nghiên cứu sử dụng nấm phanerochaete chrysosporium phân hủy chất thải rắn hữu cơ làm compost - Pdf 10

Nghiên cứu sử dụng chủng Phanerochaete chrysosporium phân hủy rác hữu cơ làm compost
Chương 1:
MỞ ĐẦU
1.1 Sự cần thiết của đề tài
Thành phố Hồ Chí Minh bao gồm 19 quận và 5 huyện, tổng diện tích 2.095,01
km². Vào năm 2006, thành phố có dân số 6.424.519 người. Cùng với sự phát triển
kinh tế, kéo theo đó là hàng loạt các vấn đề về ô nhiễm môi trường. Mỗi ngày tại
thành phố Hồ Chí Minh có trên 6.000 tấn rác thải sinh hoạt được thải ra môi trường.
Vấn đề rác thải hiện nay đang là vấn đề báo động đối với thành phố Hồ Chí Minh
nói riêng và cả nước nói chung. Các loại rác thải sinh hoạt hiện nay chủ yếu được
đem chôn lấp, chỉ số ít được xử lý, vì vậy đã gây ra ô nhiễm nguồn nước ngầm và ô
nhiễm không khí trầm trọng. Các loại rác thải sinh hoạt của thành phố Hồ Chí Minh
chủ yếu được chôn lấp tại các bãi rác như bãi rác Đông Thạnh, Phước Hiệp, Gò Cát…
nhưng các bãi rác này hiện nay đang ngày một quá tải và hàng loạt vấn đề kéo theo
như phát thải khí metan, nước rỉ và đặc biệt là mùi, đây là kết quả của việc phân hủy
tự nhiên các chất hữu cơ có trong rác thải. Vì vậy, vấn đề đặt ra hiện nay là phải có
biện pháp xử lý rác thải hiệu quả, không gây ô nhiễm môi trường, tái sử dụng rác
thải thành các sản phẩm có giá trò kinh tế.
Đã có nhiều biện pháp được đưa ra như phun thuốc hóa học, đem đốt, cho vào
thùng và bỏ xuống đáy biển… Tuy nhiên các phương pháp này rất tốn kém và đặc
biệt ảnh hưởng xấu đến môi trường. Biện pháp được ưu tiên hàng đầu hiện nay để
xử lý rác thải sinh hoạt là sử dụng phương pháp phân hủy sinh học, vì thành phần
chủ yếu trong rác thải sinh hoạt chiếm 65 – 90% là thành phần hữu cơ. Sử dụng
phương pháp sinh học ít tốn kém, không gây ô nhiễm môi trường và nhất là phù hợp
với các qui luật tự nhiên, có thể tái sử dụng và tạo ra các sản phẩm có giá trò kinh tế
cao.
-1-
SVTH: Nguyễn Duy Đại
Nghiên cứu sử dụng chủng Phanerochaete chrysosporium phân hủy rác hữu cơ làm compost
Vì vậy, cần phải xem rác thải như một nguồn tài nguyên cần được khai thác
chứ rác không phải là thứ bỏ đi. Rác thải là nguồn tài nguyên quý giá và vô tận khi

