ĐỔI MỚI CUNG ỨNG DICH VỤ CÔNG Ở VIỆT NAM PHẦN I
NHỮNG TIẾN TRIỂN 20 NĂM QUA TRÊN THẾ GIỚI
TRONG QUAN NIỆM VÀ THỰC TIỄN VỀ DỊCH VỤ CÔNG
VÀ CUNG ỨNG DỊCH VỤ CÔNG
I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ QUAN NIỆM VỀ DỊCH VỤ CÔNG
I.1. Khái niệm dịch vụ công
Dịch vụ công (từ tiếng Anh là “public service”) có quan hệ chặt chẽ với
phạm trù hàng hóa công cộng. Theo ý nghĩa kinh tế học, hàng hóa công cộng có một
số đặc tính cơ bản như: 1. là loại hàng hóa mà khi đã được tạo ra thì khó có thể loại
trừ ai ra khỏi việc sử dụng nó; 2. việc tiêu dùng của người này không làm giảm
lượ
ng tiêu dùng của người khác; 3. và không thể vứt bỏ được, tức là ngay khi không
được tiêu dùng thì hàng hóa công cộng vẫn tồn tại. Nói một cách giản đơn, thì
những hàng hóa nào thỏa mãn cả ba đặc tính trên được gọi là hàng hóa công cộng
thuần túy, và những hàng hóa nào không thỏa mãn cả ba đặc tính trên được gọi là
hàng hóa công cộng không thuần túy.
Khái niệm “dịch vụ công” được sử dụng phổ biến rộng rãi ở châu Âu sau
Chiến tranh thế giới lần thứ hai. Theo quan niệm củ
a nhiều nước, dịch vụ công luôn
gắn với vai trò của nhà nước trong việc cung ứng các dịch vụ này.
Từ giác độ chủ thể quản lý nhà nước, các nhà nghiên cứu hành chính cho
rằng dịch vụ công là những hoạt động của cơ quan nhà nước trong việc thực thi
chức năng quản lý hành chính nhà nước và đảm bảo cung ứng các hàng hóa công
cộng phục vụ nhu cầu chung, thiết yếu của xã hội. Cách hiểu này nhấn mạ
nh vai trò
và trách nhiệm của nhà nước đối với những hoạt động cung cấp hàng hóa công
cộng. Cách tiếp cận khác xuất phát từ đối tượng được hưởng hàng hóa công cộng
Hộp 1: Hàng hóa và dịch vụ công cốt lõi và mở rộng
Khu vực công cốt lõi bao gồm các dịch vụ (chủ yếu là hàng hóa và dịch vụ công thuần
túy – pure public goods and services) mà chính phủ là người duy nhất cung cấp và mọi
công dân bắt buộc phải nhận khi có nhu cầu về chúng. Chính phủ cung cấp các loại
dịch vụ này dựa trên cơ sở pháp lý và nguyên tắc quản lý nhà nước cơ bản. Có thể liệt
kê một số dịch vụ đó như: pháp luật, an ninh, quốc phòng, các nguồn phúc lợi xã hội,
môi trường và phòng dịch, cấp giấy sở hữu (tài sản, nhà đất), giấy tờ tùy thân (hộ chiếu,
visa, chứng minh thư), giấy chứng nhận (khai sinh, khai tử, hôn thú), đăng ký thành lập
(doanh nghiệp, hiệp hội, tổ chức)…
Khu vực công mở rộng bao gồm các dịch vụ công (chủ yếu là hàng hóa và dịch vụ công
không thuần khiết- impure) mà người tham gia cung cấp có thể là nhà nước và nhiều tổ
chức khác (tư nhân, các tổ chức xã hội, cộng đồng). Sự cung cấp các loại dịch vụ này
rất linh hoạt, tùy thuộc vào nhu cầu người tiêu dùng, không mang tính độc quyền và có
thể miễn phí hoặc trả phí. Đó là các dịch vụ như: y tế, giáo dục, giao thông đô thị,
thông tin, cơ sở hạ tầng,…
Nguồn: World Bank, World Development Report 1997
Ở Việt Nam, nên tập trung nhiều hơn vào chức năng phục vụ xã hội của nhà
nước, mà không bao gồm các chức năng công quyền, như lập pháp, hành pháp, tư
pháp, ngoại giao, qua đó nhấn mạnh vai trò chủ thể của nhà nước trong việc cung
cấp các dịch vụ cho cộng đồng. Điều quan trọng là chúng ta phải sớm tách hoạt
2
động dịch vụ công (lâu nay gọi là hoạt động sự nghiệp) ra khỏi hoạt động hành
chính công quyền như chủ trương của Chính phủ đã đề ra, nhằm xoá bỏ cơ chế bao
cấp, giảm tải cho bộ máy nhà nước, khai thác mọi nguồn lực tiềm tàng trong xã hội,
và nâng cao chất lượng của dịch vụ công phục vụ người dân. Điều 22 của Luật Tổ
chức chính phủ (2001) quy đị
nh: “Bộ, cơ quan ngang Bộ là cơ quan của Chính phủ
ch vụ cụ thể,… Thí dụ, xét theo tiêu chí chủ thể cung ứng, dịch vụ công
được chia thành ba loại, như sau:
- Dịch vụ công do cơ quan nhà nước trực tiếp cung cấp: Đó là những dịch vụ
công cộng cơ bản do các cơ quan của nhà nước cung cấp. Thí dụ, an ninh, giáo dục
phổ thông, chăm sóc y tế công cộng, bảo trợ xã hội,…
3
-Dịch vụ công do các tổ chức phi chính phủ và khu vực tư nhân cung cấp,
gồm những dịch vụ mà Nhà nước có trách nhiệm cung cấp, nhưng không trực tiếp
thực hiện mà uỷ nhiệm cho tổ chức phi chính phủ và tư nhân thực hiện, dưới sự đôn
đốc, giám sát của nhà nước. Thí dụ, các công trình công cộng do chính phủ gọi thầu
có thể do các công ty tư nhân đấu thầu xây dựng.
