Tài liệu Luận văn: Sự hình thành và những hoạt động của ban nghiên cứu chính sách hội nhập kinh tế quốc tế - Pdf 10



1

Luận văn
Sự hình thành và những
hoạt động của ban nghiên
cứu chính sách hội nhập
kinh tế quốc tế 2
LỜI NÓI ĐẦU
Khi nền kinh tế nước ta phải đối mặt với những khó khăn to lớn:
trong khi nhiều tiềm năng chưa được phát huy thì sản xuất trì trệ, đình
đốn; đầu tư giảm mạnh; hoàng hóa khan hiếm; lạm phát ngày một gia
tăng; nhiều lao động không có việc làm hoặc thiếu việc làm; đời sống của
nhân dân không được cải thiện, thậm chí có mặt còn giảm sút; tình hình
xã hội có nhiều diễn biến phức tạp;… Nhìn một cách tổng thể khi đó nền
kinh tế thiếu động lực phát triển; một bộ phận không nhỏ người lao động
và cán bộ quản lý bộ phận không nhỏ người lao động và cán bộ quản lý
không quan tâm tới việc phát triển sản xuất, kinh doanh, do vậy năng suất
lao động vốn đã thấp lại càng giảm sút, làm cho nền kinh tế ngày càng
suy thoái.
Trước tình hình trên, Đảng và Nhà nước đã quyết định thành lập
Viện nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương và giao cho Viện nhiệm vụ
tổng kết tình hình thực tế, nghiên cứu lý luận, tìm ra những định hướng
và giải pháp phá bỏ những cái lỗi thời của cơ chế quản lý cũ, xây dựng cơ

được đội ngũ cán bộ thống nhất nhân thức đúng đắn, sâu sắc. Kết quả này
đã góp phần tạo ra những thành tựu quan trọng trong công cuộc đổi mới
của đất nước ta. 4
I- Lịch sử hình thành, chức năng và nhiệm vụ của
Viện quản lý kinh tế Trung ương.
1- Lịch sử hình thành của Viện.
Ngay sau khi miền Bắc được giải phóng Đảng đã tập trung sức
lãnh đạo khôi phục, cải tạo nền kinh tế và bắt đầu công cuộc xây dựng
cơ sở vật chất cho chủ nghĩa xã hội thông qua kế hoạch 5 năm lần thứ

ngày một tốt hơn nền kinh tế. Từ yêu cầu đó, Trung ương Đảng và
chính phủ đã lần lượt thành lập một số nhóm, tổ gồm những cán bộ
biệt phái từ các Bộ, ngành, và sau này là Ban thư và Chính phủ. Nhiều
đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng và Chính phủ đã trực tiếp phụ
trách các tổ chức nghiên cứu đó như Thủ tướng Phạm Văn Đồng, phó
thủ tướng Lê Thanh Nghị, Phó thủ tướng Nguyễn Duy Trinh…
Trước đòi hỏi ngày càng bức xúc của thực tiễn, yêu cầu cấp bách
phải nghiên cứu có luận cứ về phương thức quản lý kinh tế mới nên đã
thúc đẩy việc chuyển Ban nghiên cứu cải tiến quản lý kinh tế thành
Viện. Do đó, ngày 14 tháng 07 năm 1977 Bộ chính trị Ban chấp hành
Trung ương khóa 4 ra Quyết định 209 – NQ – NS/TW thành lập Viện
nghiên cứu quản lý kinh tế của Trung ương Đảng và Chính Phủ và cử
đồng chí Nguyễn Văn Trâm làm viện trưởng, đồng chí Đoàn Trọng
Truyến làm phó Viện trưởng. Tiếp theo ngày 10/11/1977 Ban bí thư ra
Quyết định số 04 QĐ/TW quy định nhiệm vụ, quyền hạn và quy chế
công tác của Viện nghiên cứu quản lý kinh tế TW. Căn cứ vào Điều
53 của Hiến pháp năm 1959, điều 3 của Luật tổ chức Hội đồng Chính
Phủ và theo đề nghị của Hội đồng Chính phủ, Ủy ban thường vụ Quốc
hội đã ban hành Quyết nghị số 215 – NQ/QHK6 ngày 17/4/1978 phê
chuẩn việc thành lập Viện nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương, cơ
quan ngang Bộ của Hội đồng chính phủ.
2- Chức năng và nhiệm vụ chủ yếu của Viện.
Căn cứ vào quyết nghị của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng
chính phủ đã ban hành Nghị định số 111 – CP ngày 18/5/1978 Quy
định nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức của Viện nghiên cứu quản lý
kinh tế TW. Theo đó, Viện nghiên cứu quản lý kinh tế TW có các
quyền hạn và nhiệm vụ chính sau:
 Nghiên cứu hệ thống quản lý kinh tế XHCN trong cả nước,
nhằm vào nhũng vấn đề chung và quan trọng nhất là: tổ chức lại nền
sản xuất xã hội, cải tiến phương thức quản lý kinh tế lấy kế hoạch làm

