua ba giai đoạn chủ
yếu sau đây:
Giai đoạn một: vốn hoạt động trong phạm vi lưu thông, lúc đầu là vốn
tiền tệ (T) tích luỹ được đem ra thị trường (đó là thị trường các yếu tố đầu
vào) mua hàng hoá bao gồm TLSX và sức lao động. Trong giai đoạn này vốn
thay đổi từ hình thái vốn tiền sang vốn sản xuất.
TLSX
T - H
SLĐ
Giai đoạn hai: Vốn rời khỏi lĩnh vực lưu thông bước vào hoạt động trong
khau sản xuất. Ở đây các yếu tố sản xuất hay còn gọi là các yếu tố hàng hoá
dịch vụ được sản xuất ra trong đó có phần giá trị mới (do giá trị sức lao động
con người tạo ra).
TLSX
H’
SLĐ
Giai đoạn ba: Sau giai đoạn sản xuất tạo ra H’ thì vốn lại trở lại hoạt
động trên lĩnh vực lưu thông dưới hình thái hàng hoá. Kết thúc giai đoạn này
(hàng hoá được tiêu thụ) thì vốn dưới hình thái hàng hoá chuyển thành hình
thái vốn tiền tệ ban đầu nhưng về mặt số lượng có thể là khác nhau.
H’
_______________
T’ (T’  T)
Từ sự phân tích sự vận động của vốn thông qua “vòng tuần hoàn vốn” ta
thấy rằng: tiền có khả năng chuyển hoá thành vốn chỉ khi tiền được đưa vào
quá trình sản xuất kinh doanh thông qua hoạt động đầu tư nhằm mục đích
sinh lời mới được gọi là vốn. Với tư cách đầu tư thì mục đích cuối cùng là tạo
được T’ phải lớn hơn T.
3. Vai trò của vốn kinh doanh
Nhu cầu về vốn xét trên giác độ mỗi doanh nghiệp là điều kiện để duy trì

quá trình sản xuất. Nó quyết định đổi mới kỹ thuật, đổi mới công nghệ sản
xuất, quyết định việc trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật, quyết định việc sử dụng
các thành tựu công nghệ mới, là nhân tố quan trọng bảo đảm tái sản xuất mở
rộng và việc không ngừng nâng cao đời sống cho cán bộ công nhân. Vì vậy
việc sử dụng vốn cố định là một vấn đề quan trọng cả về mặt hiện vật và giá
trị.
Về mặt hiện vật VCĐ bao gồm toàn bộ những TSCĐ đang phát huy tác
dụng trong quá trình sản xuất: nhà xưởng, máy móc, thiết bị, phương tiện vận
tải Vốn cố định tham gia toàn bộ vào quá trình sản xuất kinh doanh. Sau
mỗi chu kỳ sản xuất thì hình thái hiện vật của VCĐ không thay đổi nhưng giá
trị của nó giảm dần và chuyển vào giá trị sản phẩm hàng hoá dưới hình thức
khấu hao.
* Cơ cấu của vốn cố định:
Là tỷ trọng của từng loại VCĐ so với tổng toàn bộ VCĐ của doanh
nghiệp trong một thời kỳ nhất định. Cần lưu ý rằng quan hệ tỷ lệ trong cơ cấu
vốn là một chỉ tiêu động mang tính biện chứng và phụ thuộc nhiều nhan tố
như: khả năng tiêu thụ sản phẩm trên thị trường, khả năng thu hút vốn đầu tư,
phương hướng mục tiêu sản xuất kinh doanh, trình độ tang bị kỹ thuật, quy
mô sản xuất. Việc nghiên cứu cơ cấu vốn cố định có ý nghĩa quan trọng trong
việc huy động và sử dụng vốn. Khi nghiên cứu vốn cố định phải nghiên cứu
trên hai góc độ là: nội dung kế hoạch và quan hệ mỗi bộ phận so với toàn bộ.
Vấn đề đặt ra là phải xây dựng được một cơ cấu hợp lý phù hợp với đặc điểm
kinh tế kỹ thuật của doanh nghiệp và với trình độ phát triển khoa học- kỹ thuật.
Có nhiều cách phân loại, xong chúng ta có thể dựa vào tính chất cụ thể
của nó để phân loại:
- Tài sản cố định dùng cho mục đích kinh doanh gồm:
+ Nhà cửa, vật kiến trúc
+ Máy móc, thiết bị
+ Phương tiện vận tải, thiết bị truyền dẫn
+ Thiết bị, dụng cụ quản lý