- Dịch vụ công do tổ
chức nhà nước, tổ chức phi chính phủ, tổ chức tư nhân
phối hợp thực hiện. Loại hình cung ứng dịch vụ này ngày càng trở nên phổ biến ở
nhiều nước. Như ở Trung quốc, việc thiết lập hệ thống bảo vệ trật tự ở các khu dân
cư là do cơ quan công an, tổ chức dịch vụ khu phố và ủy ban khu phố phối hợp thực
hiệ
n.
Dựa vào tính chất và tác dụng của dịch vụ được cung ứng, có thể chia dịch vụ
công thành các loại như sau:
- Dịch vụ hành chính công: Đây là loại dịch vụ gắn liền với chức năng quản
lý nhà nước nhằm đáp ứng yêu cầu của người dân. Do vậy, cho đến nay, đối tượng
cung ứng duy nhất các dịch vụ công này là cơ quan công quyền hay các cơ quan do
nhà nước thành lập được ủ
y quyền thực hiện cung ứng dịch vụ hành chính công.
Đây là một phần trong chức năng quản lý nhà nước. Để thực hiện chức năng này,
nhà nước phải tiến hành những hoạt động phục vụ trực tiếp như cấp giấy phép, giấy
chứng nhận, đăng ký, công chứng, thị thực, hộ tịch,… (Ở một số nước, dịch vụ hành
chính công được coi là một loạ
không mang lại lợi nhuận, hoặc do tư nhân không đủ quyền lực và vốn để tổ chức
việc cung ứng, thí dụ như các dịch vụ phải đầu tư lớn để xây dựng kết cấu hạ tầng,
dịch vụ tiêm chủng, cứu hỏa, thoát nước,… Đố
i với những loại dịch vụ này, hơn ai
hết nhà nước có khả năng và trách nhiệm cung ứng cho người dân. Bên cạnh đó,
cũng có những loại dịch vụ mà thị trường có thể cung cấp nhưng cung cấp không
đầy đủ, hoặc dễ tạo ra sự bất bình đẳng trong xã hội, làm ảnh hưởng đến lợi ích của
người tiêu dùng nói riêng và toàn thể xã hội nói chung, chẳng hạn như dịch vụ y tế
,
giáo dục, điện, nước sinh hoạt, … Trong trường hợp đó, nhà nước có trách nhiệm
trực tiếp cung ứng hoặc kiểm soát thị trường tư nhân để đáp ứng những quyền lợi cơ
bản của người dân. Tuy nhiên, trên thực tế, nhà nước không phải là tác nhân duy
nhất cung ứng dịch vụ công. Tuỳ theo tính chất và loại hình, dịch vụ công có thể do
các cơ quan nhà nước trực tiếp thực hiệ
n hoặc có thể được chuyển giao cho khu vực
phi nhà nước. Có thể thấy rõ rằng, theo thời gian, vai trò của nhà nước và các tác
nhân khác trong cung ứng dịch vụ công có sự biến đổi đáng kể dẫn đến các dạng
thức cung ứng dịch vụ công khác nhau. Hiện nay, việc cung ứng dịch vụ công ở hầu
hết các nước thông thường được tiến hành theo các hình thức sau:
- Các cơ quan nhà nước trực tiếp cung ứng dịch vụ công. Theo hình th
ức
này, nhà nước chịu trách nhiệm trực tiếp cung ứng dịch vụ công đối với các dịch vụ
liên quan đến an ninh quốc gia và lợi ích chung của đất nước (như quốc phòng, an
ninh, hộ tịch…) mà chỉ có cơ quan công quyền mới có đủ tư cách pháp lý để làm.
Nhà nước với vai trò chủ đạo của mình, cũng trực tiếp cung ứng các loại dịch vụ
thuộc các lĩnh vực và địa bàn không thuận lợi
đầu tư (ví dụ vùng sâu, vùng xa) mà
thị trường không thể hoặc không muốn tham gia do chi phí quá lớn hay không có lợi
nhuận. Các đơn vị sự nghiệp do nhà nước thành lập để cung ứng như các bệnh viện
và trường học công, các cơ sở cung cấp điện nước…hoạt động tương tự các công ty
lợi ích công bằng pháp luật.
+ Mua dịch vụ công từ khu vực tư nhân đối với các dịch vụ mà tư nhân có
thể
làm tốt và giảm được số người làm dịch vụ trong cơ quan nhà nước, như bảo
dưỡng phương tiện phòng cháy, chữa cháy, các phương tiện tin học, đáp ứng nhu
cầu về phương tiện đi lại, làm vệ sinh và công việc phục vụ trong cơ quan…
I.2.3. Các đặc điểm của dịch vụ công
Các loại dịch vụ công và các hình thức cung ứng dịch vụ công tuy có đặc
điểm, tính chất khác nhau, song chúng có nh
ững đặc điểm chung cơ bản như sau:
- Dịch vụ công có tính xã hội, với mục tiêu chính là phục vụ lợi ích cộng đồng
đáp ứng nhu cầu của tất cả công dân, không phân biệt giai cấp, địa vị xã hội và bảo
đảm công bằng và ổn định xã hội, mang tính quần chúng rộng rãi. Mọi người đều có
quyền ngang nhau trong việc tiếp cận các dịch vụ công với tư cách là đối tượng
ph
ục vụ của nhà nước. Từ đó có thể thấy tính kinh tế, lợi nhuận không phải là điều
kiện tiên quyết chi phối hoạt động dịch vụ công.
