LỜI MỞ ĐẦU
Xu hướng toàn cầu hoá đã và đang diễn ra mở rộng tới tất cả các quốc
gia trên thế giới và tác động mạnh mẽ tới mọi hoạt động của tổ chức kinh tế
trong đó có hoạt động của Ngân hàng. Hòa nhập cũng xu thế đó, hoạt động
ngân hàng ở nước ta cũng có nhiều tiến bộ và thành tựu đáng ghi nhận. Nhiều
sản phẩm tài chính mới ra đời như thanh toán qua thẻ, bảo hiểm tiền gửi, tiết
kiệm bậc thang, trong đó dịch vụ CVTD hiện đang thu hút được sự quan tâm
rất lớn từ phía ngân hàng cung ứng và phía khách hàng sử dụng. Tốc độ phát
triển kinh tế mạnh mẽ như hiện nay cùng với số dân 83 triệu người đang mở
ra thị trường CVTD vô cùng rộng lớn và đầy triển vọng cho các tổ chức tín
dụng.
CVTD là một hình thức tín dụng đã khá quen thuộc với các quốc gia
phát triển, hình thức này đã xuất hiện ở nước ta từ những năm 90 của thế kỷ
20 và mới chỉ thực sự phát triển trong một thời gian gần đây nhưng đã chứng
tỏ được lợi thế cũng như tiềm năng phát triển của mình, ngày càng có nhiều
ngân hàng phát triển dịch vụ này, hình thức CVTD không chỉ mang lại nguồn
thu đáng kể cho ngân hàng mà còn là công cụ quảng bá hình ảnh và truyền tải
thông điệp của ngân hàng đến với mỗi cá nhân trong xã hội. Đặc biệt, trong
điều kiện cạnh tranh quyết liệt và gay gắt giữa các tổ chức tín dụng khi Việt
Nam đã trở thành thành viên của WTO, đẩy mạnh cho vay tiêu dùng chính là
xu hướng tất yếu của hoạt động ngân hàng.
Là một trong những đơn vị xuất sắc của NHCT Việt Nam, chi nhánh
NHCT khu vực Đống Đa luôn chú trọng mở rộng quy mô và chất lượng dịch
vụ cung ứng, trong đó có dịch vụ CVTD. Nghiên cứu và xây dựng chiến lược
mở rộng hình thức tín dụng này đang là mục tiêu của không chỉ chi nhánh
NHCT Đống Đa mà còn của rất nhiều các ngân hàng thương mại, các công ty
tài chính khác. Chính vì thế em lựa chọn đề tài: “ Giải pháp mở rộng cho vay
1
tiêu dùng tại chi nhánh NHCT Đống Đa " cho chuyên đề thực tập của mình.
Chuyên đề bao gồm ba chương:
Chương 1: Những vấn đề chung về hoạt động cho vay tiêu dùng của
hàng kiếm lời chủ yếu nhờ hoạt động cho vay, do đó các ngân hàng tìm mọi
cách để huy động được tiền. Một trong những nguồn quan trọng là các khoản
3
tiền gửi ( thanh toán và tiết kiệm của khách hàng ). Ngân hàng mở dịch vụ
nhận tiền gửi để bảo quản hộ người có tiền với cam kết hoàn trả đúng hạn.
Trong cuộc cạnh tranh để tìm và giành được các khoản tiền gửi, các ngân
hàng đã trả lãi cho các khoản tiền gửi như là phần thưởng cho khách hàng về
việc sẵn sàng hi sinh nhu cầu tiêu dùng trước mắt và cho phép ngân hàng sử
dụng tạm thời để kinh doanh.
