Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
LỜI NÓI ĐẦU
Chiến lược sản phẩm là một trong bốn chiến lược quan trọng mà bất
cứ công ty nào khi tham gia vào một thị trường nào đều phải thực hiện và
phải thực hiện tốt. Việc thực hiện tốt chiến lược sản phẩm là nền tảng thúc
đẩy cho các chiến lược còn lại phát huy tốt tác dụng của nó.
Với sản phẩm sơn, chất luợng của giá trị sử dụng của nó là cái mà
người tiêu dùng thật sự mong đợi từ phía nhà sản xuất và đó cũng là cái mà
công ty Sơn Hải Phòng đã đáp ứng rất tốt trong thời gian qua là điều tự hào
của thành phố cảng lớn nhất miền Bắc.
Trong thời gian thực tập tại công ty Sơn Hải Phòng với sự nhiệt tình giúp đỡ
chỉ bảo của nhân viên trong phòng marketing và cô giáo hướng dẫn Nguyễn
Thị Tâm cùng với những tài liệu thu thập được trong thời gian thực tập em
xin chọn đề tài là “Chiến lược sản phẩm của công ty Sơn Hải Phòng”.
1
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
PHẦN I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHIẾN LƯỢC SẢN PHẨM
1.Sản phẩm và các mức độ của sản phẩm
1.1. Sản phẩm.
Ta định nghĩa sản phẩm như sau:
Sản phẩm là mọi thứ mà ta có thể chào bán trên thị truờng để chú ý,
mua, sử dụng hay tiêu dùng, có thể thoả mãn được một mong muốn hay nhu
cầu.
Những sản phẩm được mua bán trên thị truờng bao
gồm sản phẩm vật chất, dịch vụ, địa điểm, tổ chức và ý
tưởng
1.2. Các cấp độ của sản phẩm.
Thứ hai là những ích lợi hoàn thiện thêm sẽ nhanh chóng
trở thành ích lợi mong đợi
Ở mức độ thứ năm là sản phẩm tiềm ẩn, tức là những sự hoàn thiện và
bién đổi mà sản phẩm đó cuối cùng có thể nhận được trong tương lai. Trong
khi sản phẩm hoàn thiện thể hiện những gì sản phẩm được đưa vào ngày
hôm nay, thì sản phẩm tiềm ẩn lại chỉ nêu ra hướng phát triển khả dĩ của nó.
Đây chính là nơi công ty tìm kiếm tích cực những cách thức mới để thoả
mãn khách hàng và tạo ra sự khác biệt cho sản phẩm của mình. Sự xuất hiện
gần đây của một số khách sạn thượng hạng mà ở khách có thể có nhiều
phòng ở là một sự đổi mới của sản phẩm khách sạn truyền thống.
3
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
1.3. Hệ thống thứ bậc của sản phẩm
Mỗi sản phẩm đều có môt quan hệ nhất định với các
sản phẩm khác. Các hệ thống thứ bậc sản phẩm trải ra từ
những nhu cầu cơ bản đến những mặt hàng cụ thể thoả mãn
những nhu cầu đó. Ta có thể xác định bảy thứ bậc của sản
phẩm. ở đây các bậc đó được định nghĩa và minh họa cho
trường hợp bảo hiểm nhân thọ:
1. Họ nhu cầu: Nhu cầu cốt lõi là nền tảng của họ sản phẩm, ví dụ: an toàn
2. Họ sản phẩm: Tất cả các lớp sản phẩm đều có thể thoả mãn một nhu cầu
cốt lõi với hiệu quả vừa phải, ví dụ tiền tiết kiệm và thu nhập
3. Lớp sản phẩm: Một nhóm sản phẩm trong một họ sản phẩm được thừa
nhận là có một quan hệ gắn bó nhất định về mặt chức năng,ví dụ các phương
tiện tài chính
4. Loại sản phẩm: Một nhóm sản phẩm trong cùng một lớp có quan hệ chặt
chẽ với nhau vì chúng hoạt động giống nhau hay cùng được bán cho cùng
một nhóm khách hàng hoặc được bán tại cùng một kiểu thị trường hay rơi
trường mục tiêu luôn là điểm khởi đầu của mọi công việc.
