hệ thống các chính sách và biện pháp hỗ trợ để thực hiện định hướng phát triển xuất nhập khẩu 2001-2010 - Pdf 10

Lời nói đầu
Hớng về xuất khẩu và trên cơ sở đó đề ra những mục tiêu cho nhập khẩu
là một trong những chiến lợc đợc nhà nớc ta đặc biệt quan tâm trong những
năm gần đây. Điều này không chỉ do tầm quan trọng của xuất khẩu mà xuất
phát từ tình hình phát triển kinh tế của nớc ta hiện nay. Hớng về xuất khẩu
giúp cho chúng ta phát triển nhanh về kinh tế và khắc phục đợc những khó
khăn chúng ta đang gặp phải: thiếu công ăn việc làm, nghèn nàn về ngoại tệ,
trình độ khoa học kỹ thuật thấp kém và đặc biệt quan trọng là sự mất cân đối
giữa xuất khẩu và nhập khẩu.
Do vậy, việc đề ra chiến lợc xuất nhập khẩu là hoàn toàn cần thiết. Trong
phạm vi bài viết này, chúng em sẽ đề cập đến những thông tin khát quát nhất
về tình hình xuất nhập khẩu của nớc ta trong những năm vừa qua, đồng thời đa
ra những chiến lợc quan trọng cho kế hoạch xuất nhập khẩu giai đoạn 2001-
2010 đã đợc Đảng và Nớc ta thông qua.
Do thời gian có hạn và do hạn chế trong việc thu thập thông tin, bài viết
của chúng em chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót. Mong thầy cô giáo
và các bạn xem xét và đóng góp ý kiến để bài viết hoàn chỉnh hơn.
Sinh viên thực hiện: Doãn Văn Thiệp
Lớp: Nhật 1 - K38F
- 1 -
Ch ơng I
Đánh giá tổng quát hoạt động xuất - nhập khẩu
thời kỳ 1991-2000
I. Những thành tựu đã đạt đợc
Nhìn chung, trong 10 năm qua, lĩnh vực xuất - nhập khẩu của nớc ta đã
đạt đợc nhiều thành tựu to lớn. Giá trị kim ngạch xuất khẩu năm 2000 đạt
khoảng 13, 5 tỷ USD, gấp 5, 6 lần kim ngạch xuất khẩu năm 1990 là 2, 4 tỷ
USD. Nhịp độ tăng trởng bình quân trong giai đoạn 1991-2000 là 18, 4%/năm,
nhanh hơn tốc độ tăng trởng GDP bình quân cùng kỳ (7, 6%/năm) khoảng 2, 6
lần.
Cơ cấu xuất khẩu đã đợc cải thiện theo hớng "tăng các mặt hàng chế

qua các chơng trình hỗ trợ nh trợ cấp, trợ giá, lập Quỹ Hỗ trợ, Quỹ thởng
Hành lang pháp lý từng bớc đợc hoàn thiện, đặc biệt chúng ta đã thông qua đ-
ợc Luật Thơng mại.
- 2 -
Những thành tựu trên bắt nguồn từ những nguyên nhân chủ yếu sau:
- Công cuộc đổi mới đã thúc đẩy lực lợng sản xuất phát triển, cơ cấu sản
xuất chuyển dịch dần, từ đó thúc đẩy xuất khẩu và cải thiện cơ cấu xuất nhập
khẩu.
- Xuất khẩu đợc đặt thành một nhiệm vụ trọng tâm. Các cơ chế chính
sách ngày càng phù hợp, thông thoáng, đã tạo thuận lợi cho các ngành sản
xuất, các địa phơng và các thành phần kinh tế tham gia hoạt động xuất nhập
khẩu.
- Chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phơng hóa, từng
bớc hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới đã góp phần đẩy lùi chính
sách bao vây cấm vận và giúp cho việc mở rộng thị trờng xuất nhập khẩu. Đầu
t nớc ngoài chiếm tỷ trọng ngày càng lớn trong kinh doanh xuất nhập khẩu (từ
4% năm 1994 lên 22, 3% năm 1999, nếu kể cả dầu khí thì lên tới 35%).
II. Những vấn đề tồn tại
Hiện nay, quy mô xuất khẩu của Việt Nam còn quá nhỏ so với các nớc
khác trong khu vực. Giá trị xuất khẩu bình quân tính theo đầu ngời của Việt
Nam vào khoảng 175 USD trong năm 2000, trong khi Malaysia vào năm 1996
đã đạt mức 3700 USD, Thái Lan 933 USD và Philippin là 285 USD. Riêng
Trung Quốc, kim ngạch xuất khẩu năm 1999 đạt 195 tỷ USD, mức bình quân
đầu ngời đạt khoảng 163 USD.
Việc chuyển dịch cơ cấu sản xuất, cơ cấu ngành hàng của Việt Nam hiện
nay còn cha bám sát với những dấu hiệu của thị trờng thế giới, nên nhiều sản
phẩm làm ra không có khả năng tiêu thụ. Khả năng cạnh tranh của nhiều hàng
hóa còn thấp do giá thành cao, chất lợng còn kém, mẫu mã cha phù hợp với
nhu cầu thị trờng. Tỷ trọng hàng thô và sơ chế trong cơ cấu xuất khẩu còn khá
cao. Trong số sản phẩm chế biến, hàng gia công còn chiếm tỷ trọng lớn. Tỷ

