1Luận văn
Vốn kinh doanh và một số
giải pháp chủ yếu nhằm nâng
cao hiệu quả sử dụng vốn tại
công ty cổ phần Xây dựng
Đại Cát Thành.
2
LỜI MỞ ĐẦU
Trong thời gian gần đây, đất nước chúng ta đang chuyển mình theo cơ chế
mới với chính sách mở cửa của Đảng và nhà nước, chúng ta đã và đang thu được
những kết quả đáng khích lệ trong công cuộc đổi mới. Bộ mặt đất nước đang
dần thay đổi theo chiều hướng tốt đẹp hơn. Đóng góp một phần không nhỏ cho
sự thay đổi đó là sự nỗ lực phấn đấu và quyết tâm của các doanh nghiệp đang
hoạt động trong nền kinh tế quốc dân hiện nay. Trước thực tế đó, nhà nước cũng
đang tìm mọi cách tháo gỡ những khó khăn trong cơ chế, chính sách, nhằm tạo
ra môi trường kinh doanh thông thoáng cho các doanh nghiệp Việt nam. Chính
điều đó đã tạo điều kiện cho các doanh nghiệp có được những thời cơ mới, để
nâng cao khả năng cạnh tranh, phát huy mạnh mẽ những lợi thế mà mình có.
Tuy nhiên trong xu thế hội nhập, toàn cầu hoá kinh tế hiện nay, các doanh
nghiệp Việt nam đang đứng trước những thách thức mới hết sức khó khăn, phức
tạp. Chính điều này đã buộc các doanh nghiệp phải có những biện pháp quản lý
vốn kinh doanh sao cho tiết kiệm và hiệu quả nhất.
Vốn kinh doanh là tiền đề quan trọng nhất khi doanh nghiệp tiến hành
hoạt động sản xuất kinh doanh. Các doanh nghiệp không những phải đảm bảo có
đầy đủ về vốn để đầu tư cho hoạt động sản xuất kinh doanh của mình như đầu tư
vào trang thiết bị, máy móc cũng như công nghệ mà còn phải có biện pháp quản
I>Khái niệm và phân loại vốn kinh doanh:
1>Khái niệm vốn kinh doanh:
Vốn kinh doanh là biểu hiện bằng tiền của tất cả các tài sản, vật tư dùng
trong sản xuất kinh doanh.
- Phân loại vốn kinh doanh:
Vốn kinh doanh được phân loại theo nhiều tiêu thức khác nhau.
Phân loại theo nguồn hình thành vốn theo cách phân loại này, vốn kinh
doanh của doanh nghiệp được phân thành 2 loại: vốn chủ sở hữu và vốn vay.
* Vốn chủ sở hữu: là phần vốn thuộc sở hữu của doanh nghiệp. Vốn chủ
sở hữu gồm các khoản chính sau đây.
Vốn tự có: đối với doanh nghiệp nhà nước thì vốn tự có do ngân sách nhà
nước cấp ban đầu và cấp bổ sung, đối với doanh nghiệp tư nhân thì vốn tự có do
chủ doanh nghiệp bỏ ra khi thành lập doanh nghiệp, với công ty liên doanh hoặc
công ty cổ phần thì do các chủ đầu tư hoặc các cổ đông đóng góp. Vốn tự có bổ
sung từ lợi nhuận kinh doanh.
Các quĩ được hình thành trong quá trình sản xuất kinh doanh ( quĩ dự trữ,
quĩ phát triển kinh doanh )
* Vốn vay: là các khoản vốn mà doanh nghiệp khai thác trên cơ sở chế độ,
chính sách của nhà nước như vay ngân hàng hay các tổ chức tín dụng đối với
khoản vốn này, doanh nghiệp chỉ có quyền sử dụng trong phạm vi những ràng
buộc nhất định.
Việc phân loại này giúp cho nhà quản lý nắm được khả năng tự chủ về tài
chính của doanh nghiệp, từ đó có thể đề ra các biện pháp huy động vốn sao cho
phù hợp với tình hình tài chính của doanh nghiệp.