Doanh nghiệp luôn phải xác định đâu là thị trường mục
tiêu của mình, công việc này luôn là điểm khởi đầu của mọi
công việc mà doanh nghiệp phải làm. Công việc tiếp theo là
đảm bảo giá trị, để làm tốt công việc này thì doanh nghiệp
phải có một chiến lược sản phẩm tốt sao cho trong quá
trình đảm bảo giá trị thì mọi công việc của doanh nghiệp
5
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
phải được ăn khớp với nhau và người chủ doanh nghiệp có
thể theo dõi tốt được sự tăng trưởng của từng mặt hàng
trong danh mục sản phẩm của mình và có những quyết định
trong việc bổ sung cũng như thanh lọc sản phẩm.
Trên thị trường là sự cạnh tranh và theo đuổi những
lợi nhuận khốc liệt giữa các công ty. Công ty nào cũng
muốn sản phẩm của mình vượt trội sản phẩm của đối thủ
cạnh tranh và có những hình ảnh tích cực về sản phẩm của
mình trong tâm trí của khách hàng, yêu cầu này là cội
nguồn của chiến lược định vị sản phẩm và là công việc
cuối cùng và cũng là công việc khó khăn nhất mà doanh
nghiệp phải thực hiện và phần thắng luôn là những người
biết tìm cho mình một chỗ đứng phù hợp và có chiến lược
định vị tốt.
đ Mối quan hệ giữa chiến lược sản phẩm và các chiến
lược khác.
Bốn chiến lược này có quan hệ mật thiết với nhau
chúng có quan hệ tương hỗ cho nhau. Ngày nay không có
một doanh nghiệp nào có thể tách rời và bớt đi được một
và tăng chiều sâu của danh mục sản phẩm. Cuối cùng công
ty có thể tiếp tục tăng hay giảm một độ của loại sản phẩm
tuỳ theo ý đồ của công ty muốn có uy tín vững chẵc trong
lĩnh vực hay tham gia vào nhiều lĩnh vực.
7
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
Việc lập kế hoạch danh mục sản phẩm chủ yếu tuỳ thuộc vào trách
nhiệm của những người hoặch dịnh chiến lược của công ty căn cứ vào
những thông tin do những người làm công tác tiếp thị của công ty cung cấp.
Họ phải đánh giá những loại sản phẩm nào cần thiết, cần phát triển, cần duy
trì, cần thu hoặch và cần loại bỏ
3. Quyết định về loại sản phẩm
Một danh mục sản phẩm bao gồm nhiều sản phẩm khác nhau
Loại sản phẩm là một nhóm sản phẩm có quan hệ chặt chẽ
với nhau, bởi vì chúng thực hiện một chức năng tương tự,
được bán cho cùng một nhóm khách hàng, qua cùng một
kênh như nhau hay tạo nên một khung giá cụ thể.
k Phân tích loại sản phẩm
Những người quản lý loại sản phẩm cần biết doanh số bán và lợi nhuận
của từng mặt trong loại sản phẩm mà mình phụ trách và tình trạng của loại
sản phẩm đó so với các loại sản phẩm của các đối thủ cạnh tranh.
- Doanh số bán và lợi nhuận của một loại sản phẩm.
Người quản lý loại sản phẩm cần biết doanh số
bán và lợi nhuận của từng mặt hàng trong loại sản phẩm mà
mình phụ trách và tình trạng của loại sản phẩm đó so với
các loại sản phẩm của đối thủ cạnh tranh.