theo Nghị đinh số 111 – CP gồm có:
- Ban nghiên cứu tổng hợp.
- Ban nghiên cứu quản lý công nghiệp(gồm cả xây dựng – giao
thông vận tải).
- Ban nghiên cứu quản lý nông nghiệp (gồm cả lâm nghiệp, ngư
nghiệp và thủy lợi).
- Ban nghiên cứu quản lý lưu thông phân phối
- Ban quản lý bồi dưỡng cán bộ cao cấp.
- Văn phòng, 7
Và hội đồng khoa học quản lý kinh tế làm chức năng tư vấn về khoa
học quản lý kinh tế cho Viện trưởng.
Đến năm 1980, nhằm tạo thuận lợi cho việc thống nhất chỉ đạo,
Ban bí thư Trung ương khóa IV đã Quyết định để Viện thôi trực thuộc
Ban bí thư chỉ còn trực thuộc Chính phủ nhung chức năng nhiệm vụ
của Viện giữa nguyên không thay đổi. Trong những năm qua lần lượt
các đồng chí sau đây đã được cử vào các chức vụ Lãnh đạo Viện
nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương.
Các đồng chí Viện trưởng:
Nguyễn văn Trân ( 1978 – 1989 ).
Đoàn Duy Thành ( 1991 – 1992 ).
Đoàn Đỗ ( quyền Viện trưởng ) từ 1989 – 1991.
Lê Đăng Doanh (từ 1993).
Các đồng chí phó Viện trưởng:
Đoàn trọng Truyến ( Từ 1978 – 1981 ).
Đoàn Đỗ ( 1981 – 1989 ).
Dương bạch Liên ( 1982 – 1986 ).
Lê Đăng Doanh ( 1991 – 1993 ).

chính sách, mô hình tổ chức quản lý kinh tế mới, đáp ứng yêu cầu của
thực tế kinh tế - xã hội.
 Nghiên cứu lý luận và phương pháp luận khoa học quản lý kinh tế,
từng bước góp phần xây dựng chương trình cải cách kinh tế và phát
triển khoa học kinh tế ở Việt Nam.
 Hợp tác nghiên cứu với các tổ chức và cơ quan trong nước và
ngoài nước trên lĩnh vực quản lý kinh tế; thực hiện công tác tư vấn về
quản lý kinh tế và bồi dưỡng, đào tạo cán bộ (kể cả trên đại học khi có
điều kiện).
 Tổ chức quan lý các hoạt động của Câu lạc bộ Giám đốc Trung
ương và thực hiện những nhiệm vụ khác theo sự phân công của Bộ
trưởng Bộ kế hoạch và Đầu tư.
Cơ cấu tổ chức của Viện hiện nay bao gồm các phòng ban:
 Ban nghiên cứu chính sách vĩ mô.
 Ban nghiên cứu cải cách và phát triển doanh nghiệp.
 Ban nghiên cứu chính sách hội nhập kinh tế quốc tế.
 Ban nghiên cứu chính sách phát triển kinh tế nông
thôn.
 Ban nghiên cứu khoa học quản lý kinh tế.
 Hội đồng khoa học.
 Ban nghiên cứu khoa học quản lý. 9
 Trung tâm tư vấn, đào tạo và bồi dưỡng cán bộ quản
lý.
 Tạp trí quản lý kinh tế.
 Trung tâm thông tin và tư liệu.
 Văn phòng viện.
Ngoài ra Viện còn trực tiếp quản lý hoạt động của Câu

