Những Giải pháp thúc đẩy tiến trình gia nhập tổ chức TM thế giới (WTO) cho VN - Pdf 10

Lời nói đầu
Bớc sang thiên niên kỷ mới, toàn cầu hóa đang trở thành một đặc trng
phổ biến của sự phát triển thế giới, nó bao trùm toàn bộ đời sống của cộng
đồng dân tộc ở những mức độ và quy mô ngày càng sâu sắc hơn. Nhng vấn đề
quan trọng hơn ở chỗ, tất cả các quốc gia dờng nh đều bị cuốn vào vòng xoáy
chung ấy. Điều đó chứng tỏ rằng toàn cầu hóa không thể là quá trình đẩy lùi
lịch sử mà là xu hớng khách quan của chính thời đại. Theo hớng đó, Việt Nam
đang từng bớc tham gia vào hệ thống thơng mại thế giới. Tháng 7 năm 1994,
Việt Nam đã trở thành quan sát viên của Hiệp định chung về thuế quan và
mậu dịch - GATT.
Đầu năm 1995, sau khi có những kết quả nghiên cứu về vòng đàm phán
Urgoay, GATT đã đợc thay thế bằng tổ chức thơng mại thế giới - WTO, Chính
phủ Việt Nam đã quyết định nộp đơn xin gia nhập WTO. Việc gia nhập WTO
của Việt Nam có ý nghĩa quan trọng đến việc giải quyết các vấn đề kinh tế
trong tơng lai. Thông qua các cuộc thơng lợng về sự gia nhập của Việt Nam
vào WTO sẽ thúc đẩy công cuộc đổi mới đất nớc và mở cửa nền kinh tế. Hơn
nữa, sự tham gia đầy đủ vào WTO sẽ đặt ra nhiều vấn đề mới đòi hỏi các cơ
cấu tổ chức mới và nhất là các yêu cầu mới về sự hiểu biết kiến thức và kỹ
năng của cán bộ các cấp và các nhà quản lý kinh doanh của Việt Nam về hệ
thống thơng mại thế giới.
Nhận thức đợc tầm quan trọng và ý nghĩa to lớn của quá trình gia nhập tổ
chức WTO nên việc xem xét, nghiên cứu và đa ra "Những giải pháp thúc đẩy
tiến trình gia nhập tổ chức thơng mại thế giới (WTO) cho Việt Nam" là một
công việc rất bổ ích và có ý nghĩa thiết thực vì vậy, em xin chọn chủ đề
"Những giải pháp thúc đẩy tiến trình gia nhập tổ chức thơng mại thế giới
(WTO) cho Việt Nam" . Để đạt đợc mục đích trên đây, đề tài đợc kết cấu
gồm ba chơng.
1
Chơng 1: Sự cần thiết phải hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam trong
quá trình phát triển
Chơng 2: Tiến trình gia nhập WTO của Việt Nam

hàng hóa, dịch vụ và công nghệ qua biên giới nớc mình theo cả hai chiều hợp
vào và dòng ra, cũng nh trên thị trờng trong nớc và quốc tế phù hợp với các
cam kết chính phủ song phơng và đa phơng.
3
Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế cùng với quá trình tự do hóa kinh tế là
hai quá trình song song và hợp thành của một quá trình rộng lớn hơn, đó là
quá trình toàn cầu hóa (tức là quá trình quốc tế hóa kinh tế trên cơ sở phát
triển cách mạng khoa học - kỹ thuật và cơ chế thị trờng đã phát triển trên quy
mô toàn cầu mà mới chỉ thực sự phát triển từ sau khi kết thúc chiến tranh lạnh
những năm 1990 của thế kỷ XX). Đích hội tụ bao trùm của quá trình toàn cầu
hóa - do đó, nền kinh tế toàn cầu hóa với t cách một chỉnh thể chung thống
nhất, không còn biên giới quốc gia về kinh tế.