Trên cơ sở nguồn vốn tự có và nguồn vốn huy động được, ngân hàng
tiến hành nghiệp vụ cho vay, ngay ở thời kì đầu các ngân hàng đã chiết khấu
thương phiếu mà thực tế là cho vay đối với những người bán ( người bán
chuyển các khoản phải thu cho ngân hàng để láy tiền trước ). Sau đó là bước
chuyển tiếp từ chiết khấu thương phiếu sang cho vay trực tiếp đối với các
khách hàng , giúp họ có vốn để mua hàng dự trữ nhằm mở rộng sản xuất kinh
doanh. Trong giai đoạn đầu hầu hết các ngân hàng không tích cực cho vay đối
với cá nhân và các hộ gia đình bởi vì họ cho rằng các khoản CVTD rủi ro vỡ
nợ tương đối cao. Tuy nhiên sự gia tăng thu nhập của người tiêu dùng và sự
cạnh tranh trong cho vay đã buộc các ngân hàng phải hướng tới người tiêu
dùng như là một khách hàng tiềm năng. Ngày nay tín dụng tiêu dùng đã trở
thành một trong những loại hình tín dụng tăng trưởng nhanh nhất ở các nước
có nền kinh tế phát triển. Ngoài cho vay truyền thống là cho vay ngắn hạn,
các ngân hàng cũng ngày càng trở nên năng động trong việc tài trợ cho vay,
tài trợ đầu tư vào các dự án, đặc biệt là trong các ngành công nghệ cao. Do rủi
ro trong loại hình tín dụng này nhìn chung là cao song lãi lại lớn.
Ngân hàng, bên cạnh các hoạt động cơ bản trên còn tiến hành một số
hoạt động khác như: bảo quản tài sản có giá, quản lý ngân quỹ, bảo lãnh, cho
thuê tài chính, cung cấp các tài khoản giao dịch và thực hiện thanh toán, tài
trợ các hoạt động của chính phủ, cung cấp dịch vụ môi giới đầu tư chứng
khoán, và các dịch vụ bảo hiểm…
trợ cho nhu cầu chi tiêu của người tiêu dùng, bao gồm cá nhân và hộ gia đình.
Đây là một nguồn tài chính quan trọng giúp người tiêu dùng trang trải các nhu
cầu trong cuộc sống như nhà ở, phương tiện đi lại, tiện nghi sinh hoạt, học
tập. du lịch, y tế…trước khi họ có đủ khả năng về tài chính để hưởng thụ.
1.2.2Đặc điểm của CVTD.
1.2.2.1Đối tượng cho vay tiêu dùng.
Mục đích của vay tiêu dùng chủ yếu là để chi trả cho những nhu cầu
chi tiêu cá nhân của khách hàng nhưng hiện tại khách hàng không có đủ tích
lũy để thỏa mãn những nhu cầu đó. Nhờ khoản vào khoản tiền vay ngân hàng
khách hàng có thể chi trả ngay cho những nhu cầu đó. Vì vậy, khác với các
hình thức tín dụng khác đối tượng được ngân hàng cung ứng dịch vụ CVTD
là các cá nhân, hộ gia đình.
1.2.2.2Quy mô khoản vay.
Nếu xét về quy mô thì mỗi món vay tiêu dùng thường có quy mô nhỏ
hơn so với quy mô các hình thức tín dụng khác. Sở dĩ có đặc điểm này là do
giá trị của các mặt hàng tiêu dùng thường không lớn( trừ bất động sản) và các
khoản vay chủ yếu chỉ để bổ sung cho lượng nhỏ còn thiếu trong số vốn mà
khách hàng đã có sẵn để phục vụ mục đích tiêu dùng. Mặt khác, các ngân
hàng đều có quy định và sự kiểm soát chặt chẽ về hạn mức tín dụng tiêu dùng
bởi độ rủi ro khi CVTD là khá cao. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của xã
hội nhu cầu chi tiêu của con người ngày càng tăng nhanh và thường xuyên
hơn, nhất là những mặt hàng tiêu dùng cao cấp, vì vậy số lượng các món vay
tiêu dùng lớn, nhờ đó các ngân hàng thu được khoản lợi nhuận đáng kể từ
hoạt động tín dụng này.