tiết kiệm và có hiệu quả vốn lưu động.
Để quản lý và sử dụng có hiệu quả vốn lưu động thì cần thiết phải tiến
hành phân loại vốn khác nhau.
- Căn cứ vào quá trình tuần hoàn và luân chuyển vốn lưu động người ta
chia vốn là ba loại:
+ Vốn dự trữ: là một bộ phận dùng để mua nguyên liệu, phụ tùng thay
thế dự trữ và đưa vào sản xuất.
+ Vốn trong sản xuất: là bộ phận vốn trực tiếp phục vụ cho giai đoạn sản
xuất lưu thông như thành phẩm vốn tiền mặt.
- Căn cứ vào phương pháp xác định vốn người ta chia vốn làm hai loại:
+ Vốn lưu động định mức: là số vốn lưu động cần thiết tối thiểu thường
xuyên trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Bao gồm: vốn
dự trữ, vốn trong sản xuất và thành phẩm, hàng hoá mua ngoài dùng cho tiêu
thụ sản phẩm, vật tư thuê ngoài chế biến.
+ Vốn lưu động không định mức: là số vốn lưu động có thể phát sinh trong
quá trình sản xuất kinh doanh nhưng không có căn cứ để tính định mức được.
- Căn cứ vào nguồn hình thành:
+ Vốn lưu động tự có: là số vốn doanh nghiệp được Nhà nước cấp, vốn
lưu động từ bổ sung lợi nhuận, các khoản phải trả nhưng chưa đến kỳ hạn
+ Vốn lưu động đi vay: đây là nguồn vốn quan trọng mà doanh nghiệp
có thể sử dụng để đáp ứng nhu cầu về vốn lưu động thường xuyên cần thiết
trong kinh doanh. Có thể vay vốn ngân hàng, của các tổ chức tín dụng hoặc có
thể vay vốn của các đơn vị, tổ chức và các cá nhân khác trong và ngoài nước.
Mỗi doanh nghiệp cần xác định cho mình một cơ cấu vốn hợp lý và có
hiệu quả.
II. MỘT SỐ VẤN ĐỀ HUY ĐỘNG VỐN CỦA DOANH NGHIỆP
1. Những vấn đề cơ sở
Để có được vốn hoạt động thì doanh nghiệp phải thực hiện huy động vốn
từ nhiều nguồn khác nhau. Huy động vốn là hoạt động nhằm đáp ứng nhu cầu
về vốn của doanh nghiệp.