thời kỳ 2001-2010
I. Tình hình trong nớc, thế giới và những thuận lợi, khó
khăn đặt ra cho hoạt động xuất nhập khẩu
Bớc vào thời kỳ 2001-2010, thế và lực của Việt Nam đã khác hẳn so với
10 năm trớc đây. Đất nớc đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế xã hội, cơ sở hạ tầng
và năng lực sản xuất đợc cải thiện đáng kể, thị trờng đợc mở rộng. Tuy nhiên,
trình độ phát triển kinh tế của nớc ta còn thấp, GDP bình quân đầu ngời năm
2000 mới đạt gần 400 USD. Cơ cấu kinh tế và trình độ công nghệ nhìn chung
còn lạc hậu. Khả năng cạnh tranh còn thấp ở cả cấp độ quốc gia, doanh nghiệp
lẫn sản phẩm.
Trên bình diện quốc tế, khoa học và công nghệ phát triển mạnh mẽ và
đang trở thành lực lợng sản xuất trực tiếp, đa thế giới vào thời kỳ phát triển
mới: thời kỳ kinh tế tri thức và xã hội thông tin. Các ngành dịch vụ và các
ngành kinh tế giàu hàm lợng chất xám phát triển mạnh. Khái niệm thơng mại
đợc mở rộng, bao gồm cả các sản phẩm hữu hình của nền sản xuất truyền
thống lẫn các sản phẩm "mềm" của nền sản xuất dựa vào tri thức. Mức độ phổ
cập của mạng Internet khiến tỷ trọng của thơng mại điện tử tăng nhanh, qua
đó thay đổi hẳn phơng thức kinh doanh. Theo số liệu của UNCTAD thì nếu
trong năm 1995, giá trị thơng mại điện tử mới đạt 100 triệu USD thì đến năm
1999 đã là 180 tỷ USD và năm 2002 dự kiến sẽ lên tới khoảng 1. 234 tỷ USD.
Xu hớng toàn cầu hóa, khu vực hóa sẽ tiếp tục diễn biến với các mặt tích
cực và tiêu cực của nó. Đặc biệt, cuộc khủng hoảng vừa qua cho thấy kinh tế
thế giới và khu vực còn ẩn chứa nhiều nhân tố bất trắc. Không loại trừ khả
năng sẽ còn xảy ra các cuộc khủng hoảng về kinh tế và tài chính mới.
Trong nền kinh tế thế giới, các nớc công nghiệp phát triển vẫn giữ vị trí
áp đảo. Mỹ sẽ tiếp tục là siêu cờng hàng đầu, vừa cạnh tranh gay gắt, vừa tìm
cách dung hòa lợi ích với Tây Âu, Nhật, Nga, Trung Quốc, và ở một chừng
mực nào đó là ấn Độ, sẽ chiếm vị trí ngày càng lớn trong nền kinh tế và thơng
mại thế giới. Khu vực châu á - Thái Bình Dơng đang hồi phục nhanh chóng
sau khủng hoảng, sẽ tiếp tục là một thị trờng tiêu thụ rộng lớn và cùng châu

khăn trên, mà phải từng bớc khắc phục để nâng cao hiệu quả hoạt động xuất
nhập khẩu trong tơng lai.
II. Mục tiêu và quan điểm phát triển xuất - nhập khẩu
Hoạt động xuất - nhập khẩu trong 10 năm tới cần phục vụ trực tiếp cho
mục tiêu chung đã đợc thông qua tại Đại hội lần thứ IX của Đảng với nội dung
cơ bản là: nỗ lực gia tăng tốc độ tăng trởng xuất khẩu, góp phần đẩy mạnh
công cuộc công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nớc, tạo công ăn việc làm, thu
ngoại tệ, chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu theo hớng nâng cao giá trị gia tăng, gia
tăng tỷ trọng xuất khẩu sản phẩm chế biến và chế tạo, các loại sản phẩm có
hàm lợng công nghệ và chất xám cao, thúc đẩy xuất khẩu dịch vụ, về nhập
khẩu u tiên nhập khẩu các trang thiết bị và nguyên vật liệu phục vụ sản xuất,
nhất là công nghệ tiên tiến, bảo đảm cán cân thơng mại ở mức hợp lý, tiến tới
cân bằng kim ngạch xuất - nhập khẩu, mở rộng và đa dạng hóa thị trờng và
phơng thức kinh doanh, hội nhập hơn nữa vào nền kinh tế khu vực và thế giới.
Để hoàn chỉnh và triển khai Chiến lợc phát triển xuất - nhập khẩu hàng
hóa và dịch vụ thời kỳ 2001-2010 và đẩy mạnh xuất khẩu trong thời gian tới,
Thủ tớng Chính phủ yêu cầu các Bộ, ngành, Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành
phố trực thuộc Trung ơng và các doanh nghiệp sản xuất - kinh doanh xuất,
nhập khẩu quán triệt những nội dung cơ bản và xúc tiến thực hiện những công
việc dới đây:
1. Chiến lợc phát triển xuất - nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ thời kỳ 2001
- 2010, nhất là xuất khẩu, phải là Chiến lợc tăng tốc toàn diện trên nhiều lĩnh
vực, phải có những khâu đột phá với bớc đi vững chắc. Mục tiêu hành động
của thời kỳ này là tiếp tục chủ trơng dành u tiên cao nhất cho xuất khẩu; tạo
nguồn hàng có chất lợng, có giá trị gia tăng và sức cạnh tranh cao để xuất
khẩu; góp phần giải quyết việc làm cho xã hội, tạo nguồn dự trữ ngoại tệ, đáp
ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc; nhanh chóng rút ngắn
khoảng cách phát triển kinh tế giữa nớc ta và các nớc trong khu vực.
2. Xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ thời kỳ 2001 - 2010 phải đạt mức tăng
trởng bình quân từ 15%/năm trở lên và phải đáp ứng các yêu cầu sau đây:

ợc triển khai mạnh mẽ nhằm tạo môi trờng quốc tế thuận lợi cho xuất khẩu.
Các chơng trình xúc tiến thơng mại, mở rộng thị trờng cần đợc cụ thể hóa và
gắn với hoạt động đối ngoại, tranh thủ ngoại giao hỗ trợ việc ký kết các Hiệp
định khung, các thoả thuận và các Hợp đồng dài hạn có giá trị lớn với các
quốc gia, các Tổ chức quốc tế, các thị trờng lớn để tạo đầu ra ổn định và từ đó
có cơ sở cho đầu t đổi mới công nghệ, nâng cao giá trị nội địa hóa, giá trị gia
tăng hàng xuất khẩu.
Theo chức năng của mình, các Bộ, ngành, các cơ quan đại diện của Việt
Nam ở nớc ngoài phải đẩy mạnh hoạt động đối ngoại, tăng cờng hợp tác quốc
tế để mở rộng thị trờng xuất khẩu. Các Hiệp hội ngành hàng phải có vai trò
tích cực trong việc phối hợp nỗ lực của các doanh nghiệp và hỗ trợ các doanh
nghiệp tăng cờng công tác tìm kiếm thị trờng, khách hàng; xây dựng và thỏa
thuận các chơng trình hành động nhằm bảo vệ, nâng cao uy tín cũng nh quyền
lợi chung của Hiệp hội, của mỗi thành viên và của quốc gia trong cạnh tranh
trên thị trờng quốc tế.
3. Nhập khẩu phải đợc định hớng chặt chẽ; tăng trởng bình quân nhập
khẩu cả thời kỳ 2001 - 2010 đợc duy trì ở mức 14%/năm; chú trọng nhập khẩu
công nghệ cao để đáp ứng yêu cầu của các ngành chế biến nông, lâm, thuỷ hải
sản và sản xuất hàng công nghiệp nhẹ; đồng thời, phải gắn với việc phát triển,
sử dụng các công nghệ, giống cây con và vật liệu mới đợc sản xuất trong nớc.
Hạn chế việc nhập khẩu các sản phẩm trong nớc đã sản xuất đợc và sản
xuất có chất lợng, đạt tiêu chuẩn quốc gia, quốc tế; tăng cờng tiếp cận các thị
- 7 -
trờng cung ứng công nghệ nguồn và có khả năng đầu t hiệu quả nh Tây Âu,
Mỹ, Nhật Bản.
Các chính sách, cơ chế điều hành nhập khẩu trong giai đoạn này phải đợc
xem xét phù hợp với tiến trình thực hiện các cam kết hội nhập quốc tế của
Chính phủ ta với các Tổ chức quốc tế, khu vực và các cam kết đa phơng, song
phơng khác.
4. Hiện nay, vai trò và khả năng của các ngành dịch vụ xuất khẩu, dịch