Có thể nói, hội nhập kinh tế quốc tế là cụ thể hóa từng bớc và sự bảo đảm
tính tất yếu, thống nhất của tự do hóa trên quy môn toàn cầu hóa theo những
khuôn khổ, không gian và thời gian xác định trên thực tế. Tham gia vào các
hiệp định song phơng và đa phơng, các tổ chức thơng mại tự do và thị trờng
chung, các liên minh thuế quan hay các liên minh kinh tế và các khối kinh tế
khu vực, liên khu vực và toàn cầu là những nấc thang khác nhau trong quá
trình hội nhập kinh tế quốc tế và tùy thuộc vào trình độ phát triển, cũng nh
nhận thức và quyết tâm của mỗi nớc.
3. Nội dung của hội nhập kinh tế quốc tế.
Phản ánh xu hớng hình thành nền kinh tế toàn cầu thống nhất nh là nội
dung cơ bản của quá trình toàn cầu hóa, song hội nhập kinh tế quốc tế có những
nội dung riêng mang tính giai đoạn. Những thỏa thuận mang tính nguyên tắc của
WTO trong vòng đàm phán Uruguay (1986 - 1994) đợc coi là thể hiện tập trung
và rõ nhất nội dung hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, cụ thể bao gồm các khía
cạnh, vấn đề sau:
- Về thơng mại hàng hóa:
Giữa các nớc thành viên phải cam kết và thực hiện theo lộ trình thỏa thuận
về:

bạch, nguyên tắc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, nguyên tắc cho phép các nớc có
hành động tự vệ trong các trờng hợp cần thiết để bảo vệ cán cân thanh toán,
bảo vệ một ngành công nghiệp non trẻ bị bên ngoài tấn công; đồng thời cho
dành chế độ u đãi đợc kéo dài lộ trình, chậm thực hiện cam kết (khoảng
5 năm) và các u đãi cùng các sự hợp tác, trợ giúp khác cho các nớc đang phát
triển và những nớc có nền kinh tế chuyển đổi để nâng cao năng lực cạnh tranh
trong quá trình hội nhập.
Hiện nay, những nội dung và nguyên tắc hội nhập nêu trên ở các mức độ
khác nhau đang chi phối nội dung các hiệp nghị thơng mại, các khối kinh tế
thơng mại song phơng và khu vực. Trong thời gian tới, những nội dung,
nguyên tắc và lĩnh vực hội nhập trên đây chắc chắn sẽ đợc nâng cao và mở
rộng hơn.
4. Tác động hai mặt của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đến các
nớc đang phát triển.
Nhu cầu tổ chức lại thị trờng trong phạm vi toàn thế giới trớc hết bắt
nguồn từ các nớc công nghiệp phát triển, do họ ở thế mạnh nên thờng áp đặt
các luật chơi. Các nớc đang phát triển vừa có yêu cầu tự bảo vệ, vừa có yêu
cầu phát triển nên cũng tham gia tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Lợi
ích ở đây là: tìm đợc thị trờng cho hàng xuất khẩu, tiếp nhận vốn và công nghệ
thông qua đầu t trực tiếp, nhờ đó tạo ra công ăn việc làm, đảm bảo tăng trởng
kinh tế, học tập đợc kinh nghiệm quản lý
Đơng nhiên, đối với những nớc đang phát triển, kinh tế còn yếu kém,
doanh nghiệp nhỏ bé, sức cạnh tranh còn thấp, trình độ quản lý nhà nớc và
kinh doanh còn hạn chế, thì hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực không chỉ có
cơ hội mà còn có cả khó khăn, thách thức thậm chí khó khăn, thách thức là
lớn, nhng nếu cứ đứng ngoài cuộc, khó khăn có thể còn lớn hơn nhiều. Trong
bối cảnh toàn cầu hóa, quan niệm độc lập tự chủ theo kiểu tự cấp tự túc, xây
dựng một cơ cấu kinh tế hoàn chỉnh của nền kinh tế hớng nội đợc thể hiện qua
6
kinh nghiệm của nhiều nớc đã cho thấy đây không phải là xu thế phù hợp với

7
Tuy nhiên, đằng sau những tác động tích cực của hội nhập kinh tế quốc
tế, ngời ta vẫn nhận thấy mặt trái của nó đối với các nớc đang phát triển, nhất
là tính phụ thuộc, dễ bị tổn thơng rất lớn của nền kinh tế vào nớc ngoài nên sự
phát triển tỏ ra cha chắc chắn. Có thể minh chứng rõ điều này trên một số khía
cạnh.
