Đánh giá hoạt động của ban giám
đốc như thế nào?
Sau hàng loạt những vụ scandal tai tiếng xảy ra tại các tập đoàn khổng lồ như
Enron, WorldCom, Ahold, Parmalat…, các cổ đông, dư luận xã hội, các cơ quan giám
sát lập tức dồn hết sự chú ý vào "bộ sậu" của các tập đoàn này. Đặc biệt, người ta
quan tâm hơn đến vai trò của ban giám đốc trong việc ngăn chặn những tình huống
tương tự có thể xảy ra. Ở đây, chúng tôi muốn nói đến việc tăng tính hiệu quả trong
hoạt động của ban giám đốc trước những quyết định mang tính hệ trọng của doanh
nghiệp. .
Thực tế cho thấy, chuyện nâng hiệu quả làm việc của ban giám đốc quả là vô
cùng khó khăn nếu cơ quan điều hành này không chấp nhận việc họ thường xuyên bị
một cấp nào đó quan sát hay chỉ trích. Hơn nữa, nếu việc phê bình không được thực thi
đều đặn hàng năm, một khi phong cách làm việc không hiệu quả có thể bám rễ sâu hơn
vào tư duy, nếp nghĩ của từng thành viên trong ban giám đốc cũng như các nhânv iên
dưới quyền trong tổ chức, lúc đó việc thay đổi, cải tổ sẽ là không thể.
Ban giám đốc cần phải biết những mặt mạnh, mặt yếu của mình cũng như khả
năng thực thi những thay đổi mang tính xây dựng. Theo đó, hoạt động của ban giám
đốc và từng thành viên trong đó (cũng như bất kỳ một thành tố nào trong hệ thống
quản lý) phải được đánh giá định kỳ và không thiên vị. Ý tưởng này được rút ra từ Báo
cáo về vai trò và tính hiệu quả của hội đồng giám đốc của tác giả Higgs ( Review of
the role and effectiveness of non-executive directors) với kết luận rằng, việc đánh giá
hiệu quả công việc của ban giám đốc phải được tiến hành ít nhất một lần trong một
năm.
Các công ty và cổ đông sẽ nhận được hàng loạt những lợi thế nếu tiến hành việc
đánh giá như vậy ở doanh nghiệp của họ:
- Có thể kịp thời góp ý cho kế hoạch và phương pháp làm việc của ban giám
đốc cũng như mỗi thành viên trong đó (việc này cho phép tạo ra những điều kiện
tương ứng đảm bảo tính hiệu quả trong hoạt động của ban giám đốc);
- Củng cố niềm tin của cổ đông đối với ban giám đốc;
- Tăng tính hấp dẫn trong việc thu hút đầu tư từ phía các cổ đông: bản thân việc
8% ở hai nhóm tương ứng trên tiến hành đánh giá hiệu quả làm việc của từng cá nhân.
Những nguyên tắc và thể thức đánh giá
Đánh giá hoạt động của ban giám đốc cần được xây dựng trên cơ sở những
nguyên tắc sau:
- Tiến hành định kỳ;
- Mang tính tổng hợp;
- So sánh với những chỉ số chính trong hoạt động của toàn bộ tập đoàn;
- Thường xuyên làm rõ các chỉ số và tiêu chuẩn;
- Đảm bảo tính khách quan bằng cách mời các chuyên viên độc lập tham gia
vào quá trình đánh giá.
Không chỉ đánh giá kết quả những việc ban giám đốc đã làm được mà còn phải
đánh giá hướng đi trong tương lai, có nghĩa là đánh giá cả những chiến lược phát triển
được ban giám đốc đưa ra, hay những yêu cầu về cơ cấu ban giám đốc.