b) Xuất khẩu dịch vụ:
- Tốc độ tăng trởng bình quân trong thời kỳ 2001-2010 là 15%/năm.
- Giá trị tăng từ khoảng 2 tỷ USD năm 2000 lên 4 tỷ USD vào năm 2005
và 8, 1 tỷ USD vào năm 2010, tức là gấp hơn 4 lần.
c) Tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng từ khoảng 15, 5
tỷ USD vào năm 2000 lên 32, 4 tỷ USD vào năm 2005 và 62, 7 tỷ USD vào
năm 2010.
- 8 -
1.2. Về nhập khẩu
a) Nhập khẩu hàng hóa:
- Tốc độ tăng trởng bình quân trong thời kỳ 2001-2010 là 14%/năm,
trong đó thời kỳ 2001-2005 là 15% và thời kỳ 2006-2010 là 13%.
- Giá trị kim ngạch tăng từ khoảng 14, 5 tỷ USD năm 2000 lên 29, 2 tỷ
USD năm 2005 (cả thời kỳ 2001-2005 nhập khẩu 112 tỷ USD) và 53, 7 tỷ
USD vào năm 2010.
b) Nhập khẩu dịch vụ:
- Tốc độ tăng trởng bình quân trong thời kỳ 2001-2010 là 11%/năm.
- Giá trị tăng từ khoảng 1, 2 tỷ USD năm 2000 lên 2, 02 tỷ USD năm
2005 và 3, 4 tỷ USD năm 2010.
c) Tổng kim ngạch nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ tăng từ khoảng 15, 7
tỷ USD năm 2000 lên 31, 2 tỷ USD năm 2005 và 57, 14 tỷ USD năm 2010.
Nh vậy, trong 5 năm đầu (2001-2005), nhập siêu về hàng hóa giảm dần,
mỗi năm bình quân 900 triệu USD và cả thời kỳ là 4, 73 tỷ USD, 5 năm sau
(2006-2010) nhập siêu tiếp tục giảm. Đến năm 2008, chúng ta sẽ cân bằng cán
cân xuất nhập khẩu hàng hóa và phấn đấu xuất siêu khoảng 1 tỷ USD vào năm
2010. Nếu tính cả xuất khẩu dịch vụ thì tới năm 2002, chúng ta sẽ cân bằng
xuất nhập khẩu và bắt đầu xuất siêu, với mức xuất siêu dự kiến năm 2010 đạt
khoảng 5, 5 tỷ USD.
2. Về cơ cấu hàng hóa xuất - nhập khẩu và cơ cấu dịch vụ
2.1. Cơ cấu hàng hóa xuất khẩu

phẩm/năm, trị giá trên 3 tỷ USD. Nhập khẩu xăng dầu vào năm 2010 chỉ còn
khoảng 4 triệu tấn, giảm 50% so với 8 triệu tấn hiện nay.
Về than đá, dự kiến nhu cầu nội địa sẽ tăng đáng kể do xây các nhà máy
nhiệt điện mới nên dù sản lợng có thể lên tới 15 triệu tấn/năm (hiện nay là 10-
12 triệu tấn/năm), xuất khẩu cũng sẽ chỉ dao động ở mức 4 triệu tấn/năm trong
10 năm tới, mang lại kim ngạch mỗi năm khoảng 120-150 triệu USD. Nhiệm
vụ chủ yếu trong những năm tới là cố gắng duy trì những thị trờng đã có nh
Nhật Bản, Trung Quốc, Tây Âu và tăng cờng thâm nhập vào các thị trờng
Thái Lan, Hàn Quốc
Khả năng tăng xuất khẩu các loại khoáng sản khác để bù vào thiếu hụt
của dầu thô là rất hạn chế. Cho đến năm 2010, quặng Apatit khai thác ra chỉ
có thể đáp ứng một phần cho nhu cầu sản xuất phân bón, cha có khả năng
tham gia xuất khẩu. Quặng sắt khó có khả năng xuất khẩu với số lợng lớn bởi
nhu cầu trong nớc sẽ tăng mạnh. Đất hiếm có trữ lợng thơng mại không nhiều,
việc xuất khẩu lại rất khó khăn do công nghệ chế biến phức tạp, cung cầu thế
giới đã ổn định. Các loại quặng khác trữ lợng đều không đáng kể.
Nh vậy, tới năm 2005, nhóm nguyên nhiên liệu có khả năng chỉ còn đóng
góp đợc khoảng 9% kim ngạch xuất khẩu (2, 5 tỷ USD) so với trên 20% hiện
nay. Đến năm 2010, tỷ trọng của nhóm này sẽ giảm xuống còn cha đầy 1% (d-
ới 500 triệu USD) hoặc 3, 5% (khoảng 1, 75 tỷ USD), tùy theo phơng án khai
thác dầu thô. Vì vậy, việc tìm ra các mặt hàng mới để thay thế là một thách
thức lớn đối với việc gia tăng xuất khẩu.
2.1.2. Nhóm hàng nông, lâm, thủy sản
Hiện nay nhóm này đang chiếm gần 25% kim ngạch xuất khẩu với
những mặt hàng chủ yếu là gạo, cà phê, cao su, chè, rau quả, thủy sản, hạt tiêu
và nhân điều. Do sản xuất nông nghiệp phải chịu những hạn chế mang tính cơ
cấu (nh diện tích có hạn, khả năng khai thác và đánh bắt có hạn ) và thời tiết
nên theo dự thảo Chiến lợc chung, tốc độ tăng trởng của nhóm này sẽ chỉ ở
mức 4%/năm trong toàn kỳ 2001-2010. Bên cạnh đó, nhu cầu của thị trờng thế
giới cũng có hạn, giá cả lại không ổn định. Vì vậy, dù kim ngạch tuyệt đối vẫn