- Dịch vụ công cung ứng loại “hàng hóa” không phải bình thường mà là hàng
hóa đặc biệt do nhà nước cung ứng hoặc ủy nhiệm cho tổ chức, cá nhân thực hiện,
6
đáp ứng nhu cầu toàn xã hội, bất kể các sản phẩm được tạo ra có hình thái hiện vật
hay phi hiện vật.
- Việc trao đổi dịch vụ công không thông qua quan hệ thị trường đầy đủ.
Thông thường, người sử dụng dịch vụ công không trực tiếp trả tiền, hay đúng hơn là
đã trả tiền dưới hình thức đóng thuế vào ngân sách nhà nước. Cũng có những dịch
vụ công mà người sử
dụng vẫn phải trả một phần hoặc toàn bộ kinh phí; song nhà
nước vẫn có trách nhiệm đảm bảo cung ứng các dịch vụ này không nhằm mục tiêu
lợi nhuận.
tối cần thiết của xã hội, đảm bảo cho xã hội phát triển bền vững và có kỷ cương, trật
tự. Mọi xã hội đều có nh
ững vấn đề chung, liên quan đến cuộc sống của tất cả mọi
người. Đó là các vấn đề như trật tự trị an, phân hóa giàu nghèo, giáo dục, y tế, dân
7
số, môi trường, tài nguyên,… Để giải quyết thành công các vấn đề này, cần có sự
góp sức của cả nhà nước, cộng đồng và các tổ chức xã hội thông qua việc cung ứng
các dịch vụ công. Nếu các dịch vụ công bị ngừng cung cấp hoặc cung cấp không
đầy đủ, chất lượng thấp thì sẽ dẫn đến những rối loạn trong xã hội, ảnh hưởng
nghiêm trọng đến đời sống củ
a mỗi người dân, đồng thời tác động tiêu cực đến sự
phát triển của mỗi quốc gia.
Nhìn chung, dịch vụ công đáp ứng những nhu cầu chung của xã hội về các lĩnh
vực sau đây:
- duy trì trật tự công cộng và an toàn xã hội như quốc phòng, an ninh, ngoại
giao.
- bảo vệ trật tự kinh tế, trật tự mua bán trên thị trường thông qua việc xây
dựng và thực thi thể chế kinh tế thị
trường.
- cung cấp các tiện ích công cộng cho toàn thể thành viên trong xã hội như
bảo vệ sức khỏe, giáo dục đào tạo, giao thông công cộng, thông tin, thư viện
công cộng
- quản lý tài nguyên và tài sản công cộng như: quản lý tài sản nhà nước, bảo vệ
môi trường, tài nguyên thiên nhiên.
- bảo vệ quyền công dân, quyền con người.
Đề cập sâu hơn tới tác dụng của việc cung ứng dịch vụ công, chúng ta có thể
lấy thí dụ trong l
ĩnh vực hành chính công. Hành chính công có liên quan đến mức
độ thoả mãn các nhu cầu công cộng của xã hội, liên quan đến tiến bộ kinh tế, xã hội
cá nhân khác là một lá chắn bảo vệ an toàn cho cuộc sống của mỗi người dân. Với
việc nhà nước bảo đảm sự công bằng, bình đẳng cho công dân, nhất là nhóm dân cư
dễ bị
tổn thương, trong việc tiếp cận và hưởng thụ các dịch vụ công thiết yếu liên
quan trực tiếp tới đời sống như y tế, giáo dục, an sinh xã hội…, người dân được
hưởng các quyền sống cơ bản của mình, trên cơ sở đó học tập, làm việc nâng cao
mức sống của bản thân và đóng góp nhiều hơn cho xã hội. Như vậy, dịch vụ công có
tác dụng cực k
ỳ to lớn đối với sự phát triển của đất nước và từng người dân, và là
yếu tố quan trọng góp phần ổn định xã hội.
I.3.2. Vai trò quản lý và điều tiết của nhà nước đối với cung ứng dịch vụ công
Chúng ta đều biết rằng, nhà nước của bất kỳ chế độ nào cũng bao gồm hai
chức năng cơ bản: chức năng quản lý (hay còn gọi là chứ
c năng cai trị) và chức
năng phục vụ (hay còn gọi là chức năng cung cấp dịch vụ cho xã hội). Hai chức
năng này thâm nhập vào nhau, trong đó chức năng phục vụ là chủ yếu, chức năng
quản lý xét đến cùng cũng nhằm phục vụ. Với chức năng phục vụ, như đã phân tích
ở các phần trên, nhà nước có trách nhiệm cung ứng các dịch vụ công thiết yếu cho
xã hội. Bên c
ạnh đó, với chức năng quản lý, nhà nước phải thực hiện vai trò quản lý
và điều tiết xã hội nói chung, trong đó có vấn đề dịch vụ công. Nhà nước bằng
quyền lực của mình, thông qua các công cụ quản lý vĩ mô như pháp luật, quy hoạch,
kế hoạch, chính sách, để quản lý và điều tiết hoạt động cung ứng dịch vụ công, qua
đó làm tăng hiệu quả cung ứng dịch v
ụ công trong toàn xã hội.