1.2.2.3Chi phí quản lý.
Đối với mỗi khoản vay, ngân hàng đều phải bỏ chi phí để thẩm định,
giải ngân, kiểm tra giám sát khoản vay, thu nợ…Đối với các khoản vay tiêu
6
dùng tuy quy mô các món vay nhỏ, nhưng ngân hàng vẫn phải tiến hành các
hoạt động thẩm định, giải ngân, kiểm tra giám sát khoản vay, thu nợ…như
hoá dịch vụ cũng nhờ đó mà tăng lên, tạo điều kiện thuận lợi cho ngân hàng
phát triển hoạt động CVTD. Ngược lại, khi nền kinh tế lâm vào suy thoái, sản
xuất đình trệ, thu nhập và mức sống của người dân bị giảm sút, nhu cầu tiêu
dùng cũng vì thế giảm theo, dẫn đến tín dụng tiêu dùng bị thu hẹp. Như vậy,
CVTD phụ thuộc chặt chẽ vào chu kỳ của nền kinh tế.
Bên cạnh đó, nhu cầu chi tiêu của dân cư cũng có xu hướng tăng nhanh
vào những dịp lễ tết và cuối năm, khi đó nhu cầu vay tiêu dùng cũng có sự
tăng theo tương ứng.
1.2.2.6Độ nhạy với lãi suất.
Nhu cầu vay tiêu dùng của khách hàng thường có xu hướng ít co giãn với
lãi suất. Thông thường, khách hàng đi vay khi có nhu cầu tiêu dùng cần thiết
và mong muốn thỏa mãn nhu cầu đó ngay lập tức trước khi tích lũy đủ tiền.
Khi đó, khách hàng quan tâm tới số tiền phải thanh toán hơn là lãi suất mà họ
phải chịu.
1.2.2.7Lợi nhuận lớn.
Khoản mục CVTD thường có chi phí lớn nhất và rủi ro cao nhất trong
danh mục cho vay của ngân hàng. Lãi suất CVTD phải bao hàm cả một phần
bù rủi ro đồng thời phải đủ để bù đắp chi phí quản lý của ngân hàng. Vì vậy,
lãi suất đối với các khoản vay tiêu dùng thường cao nên nó mang lại khoản lợi
nhuận khá lớn đối với các ngân hàng và dần trở thành miếng bánh béo bở đối
với các NHTM. Hiện nay, ngày càng có nhiều ngân hàng bước vào lĩnh vực
CVTD, các ngân hàng cạnh tranh bằng các quy định về cho vay dễ dàng hơn
và đơn giản hơn, các điều kiện cho vay được nới lỏng, mở rộng hạn mức cho
vay,vv… nhằm giành được chữ kí của khách hàng.
8
Ngân hàng có thể sử dụng nhiều phương pháp khác nhau để xác định
mức lãi suất thực tế đối với cho vay phục vụ tiêu dùng. Song phần lớn lãi suất
được xác định dựa trên lãi suất cơ bản cộng phần lợi nhuận cận biên và phần
bù đắp rủi ro.
Lãi suất Chi phí Chi phí Rủi ro Phần bù kỳ hạn Lợi nhuận
đào tạo…từ đó giúp họ có cơ hội tìm kiếm công việc có mức thu nhập cao
hơn. Đặc biệt, trong các trường hợp chi tiêu cấp bách như nhu cầu về y tế,
giáo dục..., vai trò của CVTD lại càng to lớn và rõ nét.
1.2.3.3Đối với nền kinh tế xã hội.