chủ động kiến nghị với Chính phủ và đước Thủ tướng chấp nhận
chuẩn bị báo cáo trình ra Hội nghị lần thứ 6 của BCH TW (khóa IV),
khởi đầu cho thời ký đổi mới kinh tế ở nước ta.
Được Đảng và Chính phủ giao chủ trì nghiên cứu nhiều đề án lớn
về đổi mới quản lý trong các lĩnh vực kinh tế quan trọng nhằm cụ thể
hóa chủ trương của các nghị quyết Trung ương, Nghị quyết Đại hội
Đảng ví dụ một số đề án quan trọng như: đề án của BCT khóa IV
quyết định ra Nghị quyết 26- NQ/TW (1980) về công tác phân phối
lưu thông; Quyết định 25,26-CP (1981) cụ thể hóa Nghị quyết TW 6
khóa IV (1979) về cải tiến quản lý xí nghiệp; Các đề án nhằm cụ thể
hóa Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VI như đề án về đổi mới quản lý
kinh tế nông nghiệp, cơ chế chính sách đối với khu vực ngoài quốc
doanh để Bộ chính trị khóa VI ban hành Nghị quyết 10 và 16-NQ/TW
(1988), đề án về đổi mới quản lý xí nghiệp quốc doanh để Chính phủ
ban hành quyết định số 217-HĐBT, đề án về chính sách đối với kinh
tế cá thể và doanh nghiệp tư nhân trong nông lâm, ngư nghiệp để
Chính phủ ban hành Nghị định số 170-CP(1980) và 6 dự án Luật trình
Quốc hội ban hành trong thời gian nhiệm kỳ Đại hội VII của Đảng.
Ngoài ra còn có nhiều đề án khác mà Viện được giao chủ trì hoặc
tham gia với cơ quan khác nghiên cứu trình cấp trên.
Sớm đề xuất với TW về việc mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế về
kinh tế. Ngay trong bản “dự thảo đề án”(11/1978) Viện đã kiến nghị
cần mở rộng kinh tế đối ngoại và coi kinh tế đối ngoại là bộ phận của
đường lối kinh tế, là một nhân tố tạo cơ cấu kinh tế mới của nước ta,
một cách tốt nhất để sớm phát huy lao động, tài nguyên đất, rừng,
biển, thực hiện công nghiệp hóa. Tính toán kỹ dám dùng biện pháp cởi
mở, mạnh bạo, tìm nhiều cách thu hút đầu tư từ ngoài phát triển nhiều
hình thức hợp doanh và hợp tác, nhiều kiểu trao đổi kinh tế với nước
ngoài. Xuất khẩu lao động tại chỗ bằng con đường gia công cho nước
ngoài. Cho phép các nước ngaòi đặt các đại lý trên đất nước ta để bán