cơ làm compost. Đánh giá hiệu quả và tốc độ phân hủy so với không bổ sung VSV.
Đo hàm lượng các chất dinh dưỡng trong sản phẩm, bổ sung dinh dưỡng N, P, K
để tạo ra sản phẩm phân bón hữu cơ vi sinh đạt tiêu chuẩn 10TCN 526-2002 của bộ
nông nghiệp phát triển nông thôn hiện nay và có thể đem bán ra thò trường.
1.3 Giới hạn của đề tài
Đề tài chỉ tập trung vào qui trình công nghệ để sản xuất compost, các yếu tố
ảnh hưởng và các tác nhân sinh học, không đề cập đến thiết kế kỹ thuật công trình,
không đề cập đến bản vẽ.
Qui trình xử lý rác thải sinh hoạt, chủ yếu là rác hữu cơ, không đề cập đến các
loại rác thải khác.
Đề tài chỉ tập trung vào giai đoạn phân hủy sinh học, các bước cơ bản ban đầu
như tách lựa, băm rác, sàng lọc làm hoàn toàn bằng thủ công.
-3-
SVTH: Nguyễn Duy Đại
Nghiên cứu sử dụng chủng Phanerochaete chrysosporium phân hủy rác hữu cơ làm compost
Chương 2:
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Khái niệm compost, con đường hình thành:
2.1.1 Khái niệm compost:
Ủ compost được hiểu là quá trình phân hủy sinh học hiếu khí các chất thải hữu
cơ dễ phân hủy sinh học đến trạng thái ổn đònh dưới sự tác động và kiểm soát của
con người, sản phẩm giống như mùn được gọi là compost. Quá trình diễn ra chủ yếu
giống như phân hủy trong tự nhiên, nhưng được tăng cường và tăng tốc bởi tối ưu hóa
các điều kiện môi trường cho hoạt động của vi sinh vật
Lòch sử quá trình ủ compost đã có từ rất lâu, ngay từ khi khai sinh của nông
nghiệp hàng nghìn năm trước Công nguyên, ghi nhận tại Ai Cập từ 3.000 năm trước
Công nguyên như là một quá trình xử lý chất thải nông nghiệp đầu tiên trên thế giới.
Người Trung Quốc đã ủ chất thải từ cách đây 4.000 năm, người Nhật đã sử dụng
compost làm phân bón trong nông nghiệp từ nhiều thế kỷ. Tuy nhiên đến năm 1943,
quá trình ủ compost mới được nghiên cứu một cách khoa học và báo cáo bởi Giáo sư

ít gây ô nhiễm môi trường khi thải ra đất hoặc nước.
Làm mất hoạt tính của VSV: nhiệt của chất thải sinh ra từ quá trình phân hủy
sinh học có thể đạt khoảng 50 - 60
0
C, đủ để làm mất hoạt tính của vi khuẩn gây
bệnh, virus có hại nếu như nhiệt độ này được duy trì ít nhất 3 ngày. Do dó, các sản
phẩm của quá trình compost có thể sử dụng làm chất bổ sung dinh dưỡng an toàn cho
đất.
-5-
SVTH: Nguyễn Duy Đại
Nghiên cứu sử dụng chủng Phanerochaete chrysosporium phân hủy rác hữu cơ làm compost
Thu hồi dinh dưỡng và cải tạo đất: Các chất dinh dưỡng (N, P, K) có trong chất
thải thường ở dạng hữu cơ phức tạp, cây trồng khó hấp thụ. Sau quá trình compost
các chất này được chuyển hóa thành các chất vô cơ như NO
3
-
và PO
4
3-

thích hợp cho
cây trồng. Sử dụng sản phẩm của quá trình chế biến compost bổ sung dinh dưỡng vô
cơ tồn tại chủ yếu dưới dạng không tan. Thêm vào đó, lớp đất trồng cũng được cải
thiện nên giúp rễ cây phát triển tốt hơn.
Tăng khả năng kháng bệnh cho cây trồng: đã có nhiều nghiên cứu trên thế giới
chứng minh sự tăng khả năng kháng bệnh của cây được trồng trong đất có bón
compost. Cho đến nay, ở Việt Nam compost chưa được ứng dụng rộng rãi trong nông
nghiệp. Với hàm lượng dinh dưỡng cao dễ hấp thụ và chủng loại VSV đa dạng, phân
hữu cơ không những làm tăng năng suất cây trồng mà còn có khả năng kháng bệnh
cao.