CVTD giúp người đi vay bổ sung số tiền còn thiếu nhờ đó người đi vay
có đủ khả năng tài chính để hưởng thụ giá trị hàng hoá, dịch vụ mong muốn,
từ đó giúp các hãng sản xuất đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm. Giải quyết được bế
tắc giữa sản xuất và lưu thông hàng hoá, các nhà sản xuất bán được nhiều sản
phẩm hơn, quay vòng vốn nhanh hơn, trên cơ sở đó các doanh nghiệp sản
xuất có điều kiện đầu tư mở rộng sản xuất. Như vậy CVTD góp phần nâng
cao hiệu quả kinh doanh, tăng cường thu nhập cho các doanh nghiệp sản xuất.
CVTD chính là đòn bẩy kích cầu hàng hoá dịch vụ, mở rộng sản xuất,
thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Vì thế mà, sẽ tạo ra nhiều cơ hội việc làm hơn
cho người lao động, tỷ lệ thất nghiệp cũng đồng thời giảm xuống, thu nhập
của người dân tăng lên. Từ đó, quay trở lại thúc đẩy nên kinh tế xã hội ngày
càng phát triển hơn, trình độ dân trí được nâng cao đồng thời các tệ nạn xã hội
giảm. Dịch vụ CVTD của ngân hàng góp phần thoả mãn tốt hơn những nhu
cầu của người tiêu dùng, do đó góp phần nâng cao chất lượng đời sống vật
chất cũng như tinh thần của người dân.
Rõ ràng, CVTD không chỉ đóng vai trò quan trọng đối với các chủ thể
như ngân hàng thương mại, nhà sản xuất, người tiêu dùng mà còn có ý nghĩa
to lớn đối với toàn bộ nền kinh tế xã hội, góp phần thực hiện mục tiêu phát
triển bền vững của mỗi quốc gia.
1.2.4Phân loại cho vay tiêu dùng.
10
1.2.4.1Căn cứ vào mục đích khoản vay.
● CVTD cư trú: là các khoản cho vay nhằm mục đích tài trợ cho nhu
cầu mua sắm, xây dựng hay sửa chữa nhà ở của khách hàng là cá nhân hoặc
hộ gia đình.
● CVTD phi cư trú: là các khoản cho vay nhằm tài tài trợ cho mua sắm
người đi vay.
- Chi phí tài trợ
Đây là khoản chi phí mà người đi vay phải trả cho ngân hàng cho việc
sử dụng vốn, bao gồm lãi vay và các cho phí có liên quan. Chi phí tài trợ phải
trang trải được chi phí vốn tài trợ, chi phí hoạt động, rủi ro, đồng thời mang
lại một phần lợi nhuận thỏa đáng cho ngân hàng.
- Vấn đề phân bổ lãi cho vay theo thời gian
Khi sử dụng phương pháp tính lãi, ngân hàng thường tiến hành phân bổ
lại phần lãi cho vay đã được tính. Việc phân bổ lãi có thể được tính theo định
kỳ gắn liền với các kỳ thanh toán hoặc cũng có thể được tính theo quý hay
năm tài chính. Tuy nhiên việc phân bổ lãi theo năm tài chính thường được các
ngân hàng áp dụng phổ biến nhất. Các phương pháp phổ biến dùng để phân
bổ lãi cho vay bao gồm phương pháp tỷ suất lợi tức hiệu dụng, phương pháp
đường thẳng và phương pháp lãi.
- Vấn đề trả nợ trước hạn
Khách hàng đi vay có thể thanh toán tiền vay trước hạn. Trường hợp
này ngân hàng phải tính toán lại thời hạn trả nợ và số tiền lãi phải trả.
Cho vay trả góp có độ rủi ro rất cao do khách hàng thường thế chấp bằng
hàng hóa mua trả góp, khả năng trả nợ phụ thuộc vào thu nhập đều đặn của
người vay, nếu người vay mất việc, ốm đau, thu nhập giảm sút thì khả năng thu
nợ của ngân hàng cũng bị ảnh hưởng. Chính vì rủi ro cao nên lãi suất cho vay
trả góp thường là cao nhất trong khung lãi suất cho vay của ngân hàng.