- Nhà nước hỗ trợ, khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi để các tổ chức phi chính
phủ, các tổ chức tự quản của cộng đồng tham gia cung ứng dịch vụ công
Vai trò này vượt ra khỏi phạm vi quản lý nhà nước thuần túy, xuất phát từ
việc xác định trách nhiệm cao nhất và đến cùng của nhà nước trong lĩnh vực dịch vụ
công không có nghĩa là nhà nước phải tr
II. ĐỔI MỚI CUNG ỨNG DỊCH VỤ CÔNG
II.1. Những chuyển biến trong chủ trương của nhà nước về cung ứng dịch vụ
công
Ở nhiều nước trên thế giới, khu vực nhà nước đã từng nắm độc quyền trong
lĩnh vực cung ứng dịch vụ công và nhìn chung chất lượng cung ứng là vấn đề gây
nhiều bức xúc. Những thập kỷ qua đã chứng kiến việc nhà nước trực tiếp tiến hành
quá nhiều hoạt
động, trong đó có hoạt động cung ứng dịch vụ công, mà lẽ ra có thể
chuyển giao ở một mức độ nhất định cho thị trường và xã hội dân sự đảm nhiệm.
Kinh nghiệm từ các nước phát triển cho thấy một chính phủ ôm đồm quá mức sẽ
không đưa đến một xã hội phát triển. Do vậy, một trong những mục tiêu cải cách đã
được các nhà nước xác định rõ là chuyển một phần khá l
ớn chức năng quản lý xã
hội của chính phủ sang cho các tác nhân khác, và xã hội hóa dịch vụ công là một xu
thế lớn trong trào lưu cải cách nhà nước hiện nay ở phần lớn các nước trên thế giới.
Nhà nước vẫn giữ vai trò quan trọng nhất trong đảm bảo cung cấp dịch vụ công,
nhưng không nhất thiết phải là người trực tiếp cung cấp tất cả các dịch vụ đó. Vai
trò của nhà nước c
ần thể hiện rõ hơn trong đẩy mạnh quản lý cung ứng dịch vụ công
bằng luật pháp, chính sách và các biện pháp mang tính hỗ trợ, kích thích. Các nhà
nước tiên tiến hiện nay đang tìm cách sử dụng tối đa cơ chế thị trường trong lĩnh
10
vực cung cấp dịch vụ công. Phần lớn dịch vụ công được toàn xã hội tiến hành, nhà
nước chỉ giữ lại những dịch vụ cần thiết nhất theo hướng “nhà nước nhỏ như cần
thiết, xã hội lớn như có thể”.
Hộp 2: Những biến chuyển trong chủ trương cung ứng dịch vụ công của
Chính phủ Anh
Để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng cao của người dân, và trước áp lực của
Liên minh Châu Âu, Chính phủ Anh đang tập trung chú ý vào việc nâng cao chất
11
và cho các cơ quan chính quyền địa phương trong cung cấp dịch vụ công. Theo đó,
chính quyền địa phương phải chịu trách nhiệm một phần đáng kể chi phí cho việc
cung ứng các dịch vụ công như giáo dục, các dịch vụ xã hội, chăm sóc người tàn tật
và giao thông công cộng.
- Tạo điều kiện cho các cơ sở cung ứng dịch vụ như y tế, giáo dục có khả
năng trả thêm lương cho công chức; thực hiện nguyên tắc khuyến khích tính năng
động và tự chủ của các cơ sở. Từ năm 1998 gần một nửa giáo viên phổ thông được
tăng 25% lương do gắn với kết quả giảng dạy, lương cho y tá mới nâng cao trình độ
tăng1/3, các bệnh viện công đang thử nghiệm trả lương gắn với kết quả hoạt động.
Theo dự kiến bệnh viện sẽ trả thêm 6000 bảng/năm cho mỗi nhân viên nếu hoàn
thành nhiệm vụ.
- Thực hiện nguyên tắc mở rộng khả năng lựa chọn cho khách hàng, đảm bảo
cho người dân có quyền lựa chọn và yêu cầu chất lượng dịch vụ cao hơn không chỉ
từ khu vực tư nhân mà cả từ khu vực công. Ví dụ như việc chọn trường học cho trẻ
em, bệnh viện điều trị khi ốm đau, hoặc hệ thống cung cấp nước sạch tốt hơn và rẻ
hơn. Từ tháng 7/2002, bệnh nhân đợi mổ tim nếu quá 6 tháng sẽ được giới thiệu đến
mổ ở một bệnh viện khác tránh tình trạng đợi quá lâu.
Nguồn: Theo Báo cáo của Đoàn Công tác Bộ Nội vụ khảo sát, nghiên cứu hành
chính công, dịch vụ công ở Anh, 2004
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến sự thay đổi nhận thức từ phía các cơ quan công
quyền và từ chính những người dân về sự cần thiết phải có sự chuyển biến trong
cung ứng dịch vụ công. Đó là, thứ nhất, cùng với sự phát triển ngày càng mạnh mẽ
của khu vực tư nhân về phương diện kinh tế, những thành tựu khoa học công nghệ
đã làm cho khu vực tư nhân có thể ti
ếp nhận một số dịch vụ trước đây chỉ thuộc về
nhà nước. Thí dụ, kỹ thuật truyền hình cáp phát triển cho phép nắm được thời gian
sử dụng của từng máy thu hình, hoặc qua thiết bị tự ghi có thể đo chính xác lượng
nước đều đảm nhận vai trò to lớn trong cung
ứng dịch vụ y tế vì đây là một loại
hàng hóa công cộng rất đặc biệt, song nhà nước không thể là người cung ứng duy
nhất các dịch vụ này do mức độ chi phí lớn của nó. Theo một tài liệu khảo sát, chi
tiêu cho chăm sóc y tế trong GDP nói chung đã tăng lên đáng kể trong giai đoạn từ
1965 đến 1983 với mức tăng ít nhất là 50%, trong đó có năm nước đạt mức tăng trên
70%. Với mức tăng nh
ư vậy, ngân sách nhà nước khó mà chịu nổi và sự tham gia
của khu vực tư nhân là tất yếu. Ở Mỹ, tỷ lệ chi của nhà nước trong tổng chi tiêu
chăm sóc sức khỏe đạt khoảng 40% mỗi năm kể từ 1974 đến nay
3
. Phần chi còn lại
đến từ các nguồn kinh phí của tư nhân, các tổ chức xã hội hoặc tiền bảo hiểm.