x
O
y
N
z
thì lượng oxy cần thiết cho quá trình ổn đònh
hiếu khí các chất hữu cơ có khả năng phân hủy sinh học của CTR đô thò có thể được
ước tính theo phương trình phản ứng sau:
C
a
H
b
O
c
N
d
+ 0.5(ny + 2s + r – c)O
2
 nC
w
H
x
O
y
N
z
+ sCO
z
+ rH
2

a
H
b
O
c
N
d
+ O2  aCO
2
+ H
2
O + dNH
3
Trong nhiều trường hợp, amoniac sinh ra từ quá trình oxy hóa các hợp chất hữu
cơ bò tiếp tục oxy hóa thành nitrat (quá trình nitrat hóa). Lượng oxy cần thiết để oxy
hóa amoniac thành nitrat có thể tính theo phương trình sau:
NH
3
+ 3/2 O
2
 HNO
3
+ H
2
O
HNO
2
+ ½O
2
 HNO

VS
t
VS
o
Nghiên cứu sử dụng chủng Phanerochaete chrysosporium phân hủy rác hữu cơ làm compost
Carbonhydrate  đường đơn  acid hữu cơ  CO
2
và nguyên sinh chất của vi
khuẩn.
Chính xác những chuyển hóa hóa sinh xảy ra trong quá trình composting vẫn
chưa được nghiên cứu chi tiết. Các giai đoạn khác nhau trong quá trình làm compost
có thể phân biệt theo biến thiên nhiệt độ như sau:
* Pha thích nghi (latent phase) là giai đoạn cần thiết để vi sinh vật thích nghi
với môi trường mới;
* Pha tăng trưởng (growth phase) đặc trưng bởi sự gia tăng nhiệt độ do quá trình
phân hủy sinh học đến ngưỡng nhiệt độ mesophilic;
* Pha ưa nhiệt (thermophilic phase) là giai đoạn nhiệt độ tăng cao nhất. Đây là
giai đoạn ổn đònh hóa chất thải và tiêu diệt vi sinh vật gây bệnh hiệu quả nhất. Phản
ứng hóa sinh này được đặc trưng bằng các phương trình (1) và (2) trong trường hợp
làm compost hiếu khí và kò khí như sau:
COHNS + O
2
+ VSV hiếu khí  CO
2
+ NH
3
+ Sản phẩm khác + Năng lượng (1)
CHONS + VSV kỵ khí  CO
2
+ H

+ H
2
O (3)-8-
SVTH: Nguyễn Duy Đại
Nghiên cứu sử dụng chủng Phanerochaete chrysosporium phân hủy rác hữu cơ làm compost
Nitrobactor bacteria
NO
2
-
+ ½ O
2
> NO
3

-
(4)
Kết hợp hai phản ứng (3) và (4), quá trình nitrate hóa xảy ra theo phương trình
phản ứng sau:
NH
4
+
+ 2O
2
 NO
3
-
+ 2H

+ 37O
2
+ 4CO
2
+ HCO
3
-
 21NO
3
-
+ C
5
H
7
O
2
N + 20H
2
O + 42H
+

Hình 2.1: Biến thiên nhiệt độ trong quá trình Composting
2.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình ủ Compost
Bao gồm nhiệt độ, độ ẩm, pH, kích thước nguyên liệu và nguồn đạm trong
nguyên liệu.
2.1.4.1 Nhiệt độ:
Nhiệt độ là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến hoạt tính của VSV trong quá
trình compost. Hầu hết các tài liệu cho thấy nên duy trì nhiệt độ 55-60
0
C trong luống