Một là, sau một số năm tham gia toàn cầu hóa, nợ nần của các nớc đang
phát triển càng thêm chồng chất. Khoản nợ quá lớn (trên 2000 tỷ USD), thậm
chí ở một số nơi xảy ra khủng hoảng nợ, là gánh nặng kéo lùi tốc độ tăng tr-
ởng kinh tế. Theo báo cáo của WB về tình hình tài chính toàn cầu năm 1999,
tỷ lệ nợ nớc ngoài so với GNP: của Braxin là 24%, Mêhicô: 38%, Inđônêxia:
65%, Philippin: 53%, Thái Lan: 63%, Malaixia: 51%
Hai là, tốc độ tăng trởng kinh tế của nhiều nớc đang phát triển phụ thuộc
phần lớn vào xuất khẩu, nhng khối lợng xuất khẩu lại tùy thuộc vào lợi ích của
các nớc nhập khẩu, vào độ mở cửa thị trờng các nớc lớn, vào sự ổn định của
thị trờng thế giới, nên chứa đựng nhiều yếu tố bất ổn, khó lờng trớc.
Ba là, cùng với sự phát triển của kỹ thuật sử dụng công nghệ cao tiết
kiệm lao động, tài nguyên, sự lớn mạnh của kinh tế tri thức trong đó sở hữu trí
tuệ mới là sở hữu mang lại sự giàu có, thì những cái đợc coi là lợi thế của các
nớc đang phát triển nh tài nguyên, lực lợng lao động dồi dào, chi phí lao động
thấp sẽ mất dần đi, còn u thế về công nghệ, vốn của các nớc phát triển lại tăng
lên.
Bốn là, nền kinh tế cha đủ sức để chịu đựng cái gọi là "chu kỳ kinh
doanh". Các nớc có nền kinh tế phát triển cao có thể sử dụng nhiều cơ chế
phúc lợi khác nhau để đối phó với thất nghiệp, tỷ lệ xí nghiệp phá sản cao
trong thời kỳ kinh tế suy thoái. Trong khi đó, đối với hầu hết các nớc đang
phát triển, do thực lực t bản trong nớc và kết cấu của nó còn thấp kém, cha
thật thích hợp với cơ chế thị trờng, lại dựa nhiều vào vốn nớc ngoài (trong đó
vốn ngắn hạn chiếm 60%) thì "chu kỳ kinh doanh" đôi khi có nghĩa là nạn
đói, các nhu cầu thiết yếu về lơng thực, thuốc men không đợc đáp ứng mất ổn

9
(2) Các khối kinh tế khu vực và liên khu vực.
Cho đến nay đã có hàng chục khối kinh tế khu vực các nhau về số lợng
thành viên và mức độ cam kết hợp tác nội bộ. Có khối hoạt động theo quy chế
khu vực mậu dịch tự do nh AFTA của ASEAN, NAFTA của Bắc Mỹ (những
thành viên thuộc khu vực này sẽ thực hiện giảm thiểu thuế quan cho nhau.
Việc thành lập khu vực mậu dịch tự do nhằm thúc đẩy thơng mại giữa các nớc
thành viên. Những hàng rào phi thuế quan cũng đợc giảm bớt hoặc loại bỏ
hoàn toàn. Tuy nhiên, khu vực mậu dịch tự do không quy định mức thuế quan
chung áp dụng cho những nớc ngoài khối, thay vào đó từng thành viên vẫn có
thể duy trì chính sách thuế quan khác nhau đối với các nớc không phải thành
viên), hoặc quy chế liên minh thuế quan (ngoài việc thực hiện tự do hóa mậu
dịch thông qua cắt giảm thuế quan và các biện pháp phi thuế quan nh ở khu
vực mậu dịch tự do, các thành viên còn cùng nhau xây dựng biểu thuế quan
chung áp dụng cho các nớc ngoài liên minh.
ở đây quá trình nhất thể hóa về thuế quan bắt đầu đợc thực hiện. Khối
cộng đồng chung Châu Âu (EC) trớc đây thuộc dạng này và quy chế thị trờng
chung (ngoài việc tự do hóa thơng mại hàng hóa ở khu vực mậu dịch tự do,
các yếu tố khác nh vốn, nhân lực, dịch vụ, v.v cũng đ ợc dự do lu thông giữa
các nớc thành viên trong thị trờng chung. Thị trờng chung đầu tiên trên thế
giới là thị trờng chung Châu Âu, chính thức hoạt động từ ngày 01/01/1993.