Để thực thi có hiệu quả các chức năng của nhà nước, các cơ quan công quyền
phải linh hoạt, mềm dẻo để thích ứng với các điều kiện phức tạp và thay đổi nhanh.
Kinh nghiệm từ nhiều nước cho thấy, nếu nhà nước tự thân thực thi toàn bộ các
chức nă
ng của mình mà bỏ qua các nhân tố thị trường và xã hội thì sẽ dẫn tới một
nhà nước yếu và một xã hội kém phát triển. Cũng vậy, trong lĩnh vực cung ứng dịch
vụ công, nếu nhà nước chỉ sử dụng bộ máy của mình để cung ứng dịch vụ thì chắc
chắn sẽ dẫn tới những bất cập cả về khối lượng và chất lượng cung ứng. Do đ
ó,
cùng với việc phải đổi mới hiệu quả cung ứng dịch vụ công ngay trong khu vực nhà
nước, điều quan trọng là nhà nước phải chuyển giao các loại dịch vụ công mà xã hội
có thể đảm nhiệm đi đôi với việc kiểm tra, giám sát nhằm đảm bảo chất lượng và
hiệu quả cung ứng dịch vụ công.
Hộp 3: Các hình thức chuyển giao dịch vụ công trên thế giới
1- Nhà nước bán một phần hoặc toàn bộ tài sản của doanh nghiệp nhà nước cung
ứng dịch vụ công cho tư nhân hoặc một tập thể;
trên khắp thế giới, việc cung ứng dịch vụ công lại được chuyển từng phần thích hợp
cho khu vực phi nhà nước, và đang trở thành một xu thế phát triển. Thực tế cho
thấy, khu vực phi nhà nước đã ngày càng thâm nhập vào các hoạt động cung ứng
dịch vụ công, chẳng hạn như trong lĩnh vực làm sạch môi trường, cung cấp điệ
n,
nước,… Ngay cả ở những lĩnh vực mà theo truyền thống chỉ do nhà nước quản lý và
thực hiện, thì nay cũng trở thành địa bàn hoạt động của khu vực tư nhân. Ở Mỹ hiện
nay, nhiều nhà tù tại các bang đã được giao cho khu vực tư nhân quản lý, nhiều loại
dịch vụ cảnh sát đã được giao cho các công ty tư nhân đảm nhiệm. Ngoài ra, khu
vực tư nhân cũng được phép tham gia cung ứng dịch vụ
giáo dục và y tế, là loại dịch
vụ mà nhà nước giữ vai trò cơ bản vì chúng liên quan trực tiếp đến mục tiêu phát
triển của mỗi quốc gia. Ở phần lớn các nước trên thế giới tồn tại song song hai hệ
thống giáo dục công lập và giáo dục dân lập. Sự phát triển hệ thống trường tư thục
đã tạo điều kiện cạnh tranh về chất lượng giảng dạ
y giữa hai hệ thống. Tất nhiên,
các trường tư phải chịu sự quản lý của nhà nước về nội dung giảng dạy, bảo đảm
theo một chương trình chuẩn, thống nhất. Việc chuyển dần mô hình trường công
lập sống nhờ bao cấp nhà nước với sức ỳ quán tính sang định chế hội đồng quản trị
tư doanh đã thúc đẩy tính năng động, sáng tạo và cạnh tranh c
ủa các cơ sở giáo dục. 14
Hộp 4: “Thị trường hóa” giáo dục ở Anh
Theo sách trắng của Chính phủ Anh, việc cải cách giáo dục nước này bao gồm
việc tiến đến “thị trường hoá” giáo dục ở từng địa phương. Qua mô hình này, các
. Theo một nghiên cứu của Ngân
hàng thế giới, ở Braxin, việc ký hợp đồng với các chủ đầu tư tư nhân về bảo dưỡng
4
David Osborne, Ted Gaebler, Đổi mới hoạt động của chính phủ H. NXB Chính trị quốc
gia, 1997
15
đường sá đã tiết kiệm được 25% chi phí so với việc sử dụng các công ty nhà nước.
Cũng vậy, bằng cách áp dụng cơ chế cạnh tranh vào việc sản xuất và cung ứng dịch
vụ công, nhà nước tạo ra môi trường ganh đua tích cực giữa khu vực công và tư.