8
Thế nhưng khi bổ sung thêm mặt hàng thì một số chi phí sẽ tăng lên:
chi phí thiết kế và chế tạo, chi phí lưu kho và vận chuyển, chi phí thay đổi
quy trình sản xuất, chi phí sử lý đơn hàng, chi phí vận chuyển và chi phí
khuyến mãi mặt hàng mới. Cuối cùng có một cái gì đó sẽ ngưng sự phát
triển nhanh chóng của loại sản phẩm lại. Ban lãnh đạo tối cao có thể đình chỉ
mọi việc không đủ tiền hay năng lực sản xuất. Người kiểm tra có thể đặt vấn
đề về khả năng sinh lợi của loại sản phẩm đó và yêu câu xem xét. Kết quả
xem xét chắc chắn cho thấy có rất nhiều mặt hàng gây thua lỗ. Những mặt
hàng đó sẽ bị loại bỏ nhằm tăng khả năng sinh lời. Quá trình phát triển bừa
bãi loại sản phẩm kéo theo việc loại bỏ hàng loạt sản phẩm sẽ lặp đi lặp lại
nhiều lần.
Một công ty có thể tăng chiều dài của loại sản phẩm của mình theo hai
cách: kéo dài loại sản phẩm hay bổ sung loại sản phẩm.
+ quyết định kéo dài loại sản phẩm.
* Kéo dài xuống phía dưới.
Nhiều công ty lúc đầu chiếm lĩnh vị trí trê cùng của thị trường rồi sau
đó mới kéo dài loại sản phẩm của mình xuống phía dưới.
Một công ty có thể kéo dài loại sản phẩm xuống phía dưới vì một
trong các lý do sau đây.
10
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
- Công ty bị các đối thủ cạnh tranh tấn công ở dầu trên và quyết định
phản công bằng cách xâm nhập đầu dưới của đối thủ cạnh tranh
- Công ty thấy rằng sự tăng trưởng ngày càng chậm đang diễn ra ở dầu
trên
- Công ty lúc đầu đã xâm nhập dầu trên để tạo dựng hình ảnh chất
lượng và có ý định mở rộng xuống phía dưới
- Công ty đã bổ xung một đơn vị dầu dưới để bít một lỗ hổng của thị
việc bổ sung loại sản phẩm: tìm kiếm lợi nhuận tăng thêm, cố gắng thoả mãn
những đại lý đã than phiền về doanh số thiệt hại do loại sản phẩm thiếu một
số mặt hàng, cố gắng thỏi mãn những đại lý đã than phiền về doanh số thiệt
hại do loại sản phẩm thiếu một số mặt hàng, cố gắng sử dụng năng lực dư
thừa có gắng trở thành công ty luôn luôn dẫn đầu và cố gắng lấp kín những
lỗ hổng dể ngăn ngừa các đối thủ cạnh tranh.
Một khách hàng bối rối, công ty cần phải làm thế nào để khách hàng
dễ phân biệt được từng mặt hàng. Mỗi mặt hàng phải có một điểm khác biệt
có thể dễ dàng nhận biết.
c Quyết định hiện đại hoá sản phẩm
12
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
Ngay cả khi chiều dài của loại sản phẩm đã thoả đáng thì loại sản
phẩm ấy vẫn có thể cần phải được hiện đại hoá từng phần sẽ đỡ thất thoát
lưu kim của công ty. điểm bất lợi chủ yếu của việc hiện đại hoá từng phần là
nó cho phép các đối thủ cạnh tranh thấy được những thany đổi đó và cũng
bắt đầu thiết kế lại chủng loại sản phẩm của mình.
Trên thị trường sản phẩm thay đổi nhanh chóng việc
hiện đại hoá sản phẩm diễn ra liên tục các công ty đều có
kế hoạch cải tiến sản phẩm, khuyến khích khách hàng
chuyển sang những mặt hàng được đánh giá cao hơn và
cũng được định giá cao hơn. Vấn đề chính là xác định thời
điểm sản phẩm sao cho việc cải tiến sản phẩm không qua
sớm hay quá muộn
s Quyết định làm nổi bật sản phẩm
Người quản lý loại sản phẩm thường lựa chọn một hay một vài mặt hàng
trong loại sản phẩm của mình để làm nổi bất lên nhứng mẫu mã khuyến mãi
ở đầu dưới để phục vụ cho việc mở đường. đôi khi một công ty phát hiện
một sự kết hợp những yếu tố đó nhằm xác định hàng hoá hay dịch vụ của
một người bán hay một nhóm người bán và phân biệt chúng vói những thứ
của đối thủ cạnh tranh.