coi đây là một nguồn cung ứng vốn bên trong của mình.
- Tích luỹ tái đầu tư: phụ thuộc vào hai nhân tố cụ thể và tổng số lợi
nhuận thu được trong từng thời kỳ kinh doanh và chính sách phân phối lợi
nhuận sau thuế của doanh nghiệp. Đối với doanh nghiệp Nhà nước toàn bộ lợi
nhuận thu được sẽ phải sử dụng cho các khoản.
+ Nộp tiền sử dụng vốn ngân sách nhà nước theo quy định
+ Trả các khoản phải quy định
+ Lập các quỹ đặc biệt
- Điều chỉnh cơ cấu tài sản: Phương thức này tuy không làm tăng tổng số
vốn sản xuất - kinh doanh nhưng lại có tác dụng rất lớn trong việc tăng vốn
cho các hoạt động cần thiết trên cơ sở giảm vốn ở những nơi không cần thiết.
2.2. Phương thức cung ứng từ bên ngoài
* Cung ứng từ ngân sách nhà nước
Với hình thức này doanh nghiệp sẽ nhận được lượng vốn xác định từ
ngân sách nhà nước cấp. Thông thường hình thức này không đòi hỏi nhiều
điều kiện ngặt nghèo đối với doanh nghiệp được cấp vốn như các hình thức
huy động vốn khác. Tuy nhiên, càng ngày hình thức này càng bị thu hẹp cả về
quy mô vốn và phạm vi được cấp. Hiện nay đối tượng được hưởng hình thức
này là các DNNN xác định duy trì để đóng vai trò công cụ điều tiết kinh tế;
các dự án đầu tư ở những lĩnh vực sản xuất hàng hoá công cộng, hoạt động
công ích mà tư nhân không muốn hoặc không có khả năng.
* Gọi hùn vốn qua phát hành cổ phiếu
Là hình thức do doanh nghiệp được cung ứng vốn trực tiếp từ thị trường
chứng khoán, Khi có cầu về vốn và lựa chọn hình thức này, doanh nghiệp tính
toán và phát hành cổ phiếu bán trên thị trường chứng khoán. Đặc trưng cơ bản
là tăng vốn nhưng không tăng nợ của doanh nghiệp bởi lẽ những người sở
hữu cổ phiếu trở thành cổ đông của doanh nghiệp. Vì lẽ đó nhiều nhà quản trị
học coi hình thức này là nguồn cung ứng nội bộ.
Tuy nhiên chỉ có công ty cổ phần, doanh nghiệp nhà nước quy mô lớn
mới được phát hành. Và doanh nghiệp phải có nghĩa vụ công khai hoá thông

diễn ra đồng thời quá trình doanh nghiệp nợ khách hàng tiền và chiếm dụng
tiền của khách hàng. Nếu tiền doanh nghiệp chiếm dụng của khách hàng
nhiều hơn số tiền doanh nghiệp bị chiếm dụng thì số tiền dôi ra sẽ mang bản
chất tín dụng thương mại hay tín dụng nhà cung cấp. Ngoài tín dụng thương
mại còn gồm cả khoản đặt cọc trước của khách hàng.
Đây là một hình thức tín dụng ngắn hạn quan trọng (thường phải thanh
toán trong vòng 30-90 ngày) đặc biệt là đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ,
doanh nghiệp đang trong thời kỳ tăng trưởng.
* Tín dụng thuê mua:
Trong cơ chế thị trường hình thức này được thực hiện giữa một doanh
nghiệp có cầu sử dụng máy móc, thiết bị với một doanh nghiệp thực hiện
chức năng thuê mua diễn ra khá phổ biến. Hình thức này có ưu điểm rất cơ
bản là giúp cho doanh nghiệp sử dụng vốn đúng mục đích, khi nào doanh
nghiệp có cầu về sử dụng máy móc, thiết bị cụ thể mới đặt vấn đề thuê mua.
Doanh nghiệp không chỉ được nhận máy móc thiết bị mà còn được nhận tư vấn
đào tạo.
Tuy nhiên cũng có những hạn chế như: chi phí kinh doanh cho việc sử
dụng máy móc thiết bị cao và hợp đồng tương đối phức tạp.
* Vốn liên doanh, liên kết
Với phương thức này doanh nghiệp liên doanh, liên kết với một hoặc
một số doanh nghiệp khác nhằm tạo vốn cho hoạt động liên doanh nào đó.
- Ưu điểm: với hình thức này doanh nghiệp sẽ có một lượng vốn cần
thiết cho một hoặc một số hoạt động nào đó mà không tăng nọ.
- Nhược điểm: các bên liên doanh cùng tham gia liên doanh và cùng chia
sẽ lợi nhuận thu được.
* Nguồn vốn ODA:
Đối tác mà doanh nghiệp có thể tìm kiếm và nhận được nguồn vốn này
là các chương trình hợp tác của chính phủ, các tổ chức phi chính phủ hoặc các
tổ chức quốc tế khác.
Hình thức cấp vốn ODA có thể là hình thức viện trợ không hoàn lại hoặc