với Thái Lan để điều tiết nguồn cung, ổn định giá cả thị trờng, tăng hiệu quả
xuất khẩu gạo.
Về nhân điều, xuất khẩu có thể tăng kim ngạch từ 115 triệu USD năm
2000 lên tới khoảng 400 triệu USD hay cao hơn vào năm 2010 vì nhu cầu còn
lớn, liên tục tăng, và tiềm năng của nớc ta còn lớn. Một số dự báo cho thấy
nhu cầu sẽ tăng bình quân 7%/năm trong 10 năm tới và sẽ đạt mức 160-200.
000 tấn, giá xuất khẩu cũng tăng, từ 3. 799 USD/tấn năm 1994 lên 5. 984
USD/tấn. Thị trờng chủ yếu là Mỹ, EU, Australia, Trung Quốc.
Hạt tiêu xuất khẩu trên thế giới khoảng 200. 000 tấn/năm, giá cả dao
động lớn. Ta có khả năng mở rộng sản xuất, gia tăng sản lợng, từ đó có khả
năng tăng lên thành 230-250 triệu USD so với 160 triệu USD hiện nay. Thị tr-
ờng chủ yếu là Châu Âu, Mỹ, Nhật, Trung Quốc, Trung Đông.
Về các loại rau, hoa và quả khác, Thủ tớng Chính phủ đã có Quyết định
số 182/1999/QĐ-TTg ngày 03/9/1999 phê duyệt đề án phát triển đến năm
2010, theo đó kim ngạch xuất khẩu rau, hoa và quả sẽ đợc đa lên khoảng 1, 2
tỷ USD với thị trờng là Nhật, Nga, Trung Quốc, Châu Âu. Nếu có quy hoạch
các vùng chuyên canh và đầu t thỏa đáng vào các khâu nh giống, kỹ thuật
trồng và chăm sóc, công nghệ sau thu hoạch thì thậm chí có thể thực hiện v-
ợt mục tiêu trên, đạt kim ngạch 1, 6 tỷ USD.
Về cà phê, do sản lợng và giá cả phụ thuộc nhiều vào điều kiện thời tiết
nên rất khó dự báo chuẩn xác về khối lợng và giá trị xuất khẩu trong những
năm tới. Nếu thuận lợi, xuất khẩu có thể đạt 750 ngàn tấn vào năm 2010 với
kim ngạch khoảng 850 triệu USD, đa Việt Nam vợt qua Colombia để trở thành
nớc xuất khẩu cà phê lớn thứ hai trên thế giới. Để đạt giá trị cao, nên chú
trọng phát triển cà phê chè (Arabica), tự tổ chức hoặc thu hút đầu t nớc ngoài
vào lĩnh vực chế biến cà phê rang xay và cà phê hòa tan. Thị trờng xuất khẩu
chính vẫn là EU, Hoa Kỳ, Singapore và Nhật Bản. Nói chung, xuất khẩu cà
phê sẽ không gặp khó khăn lớn về thị trờng nhng về giá cả sẽ khó ổn định.
Với hai mặt hàng quan trọng còn lại là cao su và chè, Chính phủ đều đã
có đề án phát triển. Tuy nhiên, cần tính lại vấn đề phát triển cao su vì nhu cầu

Hiện nay kim ngạch của nhóm này đã đạt trên 4 tỷ USD, tức là trên 30%
kim ngạch xuất khẩu. Mục tiêu phấn đấu vào năm 2010 là 20-21 tỷ USD, tăng
hơn 5 lần so với hiện nay và chiếm khoảng 40% kim ngạch xuất khẩu.
Hạt nhân của nhóm, cho tới năm 2010, vẫn sẽ là hai mặt hàng dệt may và
giầy dép, là những lĩnh vực có thể thu hút nhiều lao động. Kim ngạch của mỗi
mặt hàng phải đạt khoảng 7-7, 5 tỷ USD. Nh vậy, dệt may sẽ phải tăng bình
quân 14%/năm, giày dép tăng bình quân 15-16%/năm. Với Hiệp định Thơng
mại Việt Nam - Hoa Kỳ vừa ký kết thì mục tiêu tăng trởng trên là khả thi. H-
ớng phát triển cơ bản của hai ngành dệt may và giày dép trong 10 năm tới là
gia tăng nỗ lực thâm nhập các thị trờng mới, đặc biệt là thị trờng Mỹ, Trung
Đông và châu Đại Dơng, ổn định và tăng thị phần trên các thị trờng quen
thuộc nh EU, Nhật Bản, đặc biệt là Nhật Bản bởi đây là thị trờng phi quota,
chuyển dần từ hình thức gia công là chính sang nội địa hóa trên cơ sở tăng c-
ờng đầu t sản xuất nguyên phụ liệu đầu vào, tạo nhãn hiệu có uy tín, chuyển
mạnh sang bán FOB, thu hút mạnh đầu t nớc ngoài, nhất là đầu t từ EU, Mỹ,
Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan để tăng cờng năng lực thâm nhập trở lại các
thị trờng này và đi vào các thị trờng khác. Chính sách thơng mại của Nhà nớc,
mà cụ thể là chính sách thuế, chính sách thị trờng, cần hỗ trợ đắc lực cho tiến
trình này.
Do mục tiêu kim ngạch của toàn nhóm chế biến, chế tạo vào năm 2010 là
trên 20 tỷ USD nên ngoài dệt may và giày dép cần nỗ lực tiếp cận thị trờng
quốc tế, dự báo nhu cầu của ngời tiêu dùng để từ đó cố gắng tạo ra những
ngành hàng mới.
Trớc mắt, chủ yếu dựa trên cơ cấu đầu t và thực tiễn xuất khẩu trong
những năm qua cũng nh thị trờng quốc tế, có thể dự báo những mặt hàng nh:
- 12 -
* Thủ công mỹ nghệ: Kim ngạch hiện nay đã đạt xấp xỉ 200 triệu USD.
Đây là ngành hàng mà chúng ta còn nhiều tiềm năng, dung lợng thị trờng thế
giới còn lớn. Nếu có chính sách đúng đắn để khơi dậy tiềm năng thì có thể
nâng kim ngạch lên 800 triệu USD vào năm 2005 và 1, 5 tỷ USD vào năm