Như vậy nhãn hiệu xác nhận người bán hay người sản xuất. Theo luật
đăng ký nhãn hiệu, người bán được đảm bảo độc quyền sử dụng tên nhãn đó
14
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
vĩnh viễn. điều này khác với những tài sản khác như bằng sáng chế và bản
quyền có ngày hết hạn. Nhãn hiệu về cơ bản là một sự hứa hẹn của người
bán đảm bảo cung cấp cho người mua một tập hợp nhất định những tính
chất, ích lợi, và dịch vụ. Những nhãn hiệu tốt nhất đều kèm theo sự đảm bảo
chất lượng. Song một nhãn hiệu thậm chí còn là một biểu tượng phức tạp
hơn thế nữa, một nhãn hiệu có thể mang tới sáu cấp độ ý nghĩa.
1. Thuộc tính: Một nhãn hiệu trước tiên gợi lên trong ý nghĩa những thuộc
tính nhất định.
2. Ích lợi: Một nhãn hiệu không chỉ là một tập hợp các thuộc tính. Khách
hàng không chỉ mua những thuộc tính mà họ mua những ích lợi. Các thuộc
tính cần được chuyển thành những ích lợi thực dụng hoặc tình cảm.
3. Giá trị: nhãn hiệu cũng nói nên một điều gì đó về giá trị của người sản
xuất.
4. Văn hoá: nhãn hiệu cũng thể hiện một nền văn hoá nhất định.
5. Nhân cách: nhãn hiệu cũng có thể phác hoạ một nhân cách nhất định. đôi
khi nó có thể mượn nhân cách của một nhân vật hay một người phát ngôn
nổi tiếng có thực.
6. Người sử dụng: nhãn hiệu thể hiện khách hàng mua hay sử dụng sản
phẩm đó.
Tất cả điều này cho thấy nhãn hiệu là một biểu tượng
phức tạp. Nếu một công ty chỉ xem nhãn hiệu như là một
16
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
Một nhãn hiệu mạnh là một nhãn hiệu có uy tín cao. Theo Aaker, uy
tín của nhãn hiệu càng cao thì sự trung thành với nhãn hiệu cao hơn, mức độ
biết đến tên tuổi, chất lượng được nhận thức càng cao hơn, sự gắn bó với
nhãn hiệu càng mạnh hơn và các tài sản khác như bằng sáng chế, nhãn hiệu
thương mại và các quan hệ theo kênh có giá trị cao hơn. Vấn đề là ở chỗ
nhãn hiệu là một tài sản trong chừng mức mà nó có thể đem bán hay mua
với giá nào đó.
Cách lượng định uy tín của một nhãn hiệu có phần tuỳ tiện. Aaker đã
mô tả năm cách khác nhau, bao gồm cách như căn cứ vào mức lời của giá,
giá trị chứng khoán, giá trị thay thế nhãn...Theo Interbrand 10 nhãn hiệu siêu
manh nhất của thế gới là Coca - Cola, Kellog, MacDonald, Kodak, Malboro,
IBM, American Express, Sony, Mercedes, Nestcafe. Theo một tài liệu ước
tình thì giá trị uy tín nhãn hiệu marlboro là 31 tỷ USD, coca-cola là 24 tỷ
USD và Kodak là 13 tỷ nhưng cần lưu ý rằng nhưng người mua tiềm ẩn
khác nhau sẽ sử dụng nhãn hiệu đó theo những cách khác nhau và do đó sẽ
chi nhiều hơn hay ít hơn.