mặt lớn nên sẽ tăng sự tiếp xúc với oxy, có thể làm tăng vận tốc phân hủy trong một
khoảng độ xốp nhất đònh, vì hạt quá nhỏ sẽ có độ xốp thấp ức chế vận tốc phân hủy.
Hạt có kích thước quá lớn sẽ có độ xốp cao và có thể tao ra các kênh thổi khí làm
cho sự phân bổ khí không đồng đều, không có lợi cho quá trình ủ compost ảnh hưởng
đến chất lượng chế biến phân bón.
Kích thước hạt tối ưu cho quá trình chế biến trong khoảng đường kính từ 3-
50mm. Kích thước hạt có thể đạt tối ưu bằng cách cắt, nghiền, hoặc sàng vật liệu thô
ban đầu. Chất thải rắn sinh hoạt và chất thải nông nghiệp phải được nghiền đến kích
thước thích hợp trước khi làm phân. Phân bắc, bùn và phân động vật thường có kích
thước hạt mòn, thích hợp cho quá trình phân hủy sinh học.
2.1.4.5 Nguồn đạm trong nguyên liệu:
Thông số dinh dưỡng quan trọng nhất là tỉ lệ C/N, nhu cầu N trong nguyên liệu
làm compost chiếm khoảng 2-4% C ban đầu, hay nói cách khác tỉ lệ C/N khoảng
25/1.
Trong thực tế, việc tính toán và hiệu chỉnh chính xác tỉ số C/N tối ưu gặp khó
khăn do một phần các chất C như Cellulose và Lignin khó phân hủy sinh học, chỉ bò
phân hủy sau một thời gian dài. Một số chất dinh dưỡng cần thiết cho VSV không
sẵn có. Quá trình cố đònh N có thể xảy ra dưới tác dụng của nhóm vi khuẩn
-11-
SVTH: Nguyễn Duy Đại
Nghiên cứu sử dụng chủng Phanerochaete chrysosporium phân hủy rác hữu cơ làm compost
Azotobacter, đặc biệt khi có mặt đủ PO
4
3-
. Phân tích hàm lượng C khó đạt kết quả
chính xác.
Nếu tỉ lệ C/N của vật liệu làm compost cao hơn giá trò tối ưu sẽ hạn chế sự
phát triển của VSV do thiếu N. Chúng phải trải qua nhiều chu trình chuyển hóa, oxy
hóa phần C dư khi đạt tỉ lệ C/N ban đầu là 20-50 thời gian cần thiết là 14 ngày và tỉ
lệ C/N = 78, thời gian cần thiết là 21 ngày.

C
- Cung cấp không khí bằng quạt thổi.
- Rác được lưu trong thiết bò từ 3 đến 5 ngày, sau đó tiếp tục được ủ 30
đến 60 ngày.
Hình 2.3: Sơ đồ công nghệ kiểu DANO
-13-
SVTH: Nguyễn Duy Đại
Nghiên cứu sử dụng chủng Phanerochaete chrysosporium phân hủy rác hữu cơ làm compost
2.2.1.2 Kiểu Jersey
Rác thải được chuyển từ tầng cao xuống thấp, mỗi ngày một tầng. Kiểu ủ này
áp dụng với rác thải sinh hoạt, quá trình ủ hiếu khí.
Hình 2.4: Sơ đồ qui trình ủ kiểu Jersey
2.2.1.3 Ủ kiểu hiếu khí cưỡng bức
Hay còn gọi là phương pháp BARC (Beltsville Aerated Rapid Composting),
phương pháp này hiệu quả hơn, bảo quản nhiệt độ lớn hơn các phương pháp thông
thường, vì vậy tiêu diệt được phần lớn các vi sinh vật gây bệnh.
Kích thước: L x W x H = 12 x 6 x 2,5 m
Nhiệt độ 60 – 80
0
C, thời gian từ 3 đến 5 ngày, duy trì ủ 10 ngày.
2.2.1.4 Ủ kiểu Trung Quốc
Phương pháp này ủ không đảo trộn, thông khí bằng ống đục lỗ, sau 2 đến 3
ngày thì phủ trấu. Thời gian ủ 60 ngày.
2.2.1.5 Ủ kiểu windrow
Phương pháp này đảo trộn liên tục để cung cấp khí và để trồn đều nguyên liệu,
đẩy nhanh tốc độ phân hủy. Thời gian từ 20 đến 40 ngày, nhiệt độ tâm khối ủ
khoảng 65
0
C.
Kích thước: L x W x H = 13 x 3 x 1,5 m