như của nước ta là xử lý vấn đề lạm phát. Ngay từ năm 1978 Viện đã
nêu là phải đánh giá đúng tình hình lạm phát và có biện pháp chống
lạm phát. Tuy nhiên do chưa hiểu thấu đáo nên chúng ta chưa tìm ra
đước các biện pháp hữu hiệu để chống và đẩy lùi lạm phát. Chúng ta
cũng thấy những vấn đề bức xúc trong lĩnh vực tài chính, tiền tệ, cần
phải có sự đổi mới, nếu không sẽ cản trở sự phát triển sản xuất và ổn
định đời sống. Đồng thời Viện cũng thấy phải sớm đổi mới công tác
kế hoạch hóa cả về nội dung và phương pháp, gắn kế hoạch với thị
trường, sử dụng quan hệ hàng hóa – tiền tệ trong công tác kế hoạch 12
hóa. Quyết đinh 25 – CP là kết quả dầu tiên của việc đưa kiến nghị đổi
mới kế hoạch hóa vào cuộc sống của xí nghiệp công nghiệp.
Thấy rõ những bất hợp lý, lạc hậu, vênh váo của cơ cấu kinh tế,
cùng những ảnh hưởng của nó đến quá trình phát triển của đất nước;
Viện đã kiến nghị phải sắp xếp lại kinh tế, tập trung sức cho một số
chương trình trọng điểm, rà soát, sắp xếp lại các cơ sở kinh tế quốc
doanh dựa trên hiệu quả của sản xuất kinh doanh, nhưng việc làm này
chưa đạt.
Sau 5 năm thực hiện đường lối đổi mới toàn diện nền kinh tế đất
nước, Viện cho rằng đã đến thời điểm cần phải luật pháp hóa các chủ
trương, chính sáhc của Đảng và Nhà nước từng bước thành hệ thống
luật pháp tạo môi trường cho các thành phần kinh tế hoạt động và phát
triển. Viện đã kiến nghị với Nhà nước và được giao chủ trì nghiên cứu
soạn thảo để trình Quốc hội thông qua 6 luật đối với các tổ chức kinh
tế.
2- Những hạn chế, chưa làm được, chưa nghĩ tới đầy đủ.
Ngày nay sau hơn 10 năm đổi mới với tư duy được đổi mới, khi cơ
chế đã từng bước chuyển đổi theo hướng thị trường, khi cơ cấu kinh tế

tiễn của công cuộc đổi mới ở nước ta để vận dụng, đặc biệt là vai trò,
vị trí của các công cụ quản lý vĩ mô trong nền kinh tế vận động theo
cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN
ở nước ta là những công cụ gì, kế hoạch có là công cụ quan trọng số
một hay không? Có phải là yếu tố tất yếu của cơ chế có ý nghĩa là “Có
sự quản lý của Nhà nước”, bằng luật pháp, kế hoạch, hay chính sách?
Sử dụng như thế nào đối với từng công cụ vẫn đang là những câu hỏi
chưa có lời giải đầy đủ.
Viện đã có một số đóng góp trong quá trình đổi mới quản lý doanh
nghiệp Nhà nước từ nhiều năm nay, song đến nay vấn đề cải cách
doanh nghiệp nhà nước là vấn đề gai gốc và có nhiều tranh cãi, vướng
mắc cần phải được nghiên cứu sâu hơn, cụ thể hơn để có những lời
giải có hiệu quả hơn.
Hiện tại và tương lai dài hơn đối với nền kinh tế nước ta, nông
nghiệp, nông thôn vẫn đóng giữ vị thế quan trọng và chủ yếu cả về giá
trị sản lượng trong thu nhập quốc nội và dân cư, lao động. Nhưng sau
hơn 10 năm đổi mới nhiều vấn đề của nông nghiệp, nông thôn vẫn
đang đặt ra, mô hình tổ chức sản xuất là gì? Hay nông trại,… Chuyển
dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn bằng cách gì? Bắt đầu từ
đâu? Để đưa nông nghiệp nông thôn sang thời kỳ mới, thời kỳ công
nghiệp hóa – hiện đại hóa… chung lại lĩnh vực quan trọng này cũng 14
đang đặt ra khá nhiều vấn đề về quản lý đòi hỏi sự nghiên cứu công
phu, nghiêm túc cả về lý luận và thực tiễn.
Trong lĩnh vực phân phối lưu thông tài chính – ngân hàng – giá …
chưa được tổ chức nghiên cứu một cách cơ bản ở tầm chỉ đạo chung
của nhà nước cũng như bản thân Viện chưa tập trung lực lượng để
nghiên cứu, đồng thời năng lực nghiên cứu về lĩnh vực này còn hạn