5
2. Phân loại theo đặc điểm luân chuyển của vốn:
Theo cách phân loại này, vốn kinh doanh được chia thành 2 loại: Vốn cố định và
vốn lưu động.
a. Vốn cố định:
* Phân loại theo tình hình sử dụng:
Căn cứ vào tình hình sử dụng TSCĐ, có thể chia toàn bộ TSCĐ của doanh
nghiệp thành những loại sau:
- TSCĐ đang dùng
- TSCĐ chưa cần dùng
- TSCĐ không cần dùng và chờ thanh lý hoặc nhượng bán.
Dựa vào cách phân loại này, người quản lý nắm được tổng quát tình hình sử
dụng TSCĐ trong doanh nghiệp. Trên cơ sở đó, đề ra các biện pháp sử dụng tối
đa các TSCĐ hiện có, giải phóng nhanh các TSCĐ không cần dùng và chờ thanh
lý để thu hồi vốn.
Trên đây là hai cách phân loại chủ yếu, ngoài ra còn có thể phân loại theo
mục đích sử dụng, phân loại theo quyền sở hữu mỗi cách phân loại đáp ứng
những yêu cầu nhất định của công tác quản lý.
Một số biện pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cố định:
Thứ nhất, xây dựng dự án đầu tư vào TSCĐ để có thể tính toán được
hiệu quả kinh tế của việc đầu tư vào TSCĐ. Trong việc đầu tư mua sắm TSCĐ
cần chú ý cân nhắc một số điểm như: Quy mô đầu tư, kết cấu TSCĐ, cách thức
đầu tư lựa chọn giữa mua sắm hay đi thuê
Thứ hai, quản lý chặt chẽ, huy động tối đa TSCĐ hiện có vào hoạt động
kinh doanh. Cần có sổ sách theo dõi đối với từng TSCĐ và giao cho các bộ phận
chịu trách nhiệm quản lý và sử dụng. Thường xuyên kiểm soát được tình hình sử
dụngTSCĐ để huy động đầy đủ nhất TSCĐ hiện có vào hoạt động, và thực hiện
nhượng bán TSCĐ không cần dùng, thanh lý các TSCĐ đã hư hỏng để thu hồi
vốn, thực hiện định kỳ kiểm kê TSCĐ.
7
8
Về mặt hiện vật: Doanh nghiệp cần thực hiện tốt việc bảo dưỡng và sửa
chữa một cách thường xuyên và sửa chữa lớn định kỳ TSCĐ để tránh tình trạng
TSCĐ bị hư hỏng trước thời hạn và kéo dài tuổi thọ của TSCĐ. Doanh nghiệp
cần cân nhắc giữa chi phí SCL bỏ ra với việc thanh lý, nhượng bán TSCĐ để đổi
mới TSCĐ. Sự cân nhắc này được xem xét ở những lần SCL cuối cùng của
TSCĐ.
Để xem xét hiệu quả của chi phí SCL, chúng ta có thể sử dụng công thức sau:
Pscl Pn
Hscl =
Cđt Gct
Trong đó:
Hscl: Hệ số SCL tài sản cố định
Pscl: Chi phí SCL
Pn: Thiệt hại có liên quan đến việc ngừng TSCĐ để SCL
Cđt Gct: Giá trị còn lại của TSCĐ đã được đánh giá lại theo
giá thị trường tại thời điểm SCL
Nếu H<1: Chứng tỏ việc đầu tư SCL là có hiệu quả.
Nếu H>=1: Chứng tỏ việc đầu tư SCL không có hiệu quả vì số chi phí bỏ
ra>= giá trị thu hồi của TSCĐ.
Trong trường hợp này, doanh nghiệp tuỳ tình hình cụ thể mà cân nhắc
thanh lý TSCĐ để đổi mới TSCĐ.