Chẳng hạn, với việc cho phép các công ty tư nhân tham gia tổ chức cung ứng dịch
vụ vận tải nội địa, Chính phủ Niu Dilân đã tạo ra đượ
c sự cạnh tranh giữa các tổ
chức cung ứng dịch vụ vận tải, qua đó nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng, làm
giảm cước phí vận chuyển. Ngay cả ở các nhà nước phúc lợi như Đan Mạch, Phần
Lan và Thụy Điển, hiện nay, việc thúc đẩy cạnh tranh giữa khu vực công và tư đang
là một tiêu điểm của các nhà hoạch định chính sách. Ở Đan Mạch, hầu h
ết các dịch
vụ xã hội là do nhà nước cung cấp, được tài trợ thông qua hệ thống thuế với mức
thuế thu nhập cá nhân rất cao, song nước này chỉ đạt chỉ số cạnh tranh về sản xuất
dịch vụ công ở dưới mức trung bình. Vì vậy, từ năm 2002, mục tiêu tăng cạnh tranh,
tăng hiệu quả, chất lượng, đổi mới và tăng sự lựa chọn đối vớ
i dịch vụ công đã trở
thành mối quan tâm của chính phủ Đan Mạch. Chính phủ đã có sáng kiến về tăng
cạnh tranh và khuyến khích quan hệ hợp tác công- tư. Điều này cũng được thể hiện
rõ trong trường hợp Phần Lan. Là một nhà nước phúc lợi, song Phần Lan là nước có
truyền thống duy trì hệ thống bệnh viện tư từ nhiều thập kỷ. Sự tồn tại của h
ệ thống
bệnh viện tư một mặt gây sức ép về nâng cao chất lượng y tế tại các cơ sở công, mặt
- Là cánh tay nối dài của nhà nước nhằm phát huy sức mạnh của cá nhân, của
cả cộng đồng xã hội để tăng thêm ngu
ồn lực đáp ứng các yêu cầu của xã hội về các
dịch vụ công;
- Là một trong những chức năng cơ bản của tổ chức dân sự trong hoạt động
vận động quần chúng và gắn bó với lợi ích cơ bản của người dân, là cầu nối giữa
nhà nước và nhân dân trong cung cấp dịch vụ công;
- Thực hiện vai trò đại diện và bảo vệ lợi ích của người h
ưởng thụ dịch vụ
công, đảm bảo công bằng và đúng với chính sách của nhà nước;
- Tham gia bổ sung, hoàn thiện chính sách của nhà nước trong lĩnh vực dịch
vụ công đáp ứng yêu cầu phát triển của xã hội và phù hợp với khả năng của nền
kinh tế.
Thực tế cho thấy ngày càng nhiều hoạt động cung ứng dịch vụ công được mở
rộng cho nhiều nhóm lợi ích trong xã hội có khả
năng cung ứng. Đó là các hiệp hội
nghề nghiệp, các nhóm cộng đồng, các hợp tác xã, các hội từ thiện, các tổ chức của
phụ nữ, thanh niên, và các tổ chức phi chính phủ khác,… Các tổ chức này đã tham
gia tích cực vào việc cung ứng dịch vụ trực tiếp cho các cá nhân và cộng đồng, từ
dịch vụ y tế, giáo dục cho tới những dịch vụ cho vay tín dụng nhỏ, hoặc đào tạo
hướ
ng nghiệp. Ở các nước phát triển và đang phát triển, nhiều tổ chức xã hội hoạt
động song song với những cơ quan cung ứng dịch vụ công của nhà nước. Ví dụ, một
số nước đã giao cho các nhóm cộng đồng tự quản xây dựng và khai thác các công
trình phúc lợi xã hội trong địa phận sinh sống của họ. Ở một số nước khác, chính
phủ lại ủy quyền cho các hiệp hội nghề nghiệ
p cấp giấy phép hành nghề, điều hành
và kiểm soát các hội viên. Nhiều bằng chứng cho thấy các tổ chức như vậy thường
có nhiều lợi thế khi thực hiện cung ứng dịch vụ công vì họ có cơ chế hoạt động rất
linh hoạt và gần gũi hơn với người dân.
điều tiết và bảo hộ để thị trường và xã hội cung ứng các dịch vụ đó một cách thuận
lợi.
II.3. Cải thiện chất lượng cung ứng dịch vụ công trong khu vực nhà nước
Cho dù khu vực tư nhân và các tổ chức xã hội ngày càng tham gia nhiều hơn
vào cung ứng dịch vụ
công, song khu vực nhà nước vẫn tất yếu là người cung ứng
một số lớn dịch vụ. Chính vì vậy, trong đổi mới cung ứng dịch vụ công, việc cải
thiện chất lượng cung ứng dịch vụ ở ngay chính khu vực nhà nước là hết sức quan
trọng. Bên cạnh chức năng quản lý nhà nước, chức năng phục vụ của nhà nước
nhằm cung cấp những dị
ch vụ cần thiết cho người dân để họ thực hiện tốt quyền lợi
và nghĩa vụ của mình giờ đây cần được chú trọng hơn bao giờ hết.
Nâng cao chất lượng cung ứng dịch vụ công không phải là một vấn đề mới
mẻ. Ngay từ giữa những năm 80 của thế kỷ trước, Pháp đã đưa ra các chu trình chất
lượng thử nghiệm trong các cơ quan nhà n
ước. Trước yêu cầu của người dân hiện đã
trở thành “người tiêu dùng đòi hỏi cao”, vấn đề chất lượng trong cung ứng dịch vụ
công của nhà nước ngày càng trở nên cấp bách. Nguyên tắc chất lượng trong cung
ứng dịch vụ công của các cơ quan nhà nước đã chính thức được đề cập tới trong
Hiến chương dịch vụ công của Pháp ngày 18 tháng 3 năm 1992 và văn bản ngày
26/7/1996 về cải cách Nhà nước Pháp. Hiế
n chương đưa ra một loạt các biện pháp
nhằm đảm bảo cung ứng dịch vụ thiết yếu như trường học, bệnh viện, cảnh sát, bưu
điện cho những nơi xa xôi. Điều quan trọng là Hiến chương đã yêu cầu các cơ quan
xây dựng chỉ số hiệu suất và chú trọng sự hợp tác giữa cơ quan nhà nước cung cấp
18
dịch vụ và người sử dụng. Theo đó mỗi cơ quan nhà nước phải “cố gắng làm cho
người dân biết rõ mục tiêu của mình, điều chỉnh các chỉ số chất lượng theo nhu cầu
của người sử dụng dịch vụ”.
dục, y tế cũng như các công trình công cộng, nông nghiệp, bảo vệ môi trường, phát
triển vùng và trợ giúp xã hội.