SVTH: Nguyễn Duy Đại
Nghiên cứu sử dụng chủng Phanerochaete chrysosporium phân hủy rác hữu cơ làm compost
Hình 2.5: Sơ đồ công nghệ tại Cầu Diễn
2.2.2.2 Mô hình ủ compost kiểu luống
Mô hình ủ compost kiểu luống động trong nhà kín tại Đông Vinh được thiết kế
hoạt động liên tục, đảo trộn theo chu kỳ ngắn. Trong đó hỗn hợp nguyên liệu hữu cơ
được đưa tới đầu vào của hệ thống, vận chuyển liên tục trong quá trình ủ bằng cách
đảo trộn và sau cùng sản phẩm được lấy ra ở đầu cuối của hệ thống.
Toàn bộ quá trình ủ compost ở đây được thực hiện trong nhà kín có thiết kế
thông khí và xử lý khí thải bằng “biofilter”. Luống ủ được thiết kế với kích thước lớn
và liên tục giúp tiết kiệm diện tích mặt bằng, dễ vận hành.
Mô hình ủ luống động cũng được áp dụng tại nhà máy xử lý rác Nam Thành
Ninh Thuận.
-16-
SVTH: Nguyễn Duy Đại
Nghiên cứu sử dụng chủng Phanerochaete chrysosporium phân hủy rác hữu cơ làm compost
Nguyên liệu chủ yếu là rác thải sinh hoạt. Nguồn rác thải này được công ty trực
tiếp thu gom tại thành phố Phan Rang Tháp Chàm và các khu vực lân cận với khối
lượng trung bình từ 100-150 tấn/1ngày.
Thành phần các chất có trong rác thải sinh hoạt tại Ninh Thuận phức tạp (được
nêu trong bảng1.1) cho nên đã ảnh hưởng lớn đến quá trình làm Compost. Qua
nghiên cứu, ông Trần Đình Minh tổng giám đốc Công ty Nam Thành đã thành công
và hoàn tất quy trình công nghệ sản xuất Compost.(xem hình 2.6).
Bảng 2.1 Thành phần các chất có trong rác thải sinh hoạt tại Ninh Thuận
STT Thành phần % Khối lượng
1 Chất hữu cơ 65 - 95
2 Giấy 0.05 - 25
3 Catton 0 - 0.01
4 Vải 0 - 5
5 Nilon 1.5 - 17.5

NTC Protect 180 – 240 lit/ 1 ngày
Men đặc chủng chế
biến phân bón
NTC KB Tùy theo số lượng sản
xuất
Nguồn: Số liệu từ công ty Nam Thành
Từ nhà tiếp nhận, rác theo băng tải và được phân loại sơ bộ lần 1 (thủ công)
để tách các vật thể có kích thước lớn, sau đó rác được đưa vào máy đập (xưởng 1) để
xé các túi đựng rác, nghiền và tách sơ bộ các vật thể như gạch, cát, và các loại vỏ
chai, sau đó rác theo băng chuyền qua hệ thống tách từ, thu sắt vụn, tách gió thu
nilon.
Tại xưởng 1, rác tiếp tục được phun vi sinh khử mùi, theo hệ thống băng chuyền
đến xưởng 2 để tách lựa lần 2, sử dụng thiết bò như sàng lồng, tách từ, tách gió, tách
thủ công và sàng cát loại bỏ các vật thể rắn không phân hủy như xà bần, cát, thủy
tinh… và thu được sắt vụn, nilon, hữu cơ.
Sau giai đoạn phân loại lần 2, rác thải tương đối đồng nhất (thành phần hữu cơ
chiếm tỉ lệ cao hơn nhiều so với rác ban đầu) vật thể rắn không tái sản xuất được
như xà bần, cát, thủy tinh sẽ được mang đi chôn lấp hợp vệ sinh và đúng qui đònh.
Các vật thể tái sử dụng được đưa vào kho phế liệu để bán cho các cơ sở tái sản xuất.
Còn các loại nhựa, hạt nhựa để sản xuất các loại bao bì.
Tất cả các loại rác hữu cơ sau phân loại theo băng chuyền sẽ được phun vi sinh
phân hủy vi sinh kháng bệnh, tiếp theo sử dụng xe cơ giới chuyển vào hầm ủ.
Tại hầm ủ tiếp tục phun bổ sung vi sinh phân hủy khử mùi, kháng bệnh (phun
khi xe cơ giới đổ rác vào hầm). Trước khi tiếp nhận rác vào hầm ủ, tổ kỹ thuật kiểm
-19-
SVTH: Nguyễn Duy Đại
Nghiên cứu sử dụng chủng Phanerochaete chrysosporium phân hủy rác hữu cơ làm compost
tra các chỉ tiêu như độ ẩm, tạp chất (cát, nilon, phi hữu cơ khác nếu vượt qui đònh cho
quay lại tách lựa).
Thời gian ủ trong hầm từ 20 - 30 ngày thì rác thải đã được mùn hóa, độ ẩm đạt