● CVTD phi trả góp: theo hình thức tín dụng này, khách hàng sẽ thanh
12
(4)
(3)
(2)(5)
(1)
toán tiền vay cho ngân hàng chỉ một lần khi đến hạn trả nợ. Thông thường thì
hình thức CVTD phi trả góp chỉ được áp dụng cho các hợp đồng vay có giá trị
để tiến hành cho vay vì thế có thể tận dụng các sở trường của nhân viên tín
dụng - những người được đào tạo chuyên môn và có nhiều kinh nghiệm trong
lĩnh vực tín dụng. Do đó, những quyết định tín dụng trực tiếp của ngân hàng
thường có chất lượng và độ tin cậy cao hơn so với trường hợp chúng được
quyết định bởi những công ty bán lẻ. Hình thức này cũng linh hoạt hơn và cho
phép ngân hàng thắt chặt mối quan hệ tín dụng với các khách hàng có quan hệ
trực tiếp với ngân hàng.
● CVTD gián tiếp: phần lớn cho vay của ngân hàng là cho vay trực
tiếp, bên cạnh đó ngân hàng cũng phát triển hình thức cho vay gián tiếp, đây
là loại hình cho vay thông qua các tổ chức trung gian trong đó ngân hàng mua
lại các khoản nợ phát sinh do những công ty bán lẻ bán chịu hàng hoá hay
dịch vụ cho người tiêu dùng. Theo hình thức này, ngân hàng cho vay thông
qua các công ty bán lẻ mà không trực tiếp tiếp xúc với khách hàng.
Sơ đồ CVTD gián tiếp:(1): Ngân hàng và công ty bán lẻ ký kết hợp đồng mua bán nợ. Trong
14
NGÂN HÀNG
NGƯỜI TIÊU DÙNG
CÔNG TY BÁN LẺ
hợp đồng, ngân hàng thường đưa ra các điều kiện về đối tượng khách hàng
được bán chịu, số tiền bán chịu tối đa và loại tài sản bán chịu…
(2): Công ty bán lẻ và người tiêu dùng ký kết hợp đồng mua bán chịu
hàng hóa. Thông thường, người tiêu dùng phải trả trước một phần giá trị tài
sản.
(3): Công ty bán lẻ giao tài sản cho người tiêu dùng.
(4): Công ty bán lẻ bán bộ chứng từ bán chịu hàng hóa cho ngân hàng.
(5): Ngân hàng thanh toán tiền cho công ty bán lẻ.
(6): Người tiêu dùng thanh toán tiền trả góp cho ngân hàng.
so với các phương thức nói trên và các khoản nợ được mua cũng được lựa
chọn rất kỹ. Ngoài ra, chỉ có những công ty bán lẻ có quan hệ lâu năm và
được ngân hàng rất tin cậy mới được áp dụng phương thức này.
Ưu điểm của phương thức trên là cho phép ngân hàng có thể hạn chế
được rủi ro do việc người vay sử dụng tiền vay sai mục đích và thông qua
hình thức này ngân hàng cũng tăng cường được sự quản lý, hướng người tiêu
dùng vào đơn vị cung ứng hàng hóa tin cậy, giảm được chi phí, dễ dàng tăng
doanh số CVTD, mở rộng hoạt động ngân hàng và quan hệ với khách hàng,
trong trường hợp các công ty bán lẻ hoạt động tốt, CVTD gián tiếp an toàn
hơn CVTD trực tiếp.
Tuy nhiên nhược điểm của phương thức này là ngân hàng không trực
tiếp tiếp xúc với người tiêu dùng mà phải thông qua các hãng bán lẻ, vì thế
ngân hàng không đánh giá được khả năng trả nợ của khách hàng, hoạt động
bán chịu của nhà cung cấp thiếu sự kiểm soát của ngân hàng, ngoài ra kỹ
thuật nghiệp vụ CVTD gián tiếp cũng khá phức tạp.