Ngoài ra còn một số thị trờng chung Châu Phi, thị trờng chung Arập ), quy
chế liên minh kinh tế (kiểu EU) là nấc thang phát triển cao nhất của hình thức
hội nhập theo khối kinh tế hiện nay (theo quy chế này, trong khối thực hiện
chính sách tài chính, tiền tệ, thơng mại, công nghệ, an ninh, và chính trị
chung, thậm chí EU đã có quốc hội chung, tòa án chung và một đồng tiền
chung).
Đặc biệt, hiện nay đang manh nha một hình thức hội nhập mới, mang
tính chất khối kinh tế liên khu vực mở. Tiêu biểu cho hình thức hội nhập này
là diễn đàn hợp tác kinh tế Châu á - Thái Bình Dơng (APEC) (ra đời năm

xuyên quốc gia của mình thông qua liên doanh, liên kết với các công ty xuyên
quốc gia nớc ngoài hoặc hỗ trợ nhà nớc để phát triển công ty quốc gia thành
công ty xuyên quốc gia. Có thể nói các công ty xuyên quốc gia cổ phần chính
11
là hình thức doanh nghiệp cơ bản của nền kinh tế toàn cầu thống nhất tơng lai.
Ngoài những hình thức hội nhập kinh tế quốc tế chủ yếu trên đây, thế
giới đang xuất hiện ngày càng nhiều hơn những hình thức đặc thù nh thành
phố cảng tự do, các đặc khu kinh tế quốc gia và cả những"tam giác", "tứ giác"
vùng (nghĩa là những vùng kinh tế giáp biên giới của 3-4 nớc liên kề nhau, bổ
sung cho nhau về những lợi thế. Và mở cửa tự do cho tất cả mọi doanh nghiệp
trên thế giới .)
Tóm lại, các hình thức hội nhập kinh tế quốc tế này càng phát triển
phong phú hơn và một quốc gia có thể lựa chọn tham gia các hình thức thích
hợp với điều kiện và định hớng phát triển của mình. Hơn nữa, mỗi nớc cần sử
dụng đồng thời nhiều hình thức để khai thác tối đa các lợi thế, hạn chế thấp
nhất tác động trái chiều của hội nhập kinh tế quốc tế.
Với sự phát triển của nền kinh tế thế giới ngày nay, các nớc nói chung và
Việt Nam nói riêng không thể nào bóc tách nền kinh tế của mình ra khỏi vòng
xoáy chung của hội nhập kinh tế quốc tế.
Trong thời gian qua với chính sách mở cửa nền kinh tế Việt Nam đã tích
cực tham gia hội nhập làm cho nền kinh tế đã có những chuyển biến tích cực,
khởi sắc cho một nền kinh tế đầy tiềm năng. Hội nhập kinh tế quốc tế trở
thành vấn đề sôi động, nóng bỏng thu hút đợc sự quan tâm của chính phủ của
nhân dân là đề tài cho nhiều công trình nghiên cứu, nhiều bài viết.
Tuy nhiên, nghiên cứu về hội nhập kinh tế quốc tế cần phải chú ý đến
tính đa dạng về hình thức hội nhập, với một mục đích chung là tự do hóa th-
ơng mại nhng lịch trình, tính ràng buộc và mức độ cam kết của các tổ chức
kinh tế khu vực và thế giới có nhiều điểm khác nhau. Vì vậy, với khả năng,
kiến thức có hạn nghiên cứu vấn đề hội nhập kinh tế thế giới với quá trình phát
triển kinh tế Việt Nam em xin đi sâu vào đề tài "Những giải pháp nhằm thúc

kinh tế về nhiều mặt hàng, tỷ suất hàng hóa khá cao. Tình hình đó đặt ra yêu
cầu cấp bách phải tiêu thụ đợc mới tái sản xuất mở rộng đợc. Nói một cách
khác, nhân tố "đầu ra" có ý nghĩa hết sức quan trọng, trong nhiều trờng hợp
13
thậm chí có ý nghĩa quyết định. Một mặt phải rất quan trọng việc thúc đẩy
tiêu thụ trong nớc vì, với gần 80 triệu dân thị trờng nội địa nớc ta không phải
là nhỏ, mặt khác, do thu nhập của các tầng lớp dân c còn cha cao, sức mua
cha lớn, điều tất yếu là phải thúc đẩy xuất khẩu ra thị trờng bên ngoài.