với nước ngoài, do trình độ yếu kém nên bên Việt Nam thường chịu nhiều
thiệt thòi, lượng vốn góp của Việt Nam còn thấp (thường ở mức 30-35%) nên
các quyết định của bên Việt Nam còn thiếu trọng lượng.
Ngoài ra còn có thể huy động từ cán bộ công nhân viên chức của doanh
nghiệp.
- Vốn do cổ phần hoá DNNN mang lại:
Đây là nguồn vốn huy động từ việc DNNN phát hành cổ phiếu. Vốn cổ
phần cổ đông đóng góp thông qua việc mua cổ phiếu do doanh nghiệp phát
hành. Mức lãi của cổ phiếu phụ thuộc vào kết quả sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp (nếu lỗ thì không phải trả).
3.2. Vốn vay:
- Vốn vay ngân hàng:
Ngày 31/5/1997, Ngân hàng trung ương đã có Công văn số 471 về điều
kiện cho các DNNN vay vốn mà không phải thế chấp, bảo lãnh, tín chấp,
không giới hạn theo vốn điều lệ mà căn cứ vào hiệu quả kinh doanh của
doanh nghiệp.
- Vốn vay của các tổ chức tài chính trung gian:
Đây là một nguồn cũng rất quan trọng trong tương lai khi hệ thống thị
trường tài chính chứng khoán nước ta đi vào hoạt động. Đó là:
+ Vay các tổ chức tín dụng.
+ Thuê mua, thuê tài chính, thuê hoạt động
- Phát hành trái phiếu
- Mua bán chịu (chiếm dụng vốn) của các doanh nghiệp khác.
- Vay từ nội bộ công nhân viên.
Trong bất kỳ doanh nghiệp nào cũng có một số quỹ như: qũy đầu tư xây
dựng cơ bản, quỹ pht sản xuất kinh doanh, quỹ dự phòng tài chính, quỹ khen
thưởng, quỹ phúc lợi mà doanh nghiệp có thể huy động tạm thời vào sản
xuất kinh doanh. Doanh nghiệp có thể trả chậm lương cho cán bộ công nhân
viên, nộp thuế chậm lại.
4. Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác huy động vốn của doanh nghiệp

động thanh toán, chi trả.
5. Các chỉ tiêu liên quan đến huy động vốn:
Khi doanh nghiệp thực hiện huy động vốn từ các nguồn thì các chủ tài
chính như ngân hàng, các chủ đầu tư thường cân nhắc và xem xét các chỉ tiêu
về khả năng thanh toán, cơ cấu tài chính và các chỉ tiêu về khả năng sinh lợi
vốn của doanh nghiệp.
- Các chỉ số về khả năng thanh toán:
+ Khả năng thanh toán chung = Error!
Tuỳ thuộc vào từng ngành nghề kinh doanh và từng thời kỳ kinh doanh
song chủ nợ ngắn hạn sẽ tin tưỏng hơn nếu chỉ số này lớn hơn 2.
+ Khả năng thanh toán nhanh = Error!
Nếu chỉ số này  1 có nghĩa là doanh nghiệp không có nguy cơ bị rơi vào
tình trạng vỡ nợ và các chủ nợ ngắn hạn sẽ tin tưởng doanh nghiệp hơn.
+ Khả năng thanh toán tức thời = Error!
- Các chỉ số mắc nợ:
+ Chỉ số mắc nợ chung = Error!
Về mặt lý thuyết chỉ số này nằm trong khoảng > 0 và < 1 nhưng thông
thường nó dao động xung quanh giá trị 0,5. Bởi vì lẽ nó bị tự điều chỉnh từ
hai phía: chủ nợ và con nợ. Nếu chỉ số này càng cao, chủ nợ sẽ rất chặt chẽ
khi quyết định cho vay thêm. Mặt khác về phía con nợ, nếu vay nợ quá nhiều
sẽ bị mất chủ quyền kiểm soát nhiều bên đồng thời bị chia lợi nhuận quá
nhieèu cho sự vay nợ của mình.
+ Hệ số nợ k = Error!
Chỉ số này được sử dụng làm giới hạn ràng buộc cấp tín dụng của ngân
hàng đối với các doanh nghiệp.
+ Hệ số tự chủ tài chính = Error!
Đó là một số chỉ tiêu liên quan đến việc huy động vốn được quan tâm
xem xét bởi cả hai là doanh nghiệp đi vay và chủ cho vay.
III. HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN TRONG CÁC DOANH NGHIỆP
1. Quan niệm chung về hiệu quả