cán bộ trung, cao cấp của nước ta. Về việc này trước khi vào Bộ kế
hoạch và Đầu tư Viện có một số lần đưa ra đề án kiến nghị với Chính
phủ tổ chức việc đào tạo, bồi dưỡng song không được chấp nhận, đến
nay vẫn còn là khoảng trống trong lĩnh vực này.
3- Những bài học kinh nghiệm.
 Sau những năm hoạt động, Viện đã có những việc đã làm được và
chưa làm được. Nhưng từ đó có thể rút ra những bài học, những kết
luận về sự thành công và chưa thành công.
Nghiên cứu kinh tế và cơ chế quản lý kinh tế là quá trình liên tục
hoàn thiện nhất là trong điều kiện đang trong quá trình chuyển đổi,
cần bám sát thực tiễn để tổng kết kinh nghiệm, thăm dò phản ứng kết
quả để hoàn thiện nội dung, phương pháp và tính sát thực của kiến
nghị. Do vậy có thể rút ra là không thể ngồi trong phòng kín để hoạch
định các chính sách, chủ trương mà muốn nghiên cứu có kết quả phải
gắn với thực tế, từ thực tiễn tổng kết, nâng cao nhưng phải có tư duy
và kiến thức khoa học, phá vỡ một khâu trong vòng luẩn quẩn tư duy
cũ, nếu không thì không thoát khỏi chủ nghĩa kinh nghiệm hoặc chỉ là
minh họa chủ trương của lãnh đạo. Do đó cần có sự hiểu biết thêm
sâu, rộng, ở một trình độ cao, đúc kết thành lý luận làm cơ sở cho
hoạch định chính sách.
Là cơ quan tham mưu cho Chính phủ, nhận nhiệm vụ trực tiếp của
Chính phủ. Những nhiệm vụ đó chủ yếu đòi hỏi chúng ta giải quyết
các vấn đề hiện tại, xử lý các vấn đề cấp bách. Chúng ta hoàn thành
tương đối có hiệu quả các nhiệm vụ được giao đó. Tuy nhiên, việc này
cũng chỉ giải quyết được các vấn đề trước mắt, chưa đi sâu vào các
vấn đề lương. Ta bằng lòng với cụm từ “phân phối theo lao động” và
tìm mọi cách để thực hiện nguyên tắc này. Còn “phân phối” trong
công nghiệp, nông nghiệp, ngư nghiệp thế nào, cũng phải nghiên cứu
thu nhập của người lao động, của mọi tầng lớp dân cư, không bó hẹp
trong phạm vi cán bộ công nhân viên chức ăn lương, nghiên cứu lao