ở đầu vào, mặc dù khả năng tích lũy của nền kinh tế nớc ta ngày càng
lớn, trình độ, khoa học - công nghệ và quản lý kinh tế ngày càng đợc nâng
cao, song trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nớc ta vẫn cần tranh
thủ vốn đầu t công nghệ và kỹ năng quản lý từ bên ngoài. Đồng thời có đẩy
mạnh xuất khẩu mới có ngoại tệ để nhập máy móc, thiết bị nguyên vật liệu
cần thiết.
Toàn bộ nhu cầu nói trên đòi hỏi chúng ta phải chủ động hội nhập để mở
cửa thị trờng tiêu thụ sản phẩm tranh thủ những thứ ta cần để đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa. Muốn vậy ta phải chấp nhận các luật chơi chung trên
cơ sở "có đi có lại". Vả lại chính trong sự cạnh tranh các sản phẩm và doanh
nghiệp của nớc ta sẽ phải vơn lên nâng cao chất lợng và hiệu quả.
Nói tóm lại nớc ta chủ động hội nhập nền kinh tế khu vực và thế giới vì
lợi ích của chính bản thân nớc ta.
Về mặt khách quan chúng ta đang sống trong một thế giới mà xu thế
toàn cầu hóa đang phát triển nhanh chóng, gia tăng mạnh mẽ quy môvà phạm
vi giao dịch hàng hóa, dịch vụ xuyên quốc gia, dòng vốn đầu t lan tỏa ra toàn
cầu, công nghệ, kỹ thuật, truyền bá nhanh chóng, và rộng rãi. Cục diện ấy vừa
tạo ra những khả năng mới để mở rộng thị trờng, thu hút vốn, công nghệ, vừa
đặt ra những thách thức mới về nguy cơ tụt hậu ngày càng xa và sự cạnh tranh
rất gay gắt nền kinh tế nớc ta là một bộ phận không tách của nền kinh tế nớc
ta là một bộ phận không tách rời của nền kinh tế thế giới nên không thể không
tính đến những xu thế của thế giới, tận dụng những cơ hội do chúng đem lại

rơi vào thế bình đẳng trên danh nghĩa nhng lại bất bình đẳng trên thực tế chính
những mâu thuẫn trên đã khiến cho Hiến chơng Lahavana không bao giờ hiệu
lực và ITO cũng không bao giờ ra đời. Tuy nhiên, song với các vòng đàm phán
15
cho việc ra đời ITO thì ở Genever ngày 30/10/1947 đại diện của 23 nớc đã đi
đến một thỏa thuận cắt giảm thuế quan đối với khoảng một nữa số hàng hóa
trong thơng mại quốc tế, đồng thời đã ký kết nghị định th áp dụng tạm thời
"Hiệp định chung về thuế quan và Thơng mại" gọi tắt là GATT 1947.
GATT đã trở thành "Nơi đàm phán" của mậu dịch quốc tế, phát động và
thúc đẩy tiến trình tự do hóa mậu dịch giữa các nớc: GATT cũng đã trở thành
nơi giải quyết các tranh chấp mậu dịch quốc tế, điều hòa những mâu thuẫn và
va chạm về mậu dịch quốc tế giữa các nớc.
GATT đã thông qua những chế độ và cơ chế về mậu dịch của các nớc
đang phát triển, có một tác dụng nhất định trong việc thúc đẩy sự phát triển về
kinh tế và mậu dịch của các nớc đang phát triển.
Từ vòng đàm phán đầu tiên năm 1947 GATT dần dần đợc hoàn thiện
thông qua các lần tu chỉnh nhng vẫn dựa trên 3 nguyên tắc cơ bản sau:
1. Không phân biệt đối xử trong thơng mại quốc tế các nớc thành viên
dành cho nhau quy chế tối huệ quốc đối với hàng hóa nhập khẩu bất cứ xuất
xứ hàng hóa là của quốc gia nào đi nữa.