1.2.5Quy trình cho vay.
Cán bộ tín dụng tiến hành phân tích, thẩm định khách hàng và phương
án đầu tư theo thứ tự các bước sau:
- Tiếp nhận và hướng dẫn khách hàng lập hồ sơ vay vốn.
16
- Thẩm định các điều kiện vay vôn.
- Xác định phương thức cho vay.
- Xem xét khả năng nguồn vốn, điều kiện thanh toán và lãi suất cho vay
của chi nhánh.
- Lập tờ trình thẩm định cho vay.
- Tái thẩm định khoản vay.
- Trình duyệt khoản vay.
- Ký kết hợp đồng tín dụng (sổ vay vốn, hợp đồng bảo đảm tiền vay),
giao nhận giấy tờ và tài sản bảo đảm.
- Giải ngân.
ngân hàng hơn. Do đó, để thực hiện mục tiêu mở rộng CVTD, ngân hàng
không thể không chú ý tới việc phát triển đa dạng hóa các sản phẩm dịch vụ
CVTD của mình.
● Hạn mức cho vay.
Tăng hạn mức cho vay đối với một số nhóm khách hàng nhất định sẽ
góp phần mở rộng CVTD bởi nó tác động trực tiếp tới đối doanh số và quy
mô của CVTD. Khi thực hiện nội dung này, điều quan trọng nhất đối với ngân
hàng là phải xác định mức tăng hợp lý và xác định chính xác các đối tượng đủ
tin cậy để được nhận số tiền vay lớn hơn.
● Chất lượng dịch vụ.
Đây là nhân tố quan trọng quyết định sự thành công của việc mở rộng
CVTD. Chất lượng dịch vụ càng cao thì độ hài lòng và độ thỏa mãn mà nó
mang lại cho người sử dụng càng lớn. Một ngân hàng có chất lượng dịch vụ
tốt sẽ tạo niềm tin vững chắc nơi khách hàng, đồng thời nâng cao uy tín và
quảng bá thương hiệu của ngân hàng trong lĩnh vực CVTD.
● Phạm vi cung ứng dịch vụ
18
Đối với bản thân các ngân hàng cần dựa trên những lợi thế về sản phẩm,
công nghệ, nguồn nhân lực,…Trên những lợi thế đó ngân hàng có thể mở rộng
phạm vi hoạt động CVTD, không chỉ giữ chân các khách hàng trong khu vực mà
còn thu hút thêm các khách hàng mới từ các địa bàn khác đến vay vốn.
1.2.7Những nhân tố ảnh hưởng đến khả năng mở rộng cho vay tiêu dùng.
Trong quá trình hình thành và phát triển bất cứ một loại hình dịch vụ nào
của ngân hàng cũng đều bị chi phối bởi rất nhiều yếu tố khách quan và chủ
quan. Do đó, khi tiến hành mở rộng hoạt động kinh doanh nói chung hay mở
rộng CVTD nói riêng, các ngân hàng cần phải nghiên cứu, phân tích các yếu
tố ảnh hưởng để có các chiến lược, kế hoạch phù hợp, mang lại hiệu quả cao
cho ngân hàng.
1.2.7.1Ngân hàng.
● Chính sách tín dụng của ngân hàng
hoạt động kinh doanh để đảm bảo khả năng thanh khoản, các ngân hàng luôn
giữ một lượng tiền nhất định trong ngân quỹ và để dự trữ. Nếu ngân hàng có
một nguồn vốn dồi dào, khả năng thanh toán càng được đảm bảo đồng thời
khả năng sinh lợi tăng lên do ngân hàng có điều kiện mở rộng hoạt động cho
vay, trong đó có CVTD. Quy mô vốn là yếu tố quyết định hạn mức tín dụng
của mỗi ngân hàng, do đó nó có ảnh hưởng lớn đến mở rộng CVTD. Ngoài ra,
với nguồn vốn dồi dào cho phép ngân hàng triển khai các chiến lược
Marketing hiệu quả, có điều kiện áp dụng các công nghệ mới, thực hiện tốt
công tác đào tạo nguồn nhân lực góp phần thúc đẩy mở rộng CVTD.