gắng len vào các thị trờng khác nh EU, Nhật Bản, Nga, Hoa Kỳ.
* Sản phẩm cơ khí, điện: Mặc dù kim ngạch hiện nay mới đạt trên dới 10
triệu USD nhng Việt Nam hoàn toàn có khả năng tăng kim ngạch lên 300 triệu
USD vào năm 2005 và 1 tỷ USD vào năm 2010. Chúng ta nên có chính sách
thu hút đầu t nớc ngoài, hớng về xuất khẩu. Thị trờng định hớng đối với xe
đạp là EU và Hoa Kỳ, với các sản phẩm khác là các nớc ASEAN, Trung Đông
và Châu Phi.
* Sản phẩm nhựa: Kết quả xuất khẩu sản phẩm nhựa trong những năm
gần đây là đáng khích lệ, nớc ta đã bắt đầu xuất khẩu sang Campuchia, Lào,
Trung Quốc và các nớc Nam á nh ấn Độ, Sri Lanka. Mặt hàng chủ yếu là bạt
nhựa và đồ nhựa gia dụng. Trong những năm tới, chúng ta cần có đầu t thỏa
đáng vào khâu chất lợng và mẫu mã để mở rộng thị phần trên các thị trờng
hiện có, tăng cờng thâm nhập các thị trờng mới nh Nhật Bản, EU và Hoa Kỳ.
Về sản phẩm, bên cạnh đồ nhựa gia dụng cần chú ý phát triển nhựa công
nghiệp và đồ chơi bằng nhựa. Nếu làm đợc những việc này, kim ngạch có thể
đạt 200 triệu USD vào năm 2005 và 600 triệu USD vào năm 2010.
Nh vậy, bên cạnh dệt may và giày dép, trong 10 năm tới đây, Việt Nam
cần chú ý phát triển những ngành kết hợp giữa lao động giản đơn với công
- 13 -
nghệ trung bình mà cụ thể là thủ công mỹ nghệ, thực phẩm chế biến, sản
phẩm gỗ, hóa phẩm tiêu dùng, sản phẩm nhựa và sản phẩm cơ khí - điện, phấn
đấu đa kim ngạch của nhóm hàng mới này lên 4, 5-5 tỷ USD hoặc hơn vào
năm 2010. Có thể nói đây là khâu đột phá của xuất khẩu Việt Nam trong
những năm trớc mắt (2001-2005).
2.1.4. Nhóm hàng vật liệu xây dựng
Nớc ta có nguồn nguyên liệu dồi dào để sản xuất vật liệu xây dựng
không những có thể cung cấp đủ cho nhu cầu trong nớc mà còn có khả năng
xuất khẩu lớn.
Theo chiến lợc phát triển sản xuất xi măng thì các dự án phát triển xi
măng trong vài năm tới có khả năng d thừa hàng năm khoảng từ 2-3 triệu tấn

(phần cứng).
2.2. Cơ cấu dịch vụ xuất khẩu:
Lâu nay chúng ta ít chú trọng tới xuất khẩu dịch vụ. Ước tính thơng mại
dịch vụ hai chiều của Việt Nam năm 2000 đạt 3, 2 tỷ USD, trong đó xuất khẩu
đạt 2, 0 tỷ USD và nhập khẩu đạt 1, 2 tỷ USD.
Các ngành dịch vụ thu ngoại tệ bao gồm nhiều lĩnh vực (theo WTO thì có
tới 155 loại hình), nhng chúng ta sẽ chỉ đề cập tới các loại hình dịch vụ nh du
lịch, xuất khẩu lao động, vận tải hàng không, bu chính viễn thông và dịch vụ
ngân hàng.
2.2.1. Xuất khẩu lao động
- 14 -
Trong nhiều năm qua, xuất khẩu lao động là ngành thu ngoại tệ quan
trọng. Bình quân giai đoạn 1996-2000, mỗi năm nớc ta đa ra nớc ngoài
khoảng 2 vạn lao động với thời hạn hợp đồng từ 3-5 năm, riêng năm 2000 dự
kiến là 3 vạn lao động. Hiện nay, số ngời Việt Nam đang lao động tại nớc
ngoài vào khoảng 9 vạn ngời. Với thu nhập bình quân đầu ngời khoảng 5.
000USD/năm, ớc tính kim ngạch xuất khẩu lao động năm 2000 sẽ đạt 450
triệu USD.
Theo Bộ Lao động Thơng binh và Xã hội thì mục tiêu phấn đấu năm
2005 là xuất khẩu 150-200 ngàn lao động và đến năm 2010 là 1 triệu lao
động. Nếu thực hiện đợc mục tiêu này, kim ngạch dự kiến sẽ đạt khoảng 1, 5
tỷ USD vào năm 2005 và 4, 5-6 tỷ USD vào năm 2010.
2.2.2. Du lịch:
Du lịch là một ngành dịch vụ có ý nghĩa kinh tế xã hội quan trọng. Trong
những năm qua, ngành du lịch đã đạt đợc nhiều bớc tiến đáng ghi nhận. Tuy
nhiên, tiềm năng của ngành còn rất lớn nếu biết khai thác và phát huy tốt
những thế mạnh sẵn có. Theo Tổng cục Du lịch, dự kiến năm 2000 sẽ có
khoảng 2 triệu khách du lịch quốc tế tới Việt Nam với doanh thu ngoại tệ
khoảng 500 triệu USD.
Theo chiến lợc phát triển của ngành thì tới năm 2005 sẽ phấn đấu thu hút

-Xuất khẩu lao động 1. 500 4. 500
-Du lịch 1. 000 1. 600
-Một số ngành
- 15 -
khác (ngân hàng,
bu chính viễn
thông, vận tải ) 1. 600 2. 000-2. 500
Tổng kim ngạch
xuất khẩu dịch vụ 4. 100 8. 100-8. 600
Tóm lại, tới năm 2010, kim ngạch và cơ cấu xuất khẩu đợc dự kiến nh sau:
Nhóm hàng
Kim ngạch năm
2010 (triệu USD)
Tỷ trọng %
năm
2000 2010
1. Nguyên nhiên liệu 1. 750 20, 1 3 - 3, 5
2. Nông sản, hải sản 8. 000-8. 600 23, 4 16-17
3. Chế biến, chế tạo 20. 000-21. 000 31, 4 40-45
4. Công nghệ cao 7. 000 5, 4 12-14
5. Hàng khác 12. 500 19, 8 23-25
Tổng kim ngạch hàng hóa 48. 000-50. 000 100
Tổng kim ngạch dịch vụ 8. 100-8. 600
2.3. Cơ cấu hàng hóa nhập khẩu
Đối với hàng nhập khẩu thì phơng châm chung là:
- Ưu tiên nhập khẩu vật t, thiết bị và công nghệ tiên tiến phục vụ công
nghiệp hóa, hiện đại hóa, nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng hóa sản xuất
trong nớc, đẩy mạnh xuất khẩu.
- Cố gắng sử dụng vật t, thiết bị mà trong nớc có thể sản xuất đợc để tiết
kiệm ngoại tệ, nâng cao trình độ sản xuất.