2. Không đợc bảo hộ nền công nghiệp trong nớc bằng chính sách phân
biệt đối xử và các giải pháp thơng mại khác nh hạn ngạch xuất khẩu.
3. Nhấn mạnh vào việc tiếp xúc và tham vấn để tránh xâm phạm lợi ích
thơng mại lẫn thuế, cũng nh các rào cản thơng mại khác và ghi lại kết quả
đàm phán trong một văn bản có giá trị pháp lý.
Tuy nhiên vẫn tồn tại một số ngoại tệ trong các nguyên tắc trên. Chẳng
hạn ở nguyên tắc, "Không phân biệt đối xử" đợc thể hiện trong điều khoản
"tối huệ quốc" theo đó không cho phép u đãi mậu dịch đối với bất kỳ quốc gia
nào hơn so với những thành viên khác ký kết GATT. Nhng trong các khu vực
mậu dịch tự do thì các viên trong khu vực hoặc trong liên minh đều u đãi hơn.

theo nguyên tắc tối huệ quốc. Phơng pháp cắt giảm song phơng tuy đơn giản
nhng kết quả rất hạn chế vì các bên phải đàm phán về từng sản phẩm riêng sẽ
mất nhiều thời gian và không tính ứng với nhu cầu tăng trởng nhanh chóng
17
của thơng mại quốc tế.
Vòng kennedy đã cắt giảm trung bình 35% đối với hơn 30.000 hạng mục
thuế, đồng thời cũng đạt đợc thành công đầu tiên trong lĩnh vực giảm thiểu
các hàng rào phi thuế quan với việc thông qua những quy định đầu tiên về
chống phá giá và trị giá hải quan. Tuy nhiên, vòng Kennedy đã không đem lại
kết quả đáng kể nào đối với các sản phẩm nông nghiệp do Container
C
dới sức
ép của Pháp và Hà Lan đã kiên quyết từ chối đề nghị của Mỹ đàm phán cắt
giảm thuế quan trong lĩnh vực này.
Về thuế quan, vòng Tokyo đã đạt đợc những kết quả rất lớn: mức thuế
quan của các nớc phát triển đối với các sản phẩm công nghiệp giảm trung bình
30%, dẫn đến mức thuế quan trung bình của các nớc này chỉ còn 6%. Một số
sản phẩm "nhạy cảm" nh hàng dệt may, da, thực phẩm, thép cũng đợc giảm
nhiều. Một số hạn ngạch nông sản cũng đợc nới rộng hơn. Trong lĩnh vực chi
thuế quan, vòng Tokyo đã thông qua đợc 5 "Bộ luật" (code) về các biện pháp
phi thuế quan; trợ cấp, trị giá hải quan, mua sắm chính phủ, tiêu chuẩn kỹ
thuật và thủ tục cấp phép nhập khẩu và hai thỏa thuận về nông nghiệp và một
thỏa thuận về công nghiệp hàng không. Tuy nhiên, việc tham gia những bộ
luật và thỏa thuận này chỉ mang tính chất tự nguyện, các bên ký kết GATT
không có nghĩa vụ phải ký kết hoặc gia nhập các "Bộ luật" và thỏa thuận này.
Về cơ chế giải quyết tranh chấp, vòng Tokyo cũng đã thông qua đợc thỏa
thuận nhằm hệ thống hóa thực tiễn giải quyết tranh chấp trên cơ sở điều XXII
và điều XXIII của GATT.
Vòng đàm phán tổng thể Uruguay (1986 - 1993, 123 nớc): vòng Tokyo
vừa kết thúc, Mỹ đã đa ra một đề nghị mở tiếp một vòng đàm phán mới. Đề

chế xuất khẩu tự nguyện, sắp xếp có trật tự Những hạn chế trên đây trong
các quy tắc của GATT đã ảnh hởng nghiêm trọng đến tính quyền uy và tính
hiệu quả của thể chế mậu dịch đa phơng, nếu kéo dài sẽ gây biến động trong
toàn bộ thể chế của GATT.