lượng rác bỏ ra bãi chôn lấp rất ít đã góp phần giảm diện tích xây dựng bãi chôn lấp.
Hạn chế ô nhiễm phát sinh tại bãi chôn lấp hiện nay, góp phần bảo vệ môi trường
sạch đẹp.
Các phân xưởng được xây dựng sắp xếp khoa học và hợp lý, tạo điều kiện dễ
dàng cho công nhân làm việc cũng như việc sản xuất đạt hiệu quả nhất. Khâu phân
loại đầu vào rất chặt chẽ và nghiêm ngặt được thực hiện bằng tay, kết hợp với máy
móc một cách hợp lý. Điều này có ý nghóa vô cùng quan trọng đối với chất lượng
phân thành phẩm. Công nghệ máy móc với các thiết bò hoàn chỉnh dễ vận hành, chế
tạo và thay thế. Trong nhà máy bao gồm cả phân xưởng cơ khí tạo điều kiện cho
việc bảo trì sửa chữa các thiết bò máy móc được nhanh chóng, dễ dàng và thuận tiện.
Đảm bảo vệ sinh trong và ngoài nhà máy, có hệ thống thu hồi nước rỉ rác tại
khâu phân loại và ủ hiếu khí để sử dụng hồi ẩm, phục vụ cho quá trình ủ lên men,
không gây ảnh hưởng đến tầng nước ngầm. Trong qui trình sản xuất nhà máy có sử
dụng các chế phẩm sinh học để bảo vệ môi trường và nâng cao chất lượng phân bón.
Có qui trình công nghệ tái chế tạo ra nguồn lợi nhuận từ việc tái chế và sản
xuất hạt nhựa, phôi nhựa, bao bì từ rác thải, đồng thời góp phần bảo vệ môi trường,
tránh sử dụng lãng phí tài nguyên, vì đây là những vật liệu có thời gian phân hủy
khá dài, nếu đem chôn lấp. Chi phí đầu tư ban đầu và chi phí về năng lượng không
quá cao. Trình độ vận hành của công nhân không đòi hỏi cao.
-21-
SVTH: Nguyễn Duy Đại
Nghiên cứu sử dụng chủng Phanerochaete chrysosporium phân hủy rác hữu cơ làm compost
* Nhược điểm:
Ở khâu sản xuất mùn tinh, bụi sinh ra từ hệ thống sàng rung gây ảnh hưởng
không tốt đến môi trường làm việc cũng như sức khỏe công nhân. Khâu phân loại
rác đầu vào tại nhà máy, tuy đã có sự tham gia của máy móc nhưng phần lớn vẫn là
phân loại thủ công do công nhân đảm nhiệm. Điều này làm tốn nhiều thời gian sản
xuất, đồng thời ảnh hưởng đến sức khỏe công nhân. Tốn mặt bằng xây dựng.
2.2.2.3 Mô hình ủ compost trong thiết bò kín
Mô hình ủ compost trong thiết bò kín kiểu đứng hiện đang nghiên cứu và áp