diễn ra theo một quy luật khách quan nhất định, không phụ thuộc vào
ý muống chủ quan của mỗi người lãnh đạo, do vậy trách nhiệm của
cán bộ nghiên cứu là phải tìm hiểu nắm bắt quy luật khách quan và
tìm cách sử dụng nó theo hướng có lợi con người và xã hội.
 Là cơ quan nghiên cứu khoa học và tham mưu trong việc hoạch
định chủ trương chính sách về kinh tế và quản lý kinh tế ngoài việc
phải tổ chức nghiên cứu khoa học tạo luận cứ vững chắc cho các kiến 17
nghị, đề xuất, còn cần có sự chỉ đạo, lãnh đạo cao cấp của đất nước,
thì các sản phẩm tạo ra mới có ý nghĩa đóng góp thiết thực và kịp thời.
4- Những hoạt động cần làm của Viện trong thời gian tới.
Đất nước đã chuyển sang thời kỳ mới đẩy mạnh công nghiệp hóa,
hiện đại hóa, đặt ra yêu cầu cao hơn hẳn về chất đối với công cuộc đổi
mới; bên cạnh những thuận lợi và thời cơ có nhiều khó khăn và thách
thức. Công cuộc đổi mới kinh tế trong những năm tới sẽ khó khăn và
phức tạp hơn; bởi vì động lực phát triển của quá trình tự do hóa không
còn nhiều như trước; để đảm bảo sự tăng trưởng nhanh và bền vững,
cần phải tìm mọi cách nâng cao hiệu quả của nền kinh tế. khai thác
thật tốt các tiềm năng và lợi thế của đất nước trong quan hệ và hội
nhập quốc tế. Đổi mới kinh tế đi sâu đòi hỏi các cơ chế, chính sách
không chỉ xử lý những vấn đề cấp bách trước mắt mang tính chất tháo
gỡ, mà còn có tính chất tương đối cơ bản lâu dài; các giải pháp đổi
mới cần phải được chuẩn bị một cách kỹ lưỡng, có cân nhắc sự tác
động nhiều mặt; các bước cải cách cần phải được điều phối một cách
chủ động theo một chương trình tổng thể. Trong điều kiện mới, Viện
là một bộ phận hợp thành của Bộ kế hoạch và Đầu tư, Viện cần tập
trung mọi lỗ lực nghiên cứu để ghóp phần hoàn thành nhiệm vụ của
Bộ. Theo nghị định số 75/CP ngày 1/11/1995 đã xác định “Bộ kế

đảo các nhà khoa học, cán bộ kinh tế, các nhà quản lý để phối hợp
tham gia xây dựng các chính sách kinh tế mới tham mưu cho Đảng và
Chính phủ. Trong khi bám sát yêu cầu nhiệm vụ tham mưu được giao,
bám sát phục vụ và góp phần thực hiện các nhiệm vụ chính trị của Bộ.
Về mặt nội dung, yêu cầu cơ bản đặt ra đối với hoạt động của Viện
trong những năm trước mắt là nghiên cứu đề xuất các cơ chế chính
sách kinh tế, các khía cạnh chính trị trong kinh tế, phương pháp kế
hoạch hóa và cơ cấu kinh tế trong các vấn đề xã hội góp phần cụ thể
hóa và thực hiện đường lỗi tiến tục sự nghiệp đổi mới và đẩy mạnh
công nghiệp hóa, hiện đại hóa do Đại hội VIII của Đảng thông qua.
Để thực hiện các yêu cầu trên đây, định hướng về nội dung hoạt
động lớn của Viện được tập trung nghiên cứu:
Một là, nghiên cứu xây dựng chương trình tổng thể về cải cách
kinh tế trên cơ sở tổng kết quá trình đổi mới và nghiên cứu cơ sở khoa
học và thực tiễn của công cuộc đổi mới kinh tế - xã hội trong điều kiện
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Hai là, nghiên cứu về quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, thực hiện
chính sách kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường
có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng Xã hội chủ nghĩa. 19
Ba là, nghiên cứu vận dụng tổng hợp các công cụ quản lý vĩ mô
chủ yếu của Nhà nước trong cơ chế thị trường, trước hết là pháp luật
kinh tế, kế hoạch hóa, các chính sách kinh tế.
Bốn là, nghiên cứu cơ sở lý luận và phương pháp luận khoa học
quản lý trên cơ sở khảo sát thực tiễn và phân tích tình hình kinh tế - xã
hội; tổng kết các điển hình tiên tiến, các kinh nghiệm thành công và
không thành công trong quá trình đổi mới; nghiên cứu kinh nghiệm
quốc tế về cải cách và tăng trưởng kinh tế.