Ngoài ra, để bảo toàn VCĐ, doanh nghiệp nên chủ động thực hiện các
biện pháp phòng ngừa rủi ro như: mua bảo hiểm tài sản, trích lập quĩ dự phòng
tài chính, trích lập dự phòng giảm giá các loại chứng khoán đầu tư.
Theo thông tư số 64/TC/TCDN ngày 15/09/1997 của Bộ tài chính, doanh
nghiệp phải lập dự phòng cho từng loại chứng khoán đầu tư, có biến động giảm
giá tại thời điểm 31/12 năm báo cáo, theo công thức sau:
Cđt: chỉ số đánh giá lại của TSCĐ tại thời điểm t
Gct: giá trị còn lại của TSCĐ theo sổ sách (chưa đánh giá lại)
Cđt = NGt / NGo
10
NGt: giá trị hiện tại của TSCĐ (hiện giá) tại thời điểm đánh giá
NGo: giá trị nguyên thuỷ của TSCĐ.
b. Vốn lưu động:
Vốn lưu động là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài sản lưu động của
doanh nghiệp.
- Đặc điểm của vốn lưu động:
Trong quá trình kinh doanh, vốn lưu động chuyển toàn bộ giá trị ngay
trong một lần và được thu hồi toàn bộ sau khi doanh nghiệp thu được tiền bán
hàng. Như vậy, vốn lưu động hoàn thành một vòng luân chuyển sau một chu kỳ
kinh doanh.
Trong một chu kỳ kinh doanh, vốn lưu động được biểu hiện dưới nhiều
hình thái khác nhau ( T-NVL-SPDD-TP-T’).
Thời gian chu chuyển của VLĐ ngắn hơn so với VCĐ.
- Phân loại :
Để quản lý và sử dụng VLĐ có hiệu quả, người ta phân loại VLĐ theo các
tiêu thức khác nhau.
* Phân loại theo hình thái biểu hiện: VLĐ được chia thành:
Vốn bằng tiền và vốn trong thanh toán:
+ Vốn bằng tiền: Tiền mặt tại quĩ, TGNH, Tiền đang chuyển.
+ Vốn trong thanh toán: Các khoản nợ phải thu của khách hàng, các
khoản tạm ứng, các khoản phải thu khác.
Vốn vật tư hàng hoá ( hay còn gọi là hàng tồn kho ) bao gồm: Nguyên,
nhiên vật liệu, phụ tùng thay thế, công cụ dụng cụ, SPDD, TP.
Vốn về chi phí trả trước: Là những khoản chi phí lớn thực tế đã phát sinh
cho doanh nghiệp.
* Quản lý chặt chẽ các khoản thu, chi bằng tiền để tránh việc thất thoát vốn.
Thứ hai, quản lý các khoản phải thu
Trong cơ chế thị trường hiện nay để bán được hàng hoá các doanh nghiệp
thường chấp nhận cho khách hàng nợ lại. Việc quyết định cho khách hàng chiếm
dụng vốn, doanh nghiệp có thể xem xét từ các khía cạnh: mức độ uy tín, khả
năng thanh toán của khách hàng, tình trạng tài chính tổng quát của doanh
12
nghiệp Nói chung đối với mỗi chính sách bán chịu doanh nghiệp cần đánh giá
kỹ theo các thông số chủ yếu sau:
+ Số lượng sản phẩm hàng hoá, dịch vụ dự kiến tiêu thụ được.
+ Giá bán sản phẩm, hàng hoá dịch vụ.
+ Các khoản chi phí phát sinh thêm do việc tăng các khoản nợ.
+ Các khoản chiết khấu chấp nhận
+ Thời gian thu hồi nợ bình quân đối với các khoản nợ.
Thứ ba, quản lý hàng tồn kho
Hàng tồn kho dự trữ đối với doanh nghiệp sản xuất là NVL, SPDD,TP còn
đối với doanh nghiệp thương mại chủ yếu là hàng hoá để bán. Mỗi loại dự trữ có đặc
điểm riêng.Do đó cần có biện pháp quản lý thích hợp đối với từng loại dự trữ.