Uy tín cao của nhãn hiệu sẽ đem lại một lợi thế cạnh tranh cho một
công ty. Công ty đó sẽ có thể giảm bớt được chi phí Marketing vì mức độ
biết đến và trung thành với nhãn hiệu đã cao. Công ty sẽ có thế đòn bẩy
thương mại mạnh khi thương lượng với những người phân phối và bán lẻ, vì
khách hàng đang trông đợi họ kinh doanh nhãn hiệu đó. Công ty có thể đòi
giá cao hơn so với các đối thủ cạnh tranh của mình, bởi vì nhãn hiệu có chất
lượng đã được thừa nhận cao hơn. Công ty có thể dễ dàng hơn trong việc
17
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia sẻ
sản phẩm chất lượng kém hơn, đối với các tác phẩm nghệ thuật cũng vậy
việc gắn nhãn bắt đầu từ việc các nghệ nhân ký tên trên tác phẩm của mình.
Ngày nay việc gắn nhãn đã trở thành một yếu tố cần thiết mà không
một loại hàng hoá nào lại không cần. Những nhãn hiệu mang tính toàn quốc
đã chống chọi với các mặt hàng phổ thông theo một số cách Ralston-Purina
đã nâng cao chất lượng của mình và hướng vào những người sở hữu vật nuôi
nôi tiếng cùng với những vật nuôi của họ và quan tâm đến chất lượng nhiều
nhất. Procter & Gamble đã đưa ra sản phẩm giấy của mình, một loạii sản
phẩm có chất lượng kém hơn những sản phẩm cùng loại nhưng tốt hơn
những loại phổ thông với giá cạnh tranh. Những Công ty khách chỉ cắt giảm
giá hàng của mình để cạnh tranh với loại hàng phổ thông. Tại sao những
người bán lại thích gắn nhãn cho sản phẩm của mình dù việc đó đòi hỏi phải
chi cho việc bao gói, làm nhãn, quảng cáo, bảo vệ hợp pháp và sẽ gặp rủi ro
nếu khách hàng không chấp nhận sản phẩm đó. Nguyên do là việc gắn nhãn
tạo cho người bán một số lợi thế.
- Tên nhãn làm người bán dễ dàng xử lý các đơn đặt hàng và tìm ra
các vấn đề, hơn nữa người bán thấy đễ dàng theo dõi đơn đặt hàng nếu số
hàng bị gửi bán lạc địa chỉ hay xác định các nguyên nhân về chất lượng sản
phẩm nếu khách hàng khiếu nại.
19
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
- Tên nhãn hiệu và dấu hiệu thương mại vủa người bán đảm bảo một
sự bảo hộ của pháp luật đối với tính chất độc đáo của sản phẩm nếu không
thì đã bị các đối thủ cạnh tranh nhái theo.
- Việc gắn nhãn đem lại cơ hội cho người bán thu hút một nhóm khách
hàng trung thành và có khả năng đem lại lợi nhuận cho Công ty. Sự trung
thành với nhãn hiệu sẽ tạo ra cho người bán một sự bảo vệ ở mức độ nào đó
chống lại các đối thủ cạnh tranh và khả năng kiểm soát tốt hơn trong khi xây
không tốt đối với những sản phẩm của họ
Bất chấp những điểm bất lợi tiềm ẩn này, những người trung gian
được gọi là trận chiến nhãn hiệu riêng, trong cuộc đụng độ này những người
trung gian có nhiều lợi thế. Nơi bày hàng bán lẻ rất khan hiếm. Hiện nay
nhiều siêu thị đã đòi hỏi một số tiền lệ phí lớn như một diều kiện trước khi
chấp nhận một nhãn hiệu mới, cầm chắc trang trải đủ chi phí cho việc đăng
ký với bảo quản nó. Họ cũng đòi một khoản tiền riêng cho không gian trưng
bày nổi bật hơn cho những nhãn hiệu của mình và bảo đảm chúng được bảo
quản tốt hơn. Những người trung gian giờ đây đang tạo ra chất lượng tốt hon
cho những nhãn hiệu của cửa hàng mình, nhờ vậy mà tạo ra sự được sự hài
lòng khách hàng. Nhiều người đi mua sắm biết rằng nhãn hiệu của cửa hàng
21
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
thường do một trong nghững người sản xuất lớn làm ra. Các nhãn hiệu của
cửa hàng thường được định giá thấp hơn các nhãn hiệu của người sản xuất
khác, vì thế rất hấp dẫn đối với người mua sắm biết rõ túi tiền, đặc biệt là
thời kỳ lạm phát hay suy thoái. Rốt cuộc là những nhãn hiệu của người sản
xuất đã từng giữ vị trí khống chế đang bị suy yếu đi.