nay, thế giới và khu vực có tốc độ phát triển rất cao và vượt xa chúng
ta. Cho nên, để có thể bắt kịp cho hoặc không để khoảng cách giữa
chúng ta và họ thêm xa, chúng ta phải liên tục đổi mới và điều chỉnh
chính sách kinh tế nói chung và chính sách đối ngoại nói riêng cho
phù hợp với xu hướng phát triển của thế giới.
Ban nghiên cứu chính sách hội nhập kinh tế quốc tế đã được thành
lập năm 2003 với chức năng, nhiệm vụ chủ yếu bao gồm:
 Nghiên cứu chính sách thương mại.
 Nghiên cứu cơ chế, chính sách về hội nhập kinh tế quốc tế.
 Nghiên cứu tác động của chính sách thương mại và quá trình hội
nhập kinh tế quốc tế đối với sự phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam.
 Nghiên cứu những vấn đề khác về chính sách hội nhập kinh tế
quốc tế.
Danh sách cán bộ của ban nghiên cứu chính sách hội nhập kinh tế
quốc tế:
Trưởng ban: TS. Võ Trí Thành.
Phó trưởng ban: TS. Phạm Lan Hương.
Phó trưởng ban: ThS. Đinh Hiền Minh.
TS. Lê Xuân Sang.
ThS. Trịnh Quang Long.
ThS. Nguyễn Tú Anh.
ThS. Trần Bình Minh.
2- Những hoạt động của ban nghiên cứu chính sách hội nhập kinh tế
quốc tế.
Công tác hoạt động năm 2004.
 Thực hiện nhiệm vụ theo chức năng và được giao.
 Hoàn thành Đề án trình Thủ tướng Chính phủ về “Phát triển
và hoàn thiện thị trường tiền tệ và thị trường vốn ở Việt Nam”(đã
được Thủ tướng CP phê duyệt).
 Tham gia ý kiến về tổng kết 20 năm đổi mới trên một số lĩnh

 Tham gia các hoạt động nghiên cứu khoa học và trong khuôn
khổ các dự án với các tổ chức quốc tế và với nước ngoai (các dự án
nằm trong Viện: DANIDA, SIDA, UNDP, GTZ; các tổ chức khác
World Bank, ADB, EADN, ISEAS, TDRI, ILO, ESCAP,
PAFTAD, JETRO, IDE/JETRO, IDRC, Chương trình cao học Hà
Lan của Đại học KTQD Hà Nội…). 22
 Tổ chức nhiều hội nghị/ hội thảo khoa học (Diễn đàn quốc tế
về “tăng cường quan hệ kinh tế Việt Nam – Nhật Bản. Nâng cao
khả năng cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam”; Hội thảo “Ma trận
hạch toán xã hội Việt Nam năm 2000 và ứng dụng”; Hội thảo về
“Chính sách tiển tệ ở Việt Nam trong quá trình đổi mới”; Seminar
“giới thiệu mô hình CGE của TDRI và khả năng áp dụng cho Việt
Nam”)
 Tham dự, báo cáo nghiên cứu khoa học và đóng góp ý kiến
tại nhiều hội thảo trong nước và quốc tế.
 Tham gia giảng bài cho đoàn nước ngoài (Bắc triều Tiên) Về
kinh nghiệm cải cách kinh tế ở Việt Nam; tổ chức huấn luyện – đào
tạo theo chương trình dự án DANIDA; tham gia giảng các bài về
chính trị thương mại và hội nhập kinh tế quốc tế tại một số lớp học
cho sinh viên (trong nước và quốc tế), cán bộ nhà nước….
 Một số ấn phẩm và bài nghiên cứu khoa học trong năm 2004.
 Sách: Kinh tế Việt Nam năm 2003, NXB Chính trị quốc gia,
Hà nội (Việt và Anh).
 Sách: Kinh tế Việt Nam năm 2004, NXB Tài chính, Hà Nội.
 Sách: Thị trường tài chính Việt Nam: thực trạng,vấn đề và
giải pháp chính sách, NXB Tài chính, Hà Nội.
 Sách: ma trận hạch toán xã hội mới của Việt Nam năm 2000,