● Chiến lược Marketing ngân hàng
Nền kinh tế ngày càng phát triển, nhu cầu tiêu dùng của con người
ngày càng lớn hơn, do đó số lượng các cá nhân, hộ gia đình muốn sử dụng
dịch vụ CVTD cũng vì thế mà ngày một nhiều hơn. Để lôi kéo nhiều khách
hàng đến với mình các ngân hàng cần phải đẩy mạnh chiến lược Marketing.
20
Quá trình nghiên cứu thăm dò thị trường, xây dựng chiến lược, kiểm tra kiểm
soát của bộ phận Marketing cho phép ngân hàng xác định được thị trường
mục tiêu, nhu cầu của đại bộ phận dân cư, từ đó đưa ra các sản phẩm phù hợp,
thỏa mãn tốt nhất nhu cầu người đi vay, hoàn thiện mối quan hệ với khách
hàng. Ngoài ra, Marketing cũng là cầu nối gắn kết hoạt động CVTD với thị
trường, góp phần nâng cao vị thế cạnh tranh của ngân hàng trên thương
trường. Thực hiện tốt công tác Marketing là điều kiện quan trọng để ngân
hàng thực hiện mở rộng CVTD.
● Đội ngũ cán bộ ngân hàng
Yếu tố con người luôn là điều kiện không thể thiếu trong mọi hoạt động
kinh doanh của ngân hàng. Nhất là đối với hình thức CVTD, vai trò của các
cán bộ tín dụng lại càng quan trọng. Trước hết, những nhân viên này cũng là
người trực tiếp tiếp xúc với khách hàng, là người giới thiệu các sản phẩm của
ngân hàng đến khách hàng, trực tiếp xem xét đánh giá đạo đức và khả năng
tài chính của khách hàng, họ có nhiệm vụ thu hút khách hàng đến với dịch vụ
đảm bảo luôn giữ một vị trí hết sức quan trọng, nó là yếu tố làm giảm thiểu
rủi ro đối với ngân hàng trong trường hợp khách hàng không có khả năng trả
nợ cho ngân hàng, giá trị tài sản đảm bảo còn là cơ sở để ngân hàng xác định
hạn mức tín dụng đối với khách hàng, do đó nó quyết định doanh số cho vay
của ngân hàng. Việc định giá tài sản đảm bảo đúng mức, hợp lý là yêu cầu
quan trọng khi xác định số tiền cho vay nhằm đảm bảo độ an toàn, thu nhập
của ngân hàng cũng như thỏa mãn tốt nhất nhu cầu khách hàng.
● Đạo đức khách hàng
Một trong những rủi ro mà ngân hàng rất hay gặp trong hoạt động tín
dụng, đặc biệt là tín dụng tiêu dùng là rủi ro đạo đức. Các cá nhân và hộ gia
đình có thể dễ dàng che giấu những thông tin cần thiết đối với ngân hàng. Do
đó việc thu thập thông tin, đánh giá đạo đức của các cá nhân hộ gia đình có
22
nhu cầu sử dụng dịch vụ CVTD là rất khó khăn đối với ngân hàng. Ngân hàng
thông thường áp dụng hạn mức tín dụng thấp đối với những khách hàng mới,
chưa có quan hệ với ngân hàng. Nếu người đi vay chứng minh được phẩm
chất đạo đức tốt, tạo được sự tin cậy, hoặc có quan hệ gắn bó lâu dài với ngân
hàng họ sẽ có cơ hội vay được số tiền lớn hơn, đồng nghĩa với việc góp phần
mỏ rộng CVTD đối với ngân hàng.