+ Thông tin thu thập để phân tích được lấy từ các báo cáo tài chính, báo
cáo thực hiện kế hoạch, của doanh nghiệp và nguồn thông tin từ bên ngoài
doanh nghiệp như báo cáo về tình hình sử dụng vốn của doanh nghiệp khác
đặc biệt cùng ngành.
+ Xây dựng một hệ thống các chỉ tiêu đánh giá thích hợp.
3. Quản lý vốn cố định và các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng
3.1. Quản lý vốn cố định
* Hao mòn và khấu hao tài sản cố định:
Trong quá trình sử dụng tham gia vào sản xuất, do chịu sự tác động của
nhiều nhân tố khác nhau nên tài sản cố định bị hao mòn hữu hình và hao mòn
vô hình.
- Hao mòn hữu hình: là sự giảm dần về giá trị sử dụng (tức là sự giảm về
chất lượng và sự giảm về tính năng kỹ thuật) và giá trị do chúng được sử dụng
trong sản xuất hoặc do tác động của yếu tố tự nhiên gây ra. Tài sản cố định bị
hao mòn hữu hình trước hết là nó trực tiếp hay gián tiếp tham gia vào quá
trình sản xuất kinh doanh, giá trị hao mòn được chuyển dần vào giá trị sản
phẩm mới được sản xuất ra. Ngoài nguyên nhân chủ yếu trên thì trong khi sử
dụng và không sử dụng tài sản cố định bị hao mòn hữu hình là do tác động
của các yếu tố tự nhiên như độ ẩm, khí hậu, thời tiết
- Hao mòn vô hình của tài sản cố định: là do sự giảm thuần tuý về mặt
giá trị của tài sản cố định do có những tài sản cố định cùng loại nhưng được
sản xuất với giá rẻ hơn hoặc hiện đại hơn.
Như vậy nguyên nhân của hao mòn vô hình là do kỹ thuật ngày càng tiến
bộ, tổ chức sản xuất ngày càng hoàn thiện.
- Khấu hao tài sản cố định:
Trong quá trình sử dụng và bảo quản, tài sản cố định bị hao mòn. Bộ
phận giá trị của tài sản cố định tương ứng với mức hao mòn mà nó được dịch
chuyển dần vào giá thành sản phẩm gọi là khấu hao tài sản cố định. Sau khi
sản phẩm hàng hoá được tiêu thụ, số tiền khấu hao được trích lại và tích luỹ
thành quỹ khấu hao tài sản cố định. Quỹ khấu hao tài sản cố định được coi là

Kế hoạch khấu hao tài sản cố định phản ánh các chỉ tiêu giá trị về tài sản
cố định trong năm kế hoạch, tổng giá trị tài sản cố định ở đầu kỳ, xác định
tổng giá trị tài sản cố định bình quân cần tính khấu hao, mức khấu hao phải
tính trong năm và tình hìnhh phân phối sử dụng quỹ khấu hao.
- Tài sản cố định không phải tính khấu hao cơ bản và khấu hao sửa chữa
lớn (như đất đai).
- Tài sản cố định tăng thêm trong năm kế hoạch: nếu tăng vào một ngày
nào đó của tháng thì tháng sau mới tính khấu hao.
Giá
trị
TSCĐ
tăng
thêm
trong
năm

x

Số
tháng
sẽ sử
dụng
TSCĐ

Giá trị bình quân tài sản;cố định tăng thêm;trong năm kế hoạch=
12
- Tài sản cố định giảm bớt trong năm kế hoạch: nếu giảm trong mộtngày