(4) Mặc dù GATT đã thành công ở một mức độ nhất định trong việc cắt
giảm thuế quan trong thơng mại hàng hóa. Nhng GATT đã không đa ra đợc
19
thơng mại về nông sản và hàng dệt may vào khuôn khổ của mình. Sự kém
hiệu quả của GATT bộc lộ rõ ràng hơn khi các vấn đề về dịch vụ, đầu t và sở
hữu trí tuệ ngày càng trở nên quan trọng trong thơng mại thế giới nhng lại
không đợc điều chỉnh trong bất cứ khuôn khổ thơng mại đa phơng nào.
Trong cơ chế giải quyết tranh chấp của GATT còn tồn tại nhiều hạn chế
nghiêm trọng. Biểu hiện chủ yếu: quyền lực tổ, nhóm chuyên gia rất nhỏ, quá
trình giải quyết tranh chấp quá dài sau khi kiểm tra, giám sát, không có hiệu
lực. Đặc biệt là nguyên tắc "toàn thể nhất chí đồng ý" mà GATT sử dụng để
giải quyết tranh chấp, nguyên tắc khắt khe này dẫn đến hiện tợng kế quả giải
quyết tranh chấp của GATT không thể thực thi có hiệu quả. Nh vậy, khi nớc
thành viên, nhất là những nớc thành viên có quy mô mậu dịch và thực lực kinh
tế hùng hậu vi phạm các nguyên tức mậu dịch đa phơng đã không bị trừng
phạt một cách đích đáng, do vậy thờng xuyên đặt toàn bộ thể chế mậu dịch đa
phơng trớc nguy cơ tan vỡ.
b. Mục tiêu và nguyên tắc hoạt động của WTO
b.1. Sự hình thành tổ chức thơng mại thế giới - WTO
Đứng trớc những hạn chế nội tại không thể giải quyết của GATT và để
đáp ứng nhu cầu phát triển toàn cầu hóa mậu dịch và kinh tế quốc tế ngày
càng phức tạp, các bên tham gia vòng đàm phán Urugoay đã quyết định thiết
lập một thể chế mậu dịch đa phơng mới - Tổ chức thơng mại thế giới (World
Trade Orgni2ation - WTO) vào ngày 1/1/1995. Sự ra đời của WTO đã góp
phần tiếp tục thể chế hóa và thiết lập một trật tự mới trong hệ thống thơng mại
đa phơng của thế giới.

việc thực hiện và giải thích Hiệp định WTO và các hiệp định thơng mạ đa ph-
ơng và nhiều bên.
(4) Là cơ chế kiểm điểm chính sách thơng mại của các nớc thành viên,
đảm bảo thực hiện mục tiêu thúc đẩy tự do hóa thơng mại và tuân thủ các quy
định của WTO, hiệp định thành lập WTO đã quy định một cơ chế kiểm điểm
21
chính sách thơng mại áp dụng chung đối với các nớc thành viên.
(5) Thực hiện việc hợp tác với các tổ chức kinh tế quốc tế khác nh Quỹ
tiền tệ quốc tế và ngân hàng thế giới trong việc hoạch định những chính sách
và dự báo về những xu hớng phát triển tơng lai của kinh tế toàn cầu.
b.3. Các nguyên tắc hoạt động của WTO
Tổ chức thơng mại thế giới đợc xây dựng trên 4 nguyên tắc pháp lý nền
tảng là: tối huệ quốc; đãi ngộ quốc gia; mở cửa thị trờng và cạnh tranh công
bằng.
(1) Nguyên tắc tối huệ quốc (MFN)
Tối huệ quốc, viết tắt theo tiếng Anh là MFN (Most Favoured Nation)
Nguyên tắc MFN đợc hiểu là nếu một nớc dành cho một nớc thành viên
một sự đối xử u đãi nào đó thì nớc này cũng sẽ phải dành sự u đãi đó cho tất
cả các nớc thành viên khác. Thông thờng nguyên tắc MFN đợc quy định trong
các hiệp định thơng mại song phơng. Khi nguyên tắc MFN đợc áp dụng đa ph-
ơng đối với tất cả các nớc thành viên WTO thì cũng đòng nghĩa với nguyên
tắc bình đẳng và không phân biệt đối xử vì tất cả các nớc sẽ dành cho nhau sự
"đối xử u đãi nhất".