Có hàng loạt những yếu tố cần lưu ý tới để quá trình đánh giá đạt được hiệu quả
tốt nhất:
- Tính định kỳ trong việc tiến hành đánh giá;
- Ảnh hưởng của ban giám đốc hiện tại tới sự hình thành hội đồng giám đốc
mới;
- Trong ban giám đốc có sự tham gia của Ủy ban về nhân sự;
- Mối quan hệ của các giám đốc với văn hóa phê bình;
Trong quá trình lập hệ thống đánh giá, việc xác định trật tự các bước là rất quan
trọng và bao gồm những giai đoạn sau:
- Xác định các chỉ số đánh giá;
- Lựa chọn nguồn thông tin;
- Tập hợp tài liệu về hoạt động của hội đồng giám đốc (biên bản họp, báo
cáo…);
- Trưng cầu ý kiến của những thành viên có mối liên hệ với tập đoàn (quản lý,
nhân viên, cổ đông, các đơn vị có quan hệ ký kết…);
- Phân tích thông tin thu thập được;
- Đưa ra đánh giá.
của hội đồng giám đốc đến chính sách của tập đoàn trong lĩnh vực khen thưởng).
4. Tham khảo ý kiến của các cấp bậc quản lý khác nhau về vấn đề có liên quan
đến việc thực hiện chiến lược của tập đoàn.
5. Có hệ thống chi phối những trường hợp mạo hiểm (ban giám đốc không thể
và không nên tự mình quản lý những tình huống mạo hiểm đó nhưng vẫn cần phải
thiết lập hệ thống đó và soạn thảo chính sách đối phó trong trường hợp mạo hiểm)
Những chỉ số có liên quan đến trình tự làm việc và thành phần ban giám đốc
1. Có kế hoạch hoạt động cho ban giám đốc, phân bổ trách nhiệm giữa các
thành viên.
2. Số lượng và tính định kỳ trong các kỳ họp của hội đồng giám đốc, đồng thời
mối tương quan giữa các kỳ họp có đối chứng và các kỳ họp vắng mặt.
3. Có thảo luận những vấn đề quan trọng trong các cuộc họp.
4. Số lượng các vấn đề hóc búa được đưa ra thảo luận ở các cuộc họp và cách
thức dẫn dắt cuộc tranh luận.
5. Có biên bản đầy đủ và chi tiết các cuộc họp.
6. Có phụ lục biên bản ghi lại những ý kiến đặc biệt của các thành viên ban
giám đốc.
7. Có sự tham gia của các giám đốc độc lập trong một số cuộc họp của ban
giám đốc.
8. Tuân thủ theo đúng trình tự biểu quyết và đòi hỏi phải đạt được nhất trí tối đa
khi quyết định những vấn đề quan trọng.
9. Chất lượng của việc đảm bảo thông tin cho hoạt động của ban giám đốc.
10. Có các ủy ban trực thuộc (đặc biệt là ủy ban về kiểm toán) và tính hiệu quả
của các ủy ban đó.
11. Sự phù hợp của cơ cấu ban giám đốc và nhiệm vụ của cơ quan này với đặc
điểm riêng biệt của tập đoàn (số thành viên, mức độ thay thế nhân sự ở đây và ảnh
hưởng của việc thay đổi đến tính kế tục trong hoạt động của hội đồng, số lượng những
thành viên được bầu lại lần thứ hai, số lượng giám đốc là thành viên ban giám đốc ở
những tập đoàn khác, số lượng giám đốc cùng lúc là thành viên hội đồng giám đốc ở
nhiều tập đoàn khác nhau, kiến thức, kinh nghiệm và uy tín của các giám đốc).
chuyên gia độc lập. Trong trường hợp này, tập đoàn cần phải cởi mở và hợp tác với
những “người ngoài”, điều thường làm các doanh nghiệp e ngại vì lý do bảo mật thông
tin.
Công bố đánh giá
Ở đây không nên áp dụng cách đánh giá chung chung hoàn thành công việc hay
chưa đạt yêu cầu. Khi xác định những tiêu chuẩn đánh giá cụ thể cần xem xét những
đặc điểm của tập đoàn (cơ cấu vốn từ cổ đông, phong cách làm việc và văn hóa tập
đoàn, những quan hệ trong tập đoàn ). Kết quả đánh giá cần được thực hiện với mục
đích hoàn thiện công việc của ban giám đốc, nên ở đó phải thể hiện được:
- Sự đóng góp của mỗi giám đốc thành viên vào công việc chung của hội đồng.
- Các lĩnh vực hoạt động của từng thành viên cần được hoàn thiện.
Trình tự đánh giá phải được công khai và trong sạch. Tuy nhiên kết quả đánh
giá của cả ban giám đốc và từng thành viên lại là thông tin mật.