khẩu, tiến tới cân bằng xuất nhập và xuất siêu vào cuối thời kỳ của chiến lợc
2001-2010.
Về thị trờng nhập khẩu, chúng ta cần chuyển dịch theo hớng giảm thiểu
tỷ trọng của thị trờng ASEAN nói riêng, Châu á nói chung xuống còn khoảng
55% (hiện nay ASEAN đang chiếm tới 30% kim ngạch xuất khẩu của ta, riêng
Singapore là 17-18%, toàn Châu á chiếm xấp xỉ 80%). Tỷ trọng của các thị tr-
ờng cung ứng công nghệ nguồn nh Nhật, EU, Bắc Mỹ hiện rất thấp (Nhật
khoảng 12%, EU khoảng 10%, Bắc Mỹ cha đầy 4%), do đó cần nâng dần tỷ
trọng của Nhật, EU và Bắc Mỹ lên trên 30% vào năm 2005 và 40% vào năm
2010.
Về phơng thức quản lý nhập khẩu, chúng ta cần chủ động thay đổi theo
hớng tăng cờng sử dụng các công cụ phi thuế nh các hàng rào tiêu chuẩn kỹ
thuật, vệ sinh, môi trờng , hạn ngạch thuế quan, thuế tuyệt đối, thuế mùa vụ,
thuế chống phá giá, chống trợ cấp, công bố lộ trình rõ ràng cho việc dỡ bỏ
hàng rào bảo hộ, khắc phục triệt để những bất hợp lý trong chính sách bảo hộ,
cân đối lại đối tợng bảo hộ theo hớng trớc hết chú trọng bảo hộ nông sản,
giảm dần tỷ trọng của thuế nhập khẩu trong cơ cấu nguồn thu ngân sách, cải
cách biểu thuế và cải cách công tác thu thuế để giảm dần, tiến tới xóa bỏ chế
độ tính thuế theo giá tối thiểu và tích cực xúc tiến việc xếp sắp lại các doanh
nghiệp, đổi mới công nghệ, phơng thức quản lý để nâng cao hiệu quả và sức
cạnh tranh của từng ngành hàng.
2.4. Cơ cấu dịch vụ nhập khẩu
Các ngành dịch vụ mà Việt Nam phải chi trả ngoại tệ chủ yếu là dịch vụ
tài chính (bảo hiểm, kiểm toán ), ngân hàng (thanh toán, chuyển tiền ), bu
chính viễn thông, vận tải (hàng không, đờng thủy), thuê chuyên gia nớc ngoài,
du lịch, du học Tổng giá trị nhập khẩu dịch vụ năm 2000 ớc tính vào khoảng
1, 2 tỷ USD. Dự kiến nhập khẩu dịch vụ tăng khoảng 10, 5% trong thời kỳ
2001-2010, đạt giá trị 2, 02 tỷ USD năm 2005 và 3, 4 tỷ USD năm 2010.
Tuy nhiên, trong việc hoạch định chiến lợc xuất nhập khẩu dịch vụ thời
kỳ 2001-2010, Việt Nam cần tính tới yếu tố hội nhập quốc tế trong đó có hội

của ASEAN có điều kiện thuận lợi hơn trong việc đi vào thị trờng ta, do đó
càng phải ra sức phấn đấu gia tăng khả năng cạnh tranh để đi vào thị trờng
ASEAN, cải thiện cán cân thơng mại.
Các doanh nghiệp Việt Nam cần tích cực, chủ động tận dụng thuận lợi do
cơ chế AFTA mở ra để gia tăng xuất khẩu sang các thị trờng này, từ đó tăng
kim ngạch nhng giảm về tỷ trọng, hạn chế nhập siêu. Ngoài ra, cần khai thác
tốt thị trờng Lào và Campuchia.
Mặt hàng trọng tâm cần đợc đẩy mạnh xuất khẩu sẽ là gạo, linh kiện vi
tính, một vài sản phẩm cơ khí (đối với các nớc ngoài Đông Dơng) và hoá
phẩm tiêu dùng, thực phẩm chế biến, sản phẩm nhựa, hàng bách hoá (đối với
Lào và Campuchia). Về nhập khẩu, mặt hàng chủ yếu từ thị trờng này sẽ là
nguyên liệu sản xuất dầu thực vật, phân bón, linh kiện vi tính - cơ khí - điện
tử, xăng dầu, sắt thép, tân dợc và một số chủng loại máy móc, thiết bị, phụ
tùng.
Trung Quốc là một thị trờng lớn. Ta cần tích cực, chủ động hơn trong
việc thúc đẩy buôn bán với Trung Quốc mà hớng chính là các tỉnh Hoa Nam
và Tây Nam Trung Quốc, phấn đấu đa kim ngạch lên khoảng 3-4 tỷ USD. Một
trong những phơng cách là tranh thủ thoả thuận ở cấp Chính phủ về trao đổi
một số mặt hàng với số lợng lớn, trên cơ sở ổn định, thúc đẩy buôn bán chính
ngạch. Bên cạnh đó cần coi trọng buôn bán biên mậu, tận dụng phơng thức
này để gia tăng xuất khẩu trên cơ sở hình thành sự điều hành tập trung và nhịp
nhàng. Đồng thời, cần chú trọng thị trờng Hồng Kông- một thị trờng tiêu thụ
lớn và vốn là một khâu trung chuyển quan trọng. Mặt hàng chủ yếu đi vào hai
thị trờng này sẽ là hải sản, cao su, rau hoa quả, thực phẩm chế biến và hoá
phẩm tiêu dùng. Hàng nhập khẩu chủ yếu từ Trung Quốc sẽ là hoá chất, thuốc
trừ sâu, một số chủng loại phân bón, chất dẻo nguyên liệu, bông, sắt thép, máy
móc, thiết bị và phụ tùng.
Tỷ trọng xuất khẩu vào Nhật Bản phải đợc cải thiện. Ta và Nhật cần có sự
trao đổi, bàn bạc để đi đến ký kết thoả thuận về việc Nhật Bản dành cho hàng
hoá của Việt Nam qui chế MFN đầy đủ. Các doanh nghiệp cần tăng cờng tìm