- Anh: việc phân cấp thẩm quyền và trách nhiệm giữa chính phủ và chính quyền địa
phương ở Anh trong việc quản lý dịch vụ công khá rõ ràng, rành mạch, trong đó
chính phủ tập trung đề ra chiến lược, chính sách, tiêu chuẩn chất lượng dịch vụ và
phân bổ ngân sách, thực hiện kiểm toán, còn chính quyền địa phương thực hiện ký
kết hợp đồng với các công ty tư nhân và giám sát, kiểm tra việc thực hiện.
19
- Thuỵ Điển: Có sự phân cấp rõ những dịch vụ công mà từng cấp chính quyền phải
đảm nhiệm, trong đó đặc biệt chú ý các dịch vụ công về phúc lợi công cộng hoàn
toàn miễn phí (như bảo hiểm thất nghiệp, trợ cấp xã hội,…).
Nguồn: Phục vụ và duy trì: cải thiện hành chính công trong một thế giới
cạnh tranh/ Ngân hàng phát triển châu Á H. CTQG, 2003; và các nguồn khác.
Về cải thiện chất lượng cung ứng dịch vụ công trong khu vực nhà nước, vấn
đề kiểm soát tài chính và quản lý đóng một vai trò quan trọng. Trong nhiều trường
hợp, do rất khó đo lường những sản phẩm đầu ra của khu vực nhà nước, nên cần có
chế độ kiểm tra tài chính và đặt chế độ chịu trách nhiệm cá nhân, nhằm buộc cán bộ
quản lý phải làm việc hết mình để tránh tình trạng sử
dụng không hiệu quả các
nguồn lực công cộng và nhằm cải thiện việc cung ứng dịch vụ. Khảo sát nhiều nước
cho thấy một phần đáng kể công quỹ quốc gia được phân bổ cho các dịch vụ xã hội
cơ bản đã không đến được các bệnh viện và trường học như dự kiến, nhất là ở các
vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa
5
. Với tình trạng như vậy, cho dù nhà nước có
dành một phần ngân sách rất lớn cho cung ứng dịch vụ công, thì hiệu quả cũng rất
thấp. Điều đó dẫn đến sự méo mó trong bức tranh cung ứng dịch vụ công, vì nhà
nước đã đầu tư rất nhiều vào hoạt động này, song hậu quả là người dân không được
hưởng ở mức xứng đáng những phúc lợi đó. Vì vậy, t
Hộp 6: Xây dựng tinh thần tận tụy của nhân viên: chính quyền tốt tại
Bang Ceara của Braxin
Năm 1987, ngoài hoạt động hành chính kém cỏi, chính quyền bang Ceara ở Đông
Bắc Braxin còn phải đối mặt với một cuộc khủng hoảng tài chính gay go. Tuy
nhiên, chỉ trong vòng 4 năm, cuộc khủng hoảng tài chính đã được khắc phục, và
chất lượng của các dịch vụ đã được cải thiện đáng kể. Diện được tiêm chủng văcxin
phòng bệnh sởi và bệnh bại liệt đã tăng gấp ba, từ 25% lên tới 90% tổng số trẻ em.
Chương trình công chính của bang này đã tạo việc làm cho hơn một triệu nông dân
không có việc làm trong thời kỳ hạn hán…
Sự thành công này phần lớn là do công lao của bộ máy viên chức. Bằng việc khen
thưởng cho những người làm việc tốt, công khai xét tuyển nhân viên mới, thi hành
các chương trình định hướng và loan tin trên các phương tiện thông tin đại chúng về
thành công của mình, chính quyền bang đã tạo nên một ý thức mạnh mẽ về sứ mạng
trong các chương trình chủ chốt và những người thực hiện chương trình. Những
viên chức có động cơ tốt đã đảm đương nhiều phần việc hơn bình thường, và nhiều
khi với thái độ tự nguyện. Được trao quyền quyết định rộng hơn, các viên chức
cung ứng được nhiều dịch vụ theo đúng yêu cầu riêng của các khách hàng. Khác
với ở những nơi khác, tuy cho quyền rộng hơn, nhưng cơ hội để làm điều tiêu cực
không tăng vì đã có những áp lực đòi hỏi nhân viên phải chịu trách nhiệm. Nhân
viên muốn làm việc tốt hơn để xứng đáng với niềm tin mới của khách hàng đối với
họ. Và bản thân điều này là kết quả của việc sắp xếp công việc theo hướng phục vụ
đúng các yêu cầu của khách hàng và chính quyền bang công khai tỏ ra tôn trọng
họ….
Những cơ chế này đã tạo ra một vòng luân hồi mà trong đó nhân viên cảm thấy
được quý trọng và thừa nhận, không nhất thiết là bởi cấp trên, mà bởi những khách
hàng của họ và những cộng đồng ở nơi họ làm việc. Và điều này đã củng cố tinh
thần tận tụy của họ đối với công việc.
Nguồn: Ngân hàng Thế giới (1998), Nhà nước trong một thế giới đang chuyển đổi,
cung cấp nước sạch và đáng tin cậy. Những thông tin như vậy ở một mức độ nhất
định đã buộc nhà cung cấp phải xem xét lại chất lượng dịch vụ của mình, điều có th
ể
dẫn tới những thay đổi tích cực trong việc cung cấp nước ở thành phố này. Ở
Singapore, Cục thông tin phản hồi của công chúng tập hợp một cách có hệ thống
những bình luận của công dân về nhiều loại chính sách quốc gia, trong đó có cung
ứng dịch vụ công, và mời những nhóm có quan tâm tới dự những cuộc họp báo cáo
với các bộ trưởng và quan chức cao cấp. Điều này làm tăng tinh thần trách nhiệ
m
của cơ quan nhà nước cung ứng dịch vụ công thông qua việc đòi hỏi các cơ quan
này phải công bố và tuân thủ những định mức và tiêu chuẩn dịch vụ, cung cấp thông
tin công cộng và trả lời khiếu nại của người dân. Ở các thành phố của Mỹ, chính
quyền các thành phố đã thiết lập một cơ chế đồng bộ, động viên công chúng tham
gia vào toàn bộ quá trình quản lý đô thị. Do những ngườ
i có lợi ích liên quan được
tham gia một cách rộng rãi vào quá trình quyết định chính sách, nên quá trình thực
thi chính sách được thực hiện một cách tương đối thuận lợi.