● Xu hướng tiêu dùng của khách hàng
Đối với hình thức tín dụng CVTD thì việc tìm hiểu thị trường, nghiên
cứu xu hướng tiêu dùng của khách hàng là một công việc hết sức thường
xuyên và quan trọng. Căn cứ vào những nghiên cứu, tìm hiểu ngân hàng có
thể biết được xu hướng tiêu dùng của đại bộ phận dân cư, từ đó phát triển
những sản phẩm và dịch vụ thích hợp thỏa mãn tốt nhu cầu của người tiêu
dùng. Khách hàng càng có xu hướng tiêu dùng các hàng hóa đắt tiền, nhu cầu
vay tiêu dùng càng tăng, ngân hàng càng có điều kiện mở rộng tín dụng tiêu
dùng. Những thay đổi lớn trong xu hướng tiêu dùng của khách hàng có thể tác
động tích cực hay tiêu cực đến hoạt động mở rộng CVTD. Do đó các ngân
hàng luôn phải chú trọng công tác nghiên cứu tìm hiểu thị hiếu, xu hướng tiêu
cấu kinh tế, tốc độ tăng trưởng kinh tế, sự ổn định kinh tế và thu nhập bình
quân đầu người là những yếu tố mà ngân hàng cần quan tâm nghiên cứu, phân
tích để thực hiện mở rộng CVTD một cách có hiệu quả.
● Môi trường văn hóa xã hội
Môi trường văn hóa xã hội bao gồm các yếu tố như phong tục tập quán,
thói quen sử dụng các dịch vụ ngân hàng, tỷ lệ tiết kiệm, trình độ dân trí, thị
hiếu của dân cư...Văn hóa tiêu dùng của người dân sẽ ảnh hưởng tới hành vi
và nhu cầu các dịch vụ ngân hàng. Cụ thể, trong một môi trường mà người
dân có xu hướng tiêu dùng các hàng hóa giá trị cao hay có thói quen chi tiêu
nhiều hơn tiết kiệm, dịch vụ CVTD sẽ có điều kiện được mở rộng. Hoặc trong
24
một xã hội có trình độ dân trí cao, người dân sẽ dễ dàng trong việc tiếp cận và
đón nhận các dịch vụ của ngân hàng. Vấn đề tâm lý của người dân cũng ảnh
hưởng rất lớn đến hành vi và nhu cầu của họ về các sản phẩm ngân hàng. Ở
nước ta nhiều người vẫn có tâm lý không tin tưởng vào ngân hàng, không
quen với việc đi vay ngân hàng để mua các hàng hóa tiêu dùng, do đó việc
mở rộng dịch vụ cho vay tiêu dùng phải chú ý tới vấn đề này. Nghiên cứu các
yếu tố văn hóa xã hội không những để xác định rõ các tác động của chúng tới
hành vi sử dụng dịch vụ ngân hàng và lựa chọn ngân hàng của khách hàng cá
nhân mà còn giúp các cán bộ ngân hàng có cách thức hành xử phù hợp trong
giao tiếp với khách hàng.
● Môi trường cạnh tranh
Nền kinh tế ngày càng phát triển, các tổ chức tài chính dần có xu hướng
lấn sân sang lĩnh vực ngân hàng làm cho môi trường cạnh tranh trong lĩnh vực
ngân hàng ngày càng trở nên gay gắt, tình thế đó đòi hỏi ngân hàng phải đầu
tư đổi mới các loại hình dịch vụ, tạo ra các thế mạnh cạnh tranh mới. CVTD
chính là một công cụ có thể tạo ra lợi thế cạnh tranh cho ngân hàng, bằng việc
phát triển CVTD ngân hàng có thể giảm áp lực cạnh tranh đối với các tổ chức
tài chính khác đồng thời gia tăng thu nhập một cánh hiệu quả. Nếu mở rộng
CVTD phù hợp với chính sách tín dụng của ngân hàng, môi trường cạnh tranh