 Biên soạn và ấn hành Báo cáo Kinh tế Việt Nam năm 2004.
 Đề xuất cơ chế nhằm phát triển thị trường vốn. Tiến hành
khảo cứu đánh giá tác động của việc gia nhập WTO về mặt thể chế
kinh tế ( theo dự án).
 Thực hiện nhiều hoạt động hợp tác quốc tế cả ở trong và
ngoài nước thông qua các hoạt động như: tham gia các mạng
nghiên cứu khu vực, tham gia các hội thảo/ hội nghị/ dự án nghiên
cứu khoa học quốc tế, phối hợp tổ chức hội thảo khoa học, tiếp đón
các đoàn khách quốc tế tới Viện, trao đổi thông tin ….
 Thực hiện các đề tài khoa học cấp Nhà nước và cấp Bộ và tham gia
hoạt động khoa học với các tổ chức trong và ngoài nước.
Đề tài khoa học cấp Nhà nước và cấp Bộ.
 Tiếp tục triển khai thực hiện Đề tài cấp Nhà nước “chiến
lược huy động và sử dụng vốn cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở
nước ta”(đề tài sẽ hoàn thành trong quý I/2006).
 Hoàn thành đề tài khoa học cấp Bộ năm 2004 “các hạn chế
đối với sự phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam và các
giải pháp chính sách ” (do TS. Lê Xuân Sang làm chủ nhiệm). 24
 Hoàn thành đề tài khoa học cấp Bộ năm 2002 về “phân tích
định lượng về tác động của quá trình gia nhập WTO tới sản xuất
nông nghiệp Việt Nam: Sử dụng mô hình cân bằng tổng thể ”(do
TS. Phạm Lan Hương làm chủ nhiệm).
 Thực hiện đề tài khoa học cấp Bộ năm 2004 – 2005 “Xây
dựng các chỉ tiêu dẫn báo kinh tế phục vụ phân tích chu kỳ kinh tế
và dự báo ngắn hạn – kinh nghiệm quốc tế và khả năng áp dụng
cho Việt Nam ” ( do ThS. Đinh Hiền Minh làm chủ nhiệm ). Đề tài
sẽ hoàn thành trong quý I/2006.

nước, sinh viên (trong nước và quốc tế)… hướng dẫn làm luận văn/
luận án cho sinh viên đại học, cao học và nghiên cứu sinh.
Đánh giá chung về ban chính sách hội nhập kinh tế quốc tế.
 Ban nghiên cứu chính sách hội nhập kinh tế quốc tế đã tương
đối chủ động trong công tác để có thể đóng góp thiết thực cho việc
hoạch định chính sách, nhất là về hội nhập, thể chế và ổn định kinh
tế vĩ mô.
 Ban đã tạo điều kiện để mọi người cùng có cơ hội đóng góp
chính sách và tham gia các hoạt động nghiên cứu khoa học. Kiến
thức và năng lực nghiên cứu của mọi người trong Ban được cải
thiện khác rõ, tuy vẫn cần tiếp tục trau dồi.
 Ban đã hoàn thành nhiệm vụ được giao, có đóng góp thiết
thực nhất định cho Viện; Tuy nhiên còn chậm trễ trong thực hiện
một số đề tài, phần do nhân lực còn hạn chế và phần do bản thân
cán bộ chủ nhiệm đề tài còn khó phân bổ thời gian một cách hợp lý
(nhiều việc dồn vào cùng một thời điểm)
 Một số ấn phẩm khoa học trong năm 2005.
 Sách Kinh tế Việt Nam 2004, NXBKH – KT, Hà Nội, 2005
(Việt và Anh).
 Chương trong sách: “the ASEAN Economic community:
Perspective from ASEAM’s Transitional Economies”, in Denis
Hew, Roadmap to an ASEAN Economic community, ISEAS,
Singapore, 2005.
 Sach Domestic Enterprise development and the role of Local
Government, Joint Research Program serie 134, IDE – Jetro,
Tokyo, March 2005.
 Bài tạp chí: “Vietnam’s Trade Liberalization and
International Economic Integration: Evolution, Problems and
Challenges”, ASEAN Economic Bulletin Vol 22 No 1 April 2005.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status