móc, thiết bị, phụ tùng, nguyên phụ liệu dệt may - da, sắt thép.
3.2. Khu vực Châu Âu
Chiến lợc thâm nhập và mở rộng thị phần tại Châu Âu đợc xác định trên
cơ sở chia Châu Âu thành 2 khu vực cơ bản: Tây âu và Đông âu.
Tại Tây Âu, trọng tâm sẽ là EU mà chủ yếu là các thị trờng lớn nh Đức,
Anh, Pháp và Italia. Kim ngạch xuất khẩu sang EU tăng rất nhanh trong thời
kỳ 1991 - 1999. Trong các quốc gia EU, Đức là bạn hàng quan trọng thứ 4 của
Việt Nam, Anh là nớc thứ 9, Pháp và Hà Lan đứng thứ 12 và 13. Hàng hoá
xuất sang EU chủ yếu là giầy dép, dệt may, cà phê, hải sản, cao su, than đá,
điều nhân và rau quả. Để phát triển hơn nữa xuất khẩu sang EU, đáp ứng đợc
đòi hỏi cao về chất lợng và luật lệ phức tạp ở EU, chúng ta cần tăng cờng thu
thập và phổ biến thông tin cho các doanh nghiệp, chú trọng nâng cao chất l-
ợng hàng hoá, nhất là hải sản và thực phẩm chế biến, tranh thủ việc EU coi
Việt Nam là "nớc có nền kinh tế thị trờng để bảo đảm cho hàng hóa Việt
Nam đợc đối xử bình đẳng với hàng hoá các nớc khác khi EU điều tra và thi
hành các biện pháp chống bán phá giá, tranh thủ EU nâng mức chuyển hạn
ngạch giữa các nớc ASEAN, chuẩn bị điều kiện gia tăng cạnh tranh trong việc
thâm nhập thị trờng này sau khi bỏ hạn ngạch vào năm 2005.
Nhìn chung, nhiều mặt hàng có thể tăng xuất khẩu vào EU nhng trọng
tâm vẫn sẽ là dệt may, giày dép, hải sản, rau hoa quả, cao su, sản phẩm nhựa,
sản phẩm gỗ, và sản phẩm cơ khí. Mặt hàng nhập khẩu chủ yếu từ thị trờng
- 19 -
này sẽ là máy móc, thiết bị công nghệ cao, máy chế biến thực phẩm, phơng
tiện vận tải, máy bay, hoá chất, tân dợc, nguyên phụ liệu dệt - may- da.
Quan hệ thơng mại với các nớc Đông Âu và SNG, nhất là liên bang Nga
có thể và cần đợc khôi phục bởi đây là thị trờng có nhiều tiềm năng. Ta cần
thay đổi nhận thức về việc họ dễ tính, ngời tiêu dùng ở đây đã đợc tiếp cận
với hàng hoá nhiều nớc có chất lợng cao hơn hàng hoá của ta. Nhiều nớc,
trong đó có Trung Quốc, đã xâm nhập mạnh mẽ vào khu vực này.
Toàn bộ tình hình đòi hỏi ta phải coi họ nh những thị trờng nhiều tiềm

3.4. Châu Đại Dơng
Trọng tâm tại khu vực châu Đại Dơng là Australia và New Zealand. Quan
hệ thơng mại với hai thị trờng này phát triển tốt trong những năm gần đây
chứng tỏ tiềm năng không nhỏ nhng mức khai thác vẫn còn thấp. Do đó, cần
kiên trì tìm kiếm, tạo lập và củng cố quan hệ bạn hàng. Hàng hoá đi vào khu
vực này chủ yếu sẽ là dầu thô, dệt may, giày dép thủ công mỹ nghệ, sản phẩm
nhựa, sản phẩm gỗ và sản phẩm cơ khí điện. Hàng nhập khẩu chủ yếu sẽ là
máy móc, thiết bị, sắt thép, lúa mỳ, bột mỳ, sữa nguyên liệu và tân dợc.
3.5. Trung Cận Đông, Nam á, Châu Phi và Mỹ Latinh
Hàng hoá của Việt Nam hiện đã xuất hiện trên các thị trờng này nhng
chủ yếu là qua thơng nhân nớc thứ ba, kim ngạch do ta xuất trực tiếp còn khá
- 20 -
nhỏ bé. Một điểm cần lu ý là toàn bộ các nớc trong khu vực, kể cả những nớc
đã từng phát triển theo đờng lối kế hoạch hóa tập trung, đều đã áp dụng cơ chế
thị trờng và hiện đang có sự gắn kết với nhau thông qua việc hình thành các
liên kết kinh tế khu vực nh khối liên minh quan thuế Nam Châu Phi, khối các
nớc sử dụng đồng Franc ở Tây Phi, khối Maghreb tại Bắc Phi, khối các nớc
vùng Vịnh, Hiệp hội SAFTA Thơng mại giữa các nớc trong khối đợc áp
dụng những u đãi đặc biệt. Vì lý do đó, trong chiến lợc thâm nhập thị trờng,
chúng ta cần chọn thị trờng trọng điểm cho từng khối và lấy đó làm bàn đạp
để tiến vào các nớc trong khối.
Tóm lại, trong thời gian tới, bên cạnh việc tiếp tục củng cố và tăng cờng
chỗ đứng tại các thị trờng đã có, chúng ta nên gia tăng sự có mặt tại thị trờng
Trung Quốc, Nga, mở ra thị trờng Mỹ, châu Phi và trong chừng mực nào đó là
thị trờng Mỹ Latinh.
- 21 -
Ch ơng III
Hệ thống các chính sách và biện pháp hỗ trợ
để thực hiện định hớng phát triển
xuất nhập khẩu 2001-2010

thúc đẩy các doanh nghiệp quan tâm hơn nữa đến vấn đề công nghệ, đặc biệt
là công nghệ sạch.
1.2. Đối với nông sản, chú trọng việc đầu t đổi mới giống cây trồng, công
nghệ từ đó nâng cao chất lợng, hiêu quả và sức cạnh tranh, phù hợp với nhu
cầu trên thị trờng đi đôi với việc chú trọng đầu t vào khâu sau thu hoạch mà
hiện nay còn rất hạn chế.
- 22 -
1.3. Đặc biệt quan tâm đầu t trực tiếp cho hoạt động xuất khẩu nh các
cảng, kho tàng, kể cả kho ngoại quan, các trung tâm thơng mại ở nớc ngoài,
các hoạt động xúc tiến thơng mại (tham gia triển lãm, hội chợ, cử đoàn đi nớc
ngoài tìm hiểu thị trờng, tìm kiếm đối tác, thu thập và cung cấp thông tin, h-
ớng dẫn cho các doanh nghiệp về luật lệ, tiêu chuẩn, mẫu mã thị trờng đòi
hỏi ), đặc biệt cần hỗ trợ cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ không có khả
năng về tài chính, nhân lực và thông tin, chú trọng đầu t đào tạo nguồn nhân
lực, đặc biệt là cán bộ quản lý.
1.4. Cần hết sức chú trọng cải thiện môi trờng đầu t một cách đồng bộ để
tăng sức hấp dẫn đối với cả đầu t trong nớc và đầu t trực tiếp của nớc ngoài,
nhất là trong lĩnh vực sản xuất để xuất khẩu. Tích cực, chủ động điều chỉnh
Luật Đầu t nớc ngoài theo quy định của WTO về TRIMS, giảm dần, tiến tới
xóa bỏ sự phân biệt về chính sách giữa các nhà đầu t trong nớc và nớc ngoài.
Duy trì môi trờng đầu t ổn định để tạo tâm lý tin tởng cho các nhà đầu t. Phát
triển hợp lý các khu chế xuất, khuyến khích các doanh nghiệp nớc ngoài gia
tăng xuất khẩu. Mở rộng thị trờng để lôi kéo các doanh nghiệp nớc ngoài đầu
t ở nớc ta, xuất sang các thị trờng có dung lợng lớn.
1.5. Nguồn đầu t nên đợc xác định là: Nhà nớc tập trung cho những khâu
đòi hỏi vốn lớn, có tác dụng cho nhiều doanh nghiệp nh nghiên cứu khoa học,
xây dựng hạ tầng, kho bãi, bến cảng, thành lập các trung tâm thơng mại và
kho ngoại quan ở nớc ngoài Trong các khâu còn lại, Nhà nớc chỉ ban hành
các chính sách u đãi để khuyến khích cá nhân và doanh nghiệp chủ động đầu
t sản xuất, kinh doanh, hạn chế tới mức thấp nhất, nhanh chóng tiến tới xóa bỏ