Những người sản xuất nhãn hiệu toàn quốc rất khó chịu trước tình
hình thế lực của những người bán lẻ ngày càng tăng. Kevin Prices nhận xét
rất đúng "cách đây một thập kỷ, người bán lẻ chỉ như một cái gai chích vào
gót chân của người sản xuất, một nỗi phiền muộn, nhưng chỉ gây một chút ít
khó chịu, bôi một ít thuốc rồi sẽ khỏi. Ngày nay đã trở thành một con bò
hung dữ và đang muốn húc gẫy cả chân lẫn tay bạn. Bạn muốn đánh gục nó,
thế nhưng bạn lại phải lo bảo vệ lấy thân mình nên không thể nghĩ đến
chuyện đó". Một số nhà bình luận Marketing đã dự đoán là các nhãn hiệu
của những người trung gian cuối cùng sẽ đánh gục tất cả những nhãn hiệu
khác, chỉ trừ những nhà sản xuất mạnh nhất.
của mình ở mức độ cao. Giá cả của họ có cao hơn chút ít để bù đắp lại chi
phí cho việc khuyến mãi đó. Trong khi đó đông đảo những người phân phối
đã gây một sức ép lớn buộc họ phải chi phần lớn số tiền khuyến mãi vào
chiết khấu thương mại và giao dịch thương mại nếu họ muốn có không gian
trưng bày tốt. Một khi các nhà sản xuất nhượng bộ, thì họ sẽ phải chi ít tiền
hơn cho việc khuyến mãi và quảng cáo và nhãn hiệu cuả họ bắt đầu mất dần
23
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
vị trí dẫn đầu, đó là tình hướng tiến thoái lưỡng nan của nhứng người sản
xuất nhãn hiệu toàn quốc. Để duy trì thế lực của mình, những người làm
Marketing nhãn hiệu dẫn đầu cần vận dụng những chiến lược sau: Họ phải
đầu tư vào nghiên cứu và phát triển để tạo ra những nhãn hiệu mới, những
tính chất mới và không ngừng nâng cao chất lượng. Họ phải duy trì chương
trình quảng cáo để đảm bảo mức độ biết đến nhãn hiệu cao và thái độ dứt
khoát chỉ dùng nhãn hiệu đó. Họ phải tìm cách "liên kết" với phần lớn
những người phân phối cùng tìm kiếm những chiến lược kinh tế và cạnh
tranh hợp lôgic nhằm nâng cao hiệu quả chung.
t Quyết định tên nhãn
Những nhà sản xuất đã gắn nhãn cho sản phẩm của mình còn phải tiếp
tục lựa chọn nữa.
1. Tên nhãn hiệu cá biệt
2. Tên họ chung của tất cả các sản phẩm
3. Tên họ riêng cho tất cả các sản phẩm
4. Tên thương mại của công ty kết hợp với tên cá biệt của sản phẩm
Chiến lược tên nhãn hiệu cá biệt có lợi thế ở điểm nào? Lợi thế chủ
yếu của công ty không ràng buộc thanh danh của mình với việc chấp nhận
sản phẩm đó. nếu sản phẩm đó bị thất bại hay xem ra có chất lượng kém thì
không làm tổn hại đến tên tuổi của Công ty. Chiến lược tên nhãn hiệu cá biệt