Tổng giá trị;TSCĐ bình quân;tăng lên trong kỳ
-
Tổng giá trị bình;quân TSCĐ giảm;bớt trong kỳ

Kế hoạch khấu hao tài sản cố định được coi là biện pháp quan trọng để
quản lý vốn cố định.
3.2. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn cố định
Hiệu quả sử dụng vốn cố định = Error!
Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lợi của vốn cố định, cho biết một
đồng vốn cố định bỏ vào sản xuất kinh doanh đem lại bao nhiêu đồng lợi
nhuận. Khả năng sinh lời của vốn cố định càng cao thì hiệu quả sử dụng vốn
cố định càng cao.
4. Quản lý vốn lưu động và các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng
vốn lưu động
4.1. Quản lý vốn lưu động
* Xác định nhu cầu thường xuyên tối thiểu về vốn lưu động của doanh
nghiệp.
Xác định nhu cầu này nhằm mục đích đảm bảo đủ vốn lưu động cần thiết
tối thiểu cho quá trình sản xuất kinh doanh được tiến hành liên tục, tránh ứ
đọng vốn và ngược lại nếu quá ít sẽ gây cho doanh nghiệp nhiều khó khăn tác
động xấu đén hoạt động thu mua vật tư, không đáp ứng được nhu cầu sản xuất
kinh doanh.
- Muốn xác định vốn lưu động định mức kỳ kế hoạch doanh nghiệp phải
lần lượt tính toán vốn lưu động định mức ở từng khâu (dự trữ, sản xuất, lưu
thông) và đối với từng loại nguyên vật liệu (chính, phụ) sau đó tổng hợp lại
vốn lưu động định mức kỳ kế hoạch. Tuy nhiên sử dụng phương pháp này
tương đối phức tạp.
- Phương pháp gián tiếp xác định nhu cầu vốn lưu động: nội dung
phương pháp này dựa vào thống kê kinh nghiệm để xác định nhu cầu vốn,
chia làm 2 trường hợp:

- Tỷ lệ doanh lợi trên vốn lưu động = Error!
Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lời của vốn lưu động cho biết một
đồng vốn lưu động bỏ vào sản xuất kinh doanh đem lại mấy đồng lợi nhuận.
Tỷ lệ này càng cao thì hiệu quả sử dụng vốn lưu động càng cao.
5. Đánh giá hiệu quả sử dụng vốn chung:
- Hiệu quả sử dụng vốn:
H
VSD
=
SXKD
V
D

trong đó:
H
VSD
: hiệu quả sử dụng vốn sản xuất
D : là doanh thu hoặc số lượng sản phẩm tiêu thụ
SXKD
V
: là số dư bình quân vốn sản xuất kinh doanh.
- Tỷ suất lợi nhuận vốn sản xuất kinh doanh:
H
V
= Error! x 100%
6. Phân tích khả năng thanh toán
Theo công thức:
K = Error!
K : là hệ số khả năng thanh toán
Ý nghĩa:


300.900

227.200

108.833

3. Lợi nhuận sau thuế 2.218 519 -869 200
4. Nộp NSNN 10.410 3.860 6.340 1.643
5. Số lao động (người) 1.390 1.596 1.320
6. Thu nhập bình quân (người/tháng) 1,423 0,975 0,94 0,784
Năm 1998 và 1999 thu nhập bình quân đầu người của công ty thấp là
ảnh hưởng của việc n
*******
3. Những đặc điểm chủ yếu ảnh hưởng tới huy động và sử dụng vốn
3.1. Bộ máy tổ chức của công ty
Đặc điểm tổ chức bộ máy quản lý của công ty theo mô hình trực tuyến,
tham mưu do đó có sự thống nhất cao trong công việc, tách biệt rõ ràng các

Trích đoạn Giải quyết nhanh chóng lượng thành phẩm tồn kho nhằm đẩy Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý và chất lượng của độ Tăng cường công tác thu hồi công nợ, chú trọng đặc biệt vào những khách hàng có số nợ lớn.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status