(2) Nguyên tắc đãi ngộ quốc gia
Nguyên tắc đãi ngộ quốc gia (Notional Treatment - NT), quy định tại
Điều III hiệp định GATT, Điều 17 GAIS và Điều 3 TRIPS. Nguyên tắc NT đ-
ợc hiểu là hàng hóa nhập khẩu, dịch vụ và quyền sở hữu trí tuệ nớc ngoài phải
đợc đối xử không kém thuận lợi hơn so với hàng hóa cùng loại trong nớc.
Trong khuôn khổ WTO, nguyên tắc NT chỉ áp dụng đối với hàng hóa, dịch vụ,
các quyền sở hữu trí tuệ, cha áp dụng đối với cá nhân và pháp nhân. Phạm vi

mại của WTO. Về mặt pháp lý, "tiếp cận thị trờng" thể hiện nghĩa cụ có tính
chất ràng buộc thực hiện các cam kết về mở cửa thị trờng mà nớc này chấp
nhận khi đàm phán gia nhập WTO.
(4) Nguyên tắc cạnh tranh công bằng.
23
Cạnh tranh công bằng (fair conpetion) thể hiện nguyên tắc "tự do cạnh
tranh trong những điều kiện bình đẳng nh nhau" và đợc công nhận trong án lệ
của Urugoay kiện 15 nớc phát triển (1962) về việc áp dụng các mức thuế nhập
khẩu khác nhau đối với cùng một lợng hàng nhập khẩu.
Tóm lại, theo quy định trong hiệp định thành lập, WTO đã khắc phục đợc
những hạn chế của GATT trớc đây:
Thứ nhất, WTO là một tổ chức pháp nhân có t cách chủ thể luật quốc tế
tổ chức này có điều lệ hẳn hoi chứ không phải chỉ mang tính chất cộng đồng
nh GATT, các thành viên của nó có khả năng pháp định tất yếu khi WTO
thực hiện chức năng của mình.
Thứ hai, WTO có phạm vi hoạt động rộng lớn GATT, sự ra đời của WTO
đã tạo ra cơ chế pháp lý điều chỉnh thơng mại thế giới trong các lĩnh vực mới
là dịch vụ, đầu t và sở hữu trí tuệ, đồng thời đa vào khuôn khổ thơng mại đa
phơng hai lĩnh vực là dệt may và hàng nông sản. Thứ ba, WTO có chức năng
giải quyết tranh chấp hiệu lực hơn GATT, bởi thỏa ớc khó có thể thực thi nếu
không đạt đợc sự nhất trí. WTO đã khắc phục đợc những hạn chế nội tại của
GATT đồng thời cũng mang lại cho các nớc phát triển những quyền lực lớn
hơn, có thể xóa bỏ đợc hiện tợng các nớc phát triển áp dụng cơ chế giải quyết
tranh chấp lỏng lẻo của GATT để chèn ép các nớc đang phát triển ở một mức
độ tơng đối.
Nói chung, so với GATT, WTO lớn mạnh hơn cả về lợng và chất phạm vi
hoạt động của WTO bao trùm lên hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội. Cơ
chế quyết định cũng nh cơ chế giải quyết tranh chấp đã đợc bổ sung cho phù
hợp tình hình mới. Cho dù có sự khác biệt nh thế, WTO vẫn theo đờng lối của
GATT để nhằm hạn chế những thiệt hại trong thơng mại, cũng tơng tự nh IMF

Việt Nam cũng không bị yêu cầu cắt giảm hỗ trợ trong nớc đối với nông dân
(trong khi đó, các nớc công nghiệp phải cắt giảm 20% mức hỗ trợ trong nớc
thời gian 6 năm, các nớc đang phát triển khác là 13,3% trong vòng 10 năm).
Tuy nhiên, nếu hàng hóa của Việt Nam là hàng hóa cạnh tranh, thì những sự
25

Trích đoạn Những lợi ích mà WTO đem lại cho Việt Nam Thực trạng về hội nhập kinh tế Quốc tế của Việt Nam Định hớng của Đảng cộng sản Việt Nam về hội nhập kinh tế quốc Quá trình đàm phán song phơng
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status