nhất, vì phương pháp này là điển hình của phương pháp ủ phân qui mô lớn, cũng
thường là tiêu chuẩn để các phương pháp khác làm so sánh.
Phương pháp ủ compost ngoài trời là phương pháp ủ mà vật liệu ủ được đổ
thành từng luống ủ hẹp dài hoặc đống nhỏ. Các luống ủ này được làm thoáng bằng
các phương tiện thụ động như khuếch tán, gió, đối lưu nhiệt. Để hỗ trợ cho thoáng
khí thụ động, các luống ủ này phải được xới trộn lên đều đặn. Xới trộn là một cách
khuấy đảo nguyên liệu hoàn hảo được thực hiện bằng máy xới hoặc thiết bò trộn đặc
-23-
SVTH: Nguyễn Duy Đại
Nghiên cứu sử dụng chủng Phanerochaete chrysosporium phân hủy rác hữu cơ làm compost
biệt. Trong thực tế, số lần trộn và thời gian giữa các lần trộn rất khác nhau khoảng 3
hoặc 4 lần trong 6 đến 12 tháng cho tới 40 lần trong vòng 2 tháng.
Việc xáo trộn và cung cấp nguồn dưỡng chất, làm nguyên liệu đồng nhất trong
luống ủ; giải phóng gas và nhiệt; giải phóng nước, chất dinh dưỡng và vi sinh ra khỏi
luống ủ; trao đổi khí từ môi trường oxy mất trên bề mặt luống ủ đến nơi oxy thiếu và
ấm hơn gần trung tâm luống. Tùy thuộc vào sự cung cấp nguồn dưỡng chất và sự
thâm nhập của thiết bò trộn, việc xới trộn cũng làm nhỏ đi kích thước hạt. Người ta
thường nói rằng, việc xới trộn sẽ làm thoáng khí các luống ủ. Điều này đúng nhưng
chỉ đúng với qui mô ủ giới hạn, mặc dù việc xới trộn bổ sung không khí sạch và oxy,
vi sinh tiêu thụ oxy trong nhiều giờ. Giữa các lần xới trộn, các luống ủ phải thông
khí thụ động để duy trì hiếu khí. Hơn nữa, việc xới trộn nguyên liệu xốp trong luống
ủ làm gia tăng trạng thái xốp, giảm độ nén, và làm cho việc thoáng khí tự động trở
nên hiệu quả hơn. Michel et al. (1996) cho rằng điều này không cần thiết trong
trường hợp thử nghiệm xới trộn luống ủ trên sân phơi được xếp ngăn nắp, độ nén của
các đống ủ tăng lên sau khi xới trộn – luống ủ trở nên nhỏ hơn sau khi xới. Tính hiệu
quả của việc xới trộn trên các đống ủ có độ nén phụ thuộc vào việc cung cấp nguồn
dưỡng chất và giai đoạn ủ compost. Nếu mất nguyên liệu dễ vỡ như lá cây, việc xới
trộn làm giảm kích thước hạt và làm tăng độ nén đống ủ. Đối với nguyên liệu đã cô
đặc như phân hoặc phân gần thành compost, việc xáo trộn làm giảm độ nén đống ủ.
Tuy nhiên, hiệu quả chỉ có thể kéo dài trong vài ngày tới khi nguyên liệu được xới

Vật liệu ủ được di chuyển liên tục theo chiều dài ngăn phản ứng trong suốt quá trình.
Trong container thổi khí, vật liệu ủ được chứa đựng trong các container khác
nhau, như thùng chứa chất thải rắn hoặc túi polyethylene…thổi khí cưỡng bức được sử
dụng cho quá trình ủ dạng mẻ, không có sự rung hay xáo trộn trong container. Tuy
nhiên, ở giữa quá trình ủ, vật liệu ủ thường được trộn ở bên ngoài trời, sau đó cho
-25-
SVTH: Nguyễn Duy Đại


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status