2.3. Mở rộng các loại hình dịch vụ xuất khẩu, phơng thức xuất khẩu
và thị trờng xuất khẩu:
Ngoài việc phát triển các loại hình xuất khẩu dịch vụ hiện có, trong thời
gian tới cần chú trọng thêm những ngành còn nhiều tiềm năng nh y tế, giáo
dục, xây dựng, kiểm toán, bảo hiểm Trong lĩnh vực vận tải và giao nhận cần
tận dụng thế mạnh về vị trí địa lý của Việt Nam nằm ở ngã ba đờng vận tải
quốc tế để phát triển các dịch vụ tạm nhập tái xuất, chuyển khẩu, chuyển tải,
quá cảnh Ngoài ra, chúng ta cần đa dạng hoá các phơng thức kinh doanh và
mở rộng thị trờng xuất khẩu để tạo điều kiện nâng cao giá trị xuất khẩu, chuẩn
bị kỹ lỡng phơng án cam kết về dịch vụ, nhất là trong khuôn khổ đàm pháp gia
nhập WTO để trên cơ sở đó hoạch định và từng bớc hoàn thiện môi trờng pháp
lý, cơ chế chính sách trong lĩnh vực dịch vụ.
II. Các giải pháp về thị trờng
Để chủ động thâm nhập thị trờng quốc tế, duy trì và mở rộng thị phần
trên các thị trờng quen thuộc, khai thác thêm các thị trờng mới, bảo đảm cơ
cấu thị trờng hợp lý theo nguyên tắc đa phơng hoá các đối tác, Việt Nam cần
đổi mới công tác thị trờng ở tầm vĩ mô và vi mô theo các hớng sau:
1. Phát triển mạnh công tác thị trờng ở cả tầm vĩ mô và vi mô, khắc phục
đồng thời hai biểu hiện "ỷ lại vào Nhà nớc" và "phó mặc cho doanh nghiệp".
Đẩy mạnh đàm phán thơng mại song phơng và đa phơng để tạo hành lang
pháp lý cho các doanh nghiệp, cụ thể là đàm phán mở cửa thị trờng mới, đàm
phán để tiến tới thơng mại cân bằng với những thị trờng mà ta thờng xuyên
nhập siêu, đàm phán để thống nhất hoá các tiêu chuẩn vệ sinh, tiêu chuẩn kỹ
thuật và đàm phán để nới lỏng các hàng rào phi quan thuế. Công tác thị trờng
xuất khẩu và thị trờng nhập khẩu đợc gắn kết chặt chẽ với nhau để vừa tăng c-
ờng sức mạnh trong đàm phán quốc tế, vừa góp phần chuyển dần nhập khẩu
của các doanh nghiệp từ thị trờng nhập siêu (châu á) sang thị trờng xuất siêu
(Bắc Mỹ và Tây Âu).
2. Tăng cờng mạnh mẽ công tác thông tin về các thị trờng: từ tình hình
chung cho tới các cơ chế chính sách của các nớc, dự báo các chiều hớng cung-

và các chính sách khuyến khích của Nhà nớc để tổ chức tiếp cận và phân tích,
khai thác các thông tin; trực tiếp và thờng xuyên tiếp xúc với thị trờng thế giới
thông qua hội thảo khoa học, hội chợ triển lãm, đẩy mạnh tiếp thị để kịp thời
nắm bắt xu thế thị trờng, bám sát các thay đổi trong sản xuất và kinh doanh, tự
mình chủ động lo tìm bạn hàng, thị trờng, tự mình lo tổ chức sản xuất và xuất
khẩu theo nhu cầu và thị hiếu của thị trờng, đặc biệt chú trọng giữ "chữ tín"
trong kinh doanh để duy trì chỗ đứng trên thị trờng, phối hợp với nhau trong
việc đi tìm và quan hệ với bạn hàng.
III. Hoàn thiện môi trờng pháp lý và đổi mới, hoàn thiện
cơ chế, chính sách xuất - nhập khẩu
Để tạo điều kiện cho việc thực hiện thành công những nhiệm vụ trọng
tâm trong thời gian từ này đến năm 2010, Việt Nam cần hoàn thiện môi trờng
pháp lý, đồng thời tiếp tục đổi mới, bổ xung và hoàn thiện cơ chế chính sách
xuất- nhập khẩu cho phù hợp với điều kiện thực tế theo hớng:
1. Điều chỉnh các quy định không còn phù hợp hoặc cha đợc rõ, trớc hết
là Luật Thơng mại, Luật Đầu t nớc ngoài và Luật Khuyến khích Đầu t trong n-
ớc. Về Luật Thơng mại, cần mở rộng phạm vi điều chỉnh cho phù hợp với các
quy định của WTO. Về Luật Đầu t nớc ngoài, cần đa thêm các quy định để
bảo đảm nguyên tắc đối xử quốc gia (National Treatment) trong các lĩnh vực
có liên quan đến thơng mại, dịch vụ. Về Luật Khuyến khích Đầu t trong nớc,
cần quy định lại rõ hơn về ngành nghề khuyến khích đầu t để khắc phục tình
trạng không rõ ràng giữa "thay thế nhập khẩu" và "định hớng xuất khẩu". Có
lộ trình thống nhất hai luật đầu t này thành một bộ luật chung về khuyến khích
đầu t.
2. Ban hành các văn bản luật mới để điều chỉnh các quan hệ kinh tế mới
phát sinh trên phơng diện quốc tế và quốc gia nh văn bản pháp luật về Tối huệ
quốc (MFN) và Đối xử quốc gia (NT), Luật Cạnh tranh và Chống độc quyền,
Luật Chống bán phá giá và Chống trợ cấp, Luật Phòng vệ Khẩn cấp, Luật
Chống chuyển giá (transfer pricing) - một chính sách rất quan trọng đối với
việc thu hút có hiệu quả nguồn vốn đầu t của các tập đoàn xuyên quốc gia.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status