Một lý do nữa khiến cho sự tham gia của cộng đồng vào việc hoạch định
chính sách và đảm bảo chất lượng dịch vụ công trở nên cần thiết; đó là thực tế cho
22
thấy cơ quan cung ứng dịch vụ công của nhà nước không thể dự kiến trước và đáp
ứng được tất cả các dịch vụ công mà người dân muốn có. Việc xuất hiện những biện
pháp thay thế của các tổ chức xã hội và khu vực tư nhân có thể giúp lấp đi những
khoảng trống trong cung ứng dịch vụ công. Do vậy, các tổ chức xã hội có thể vừa là
những cộ
ng sự, đồng thời là những đối thủ cạnh tranh trong cung ứng dịch vụ công.
Và một khi được người dân ủng hộ, các tổ chức này có thể gây áp lực với chính
quyền để cải thiện việc cung ứng và nâng cao chất lượng các dịch vụ công.
Trong cung ứng dịch vụ công, các nhà nước đang tạo ra những cơ chế thuận
6
“Bảo hiểm y tế quốc gia của Đài Loan”/ Hong-jen, Tài liệu trình bày tại Hội nghị quốc tế: Hướng
tới bảo hiểm y tế quốc gia bình đẳng, hiệu quả và chất lượng cao- Đài Loan, 2005
23
PHN II
THC TRNG CUNG NG DCH V CễNG CA
KHU VC NH NC V NHNG YấU CU I MI CUNG NG
DCH V CễNG VIT NAM
I. MT S THNH TU TRONG CUNG NG DCH V CễNG CA NH
NC TA
nc ta, trc thi k i mi, Nhà nớc nắm giữ hầu hết các hoạt động, từ
hoạt động kinh tế đến dịch vụ văn hoá xã hội, từ quản lý hành chính đến giáo dục, y
tế, ngân hàng, bu điện, giao thông vận tải, du lịch Nói chung, Nhà nớc bao
sân tất cả. Mt s hot ng kinh t, xó hi c tin hnh di hỡnh thc tp th,
chu s chi phi ca nh nc. Cũn hot ng ca t nhõn ch tn ti trong mt s
l
nh vc, ch yu l buụn bỏn v dch v nh l, khụng cú iu kin phỏt trin. Nh
nc ó u t khụng nh vo vic xõy dng trng hc, bnh vin, mua trang thit
b v t chc cung cp min phớ nhng dch v ny, ng thi cú nhng chớnh sỏch
v bin phỏp tr giỳp cho ngi nghốo c cung ng dch v cụng, trc ht l
trong hc tp v khỏm cha bnh. H th
gm mt s yu t c bn ca cuc sng con ngi nh tui th, trỡnh vn hoỏ v
thu nhp thc t theo u ngi. Nu nh trong nm 2004, xp hng v GDP bỡnh
quõn u ngi ca Vit Nam ch mc 124, thỡ ch s HDI ca Vit Nam c
xp th
112 trong s gn 200 nc trờn th gii
7
.
Trong lnh vc giỏo dc, vi s u t ca Nh nc v truyn thng hiu
hc ca dõn tc, chỳng ta ó hon thnh vic xoỏ mự ch v ph cp giỏo dc tiu
hc, ang thc hin ph cp trung hc c s v phỏt trin mnh cỏc trng dy
ngh, giỏo dc i hc v chuyờn nghip. S tr em trong tui tng cp hc c
i hc t t l cao. Nm 2005 t l ny cp tiu hc l 97%, trung hc c s l
80%, trung hc ph thụng l 45%. C nc cú 17 triu hc sinh ph thụng, trong ú
48% l hc sinh n. Cỏc trng ph thụng hu ht l cụng lp. Trng ngoi cụng
lp cũn ớt, phn ln bc trung hc ph thụng v tp trung ụ th. Cỏc trng
cụng lp khụng thu hc phớ bc tiu h
c, cỏc bc hc cao hn cú thu hc phớ
nhng kinh phớ u t v hot ng vn da ch yu vo ngõn sỏch nh nc. Trong
lnh vc o to (dy ngh, giỏo dc i hc, cao ng v chuyn nghip), s trng
dõn lp ngy cng tng, nhng t trng cha cao. Nm 2004 cú 1,32 triu sinh viờn
i hc, cao ng, 465 nghỡn hc viờn trung hc chuyờn nghip, trong ú 10,5% hc
cỏc trng ngoi cụng lp. S h
c sinh hc ngh mi tuyn nm 2005 l 1,18 triu
ngi. Sinh viờn, hc sinh nghốo c nh nc tr giỳp thụng qua chớnh sỏch hc
phớ v cho vay di hn; nhiu a phng ó vn ng nhõn dõn lp qu khuyn hc
giỳp cho hc sinh nghốo v khuyn khớch hc sinh gii. Bờn cnh vic khụng
ngng tng t l chi ngõn sỏch cho giỏo dc, ( t 8,6% nm 1985 tng lờn 12,3%
nm 2003) Nh nc ta ó tớch cc vn ng, thu hỳt vn ODA, ti tr ca cỏc t
chc quc t v chớnh ph cỏc nc di hỡnh thc vin tr khụng hon li v cho
vay di hn vi lói sut u ói. u t cho lnh vc giỏo dc nhm thc hin cỏc