Việc quản lý vốn dự trữ hàng hoá để bán trong các doanh nghiệp thương
mại về cơ bản cũng giống như quản lý vốn dự trữ NVL trong các doanh nghiệp
sản xuất. Để quản lý tốt loại vốn này cần phối hợp nhiều biện pháp từ khâu mua
sắm, vận chuyển và dự trữ ở kho.
a) Xác định đúng đắn lượng hàng tồn kho cần thiết theo phương pháp trực
tiếp:
*) Xác định mức dự trữ cần thiết về NVL chính:
Dnl = Nnl Mnl
Trong đó:
Dtp = Ztp Ntp
Trong đó:
Dtp: số dự trữ cần thiết về thành phẩm trong kỳ
Ztp: giá thành sản xuất của sản phẩm hàng hoá bình quân mỗi
ngày kỳ kế hoạch
Ntp: Số ngày dự trữ về TP.
Giá thành sản xuất của SP hàng hoá bình quân mỗi ngày = giá thành sản
xuất SP hàng hoá cả năm chia cho số ngày trong năm (360 ngày). Số ngày dự
trữ TP là số ngày kể từ lúc TP nhập kho cho đến khi xuất kho đưa đi tiêu thụ.
14
Ngoài cách xác định dự trữ HTK nêu trên, ta còn có thể xác định theo
phương pháp gián tiếp, xác định theo đơn đặt hàng. Đối với doanh nghiệp có
quy mô nhỏ, có thể xác định theo kinh nghiệm hoặc theo mức trung bình của
ngành, hoặc tính theo tỷ lệ trên doanh thu.
b) Xác định và lựa chọn người cung ứng thích hợp.
Doanh nghiệp cần cân nhắc các nguồn cung ứng và người cung ứng. Mục
tiêu cần đạt được trong việc lựa chọn là giá cả thấp, những điều khoản thương
lượng thuận lợi (thời gian và địa điểm giao hàng, điều kiện được hưởng tín dụng
thương mại).
c) Thường xuyên theo dõi sự biến động của thị trường vật tư hàng hoá. Từ
đó dự đoán và quyết định điều chỉnh kịp thời việc mua sắm NVL hoặc hàng hoá
có lợi cho doanh nghiệp trước sự biến động của thị trường. Đây là một biện pháp
rất quan trọng để bảo toàn vốn cho doanh nghiệp.
d) Lựa chọn các phương tiện vận chuyển thích hợp, giảm bớt chi phí vận
chuyển, bốc dỡ.
e) Tổ chức tốt việc dự trữ, bảo quản NVL hoặc hàng hoá, áp dụng thưởng
phạt vật chất để tránh tình trạng bị mất mát hao hụt quá mức vật tư hàng hoá.
f) Thường xuyên kiểm tra nắm vững tình hình dự trữ, phát hiện kịp thời
người cung cấp = trung bình bình quân 1 ngày trong kỳ(loại mua chịu)
- Theo phương pháp gián tiếp:
Nhu cầu VLĐ = Tỷ lệ nhu cầu VLĐ/DTT Doanh thu thuần
Mức dự trữ HTK Các khoản phải Các khoản phải
Tỷ lệ nhu cầu bình quân trả bình quân thu bình quân
VLĐ/DTT = +
Doanh thu thuần Doanh thu thuần Doanh thu thuần
3. Một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn:
3.1> Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng VLĐ:
a) Tốc độ luân chuyển VLĐ:
Tổng mức luân chuyển VLĐ (DTT trong kỳ)
Số lần luân chuyển = (1)
(số vòng quay) VLĐ bình quân sử dụng trong kỳ
VLĐ đầu năm + VLĐ cuối năm
VLĐ bình quân sử dụng trong kỳ =
2
b, Kỳ luân chuyển VLĐ:
Là số ngày bình quân cần thiết để VLĐ thực hiện được 1 vòng quay trong kỳ
Số ngày trong kỳ
Kỳ luân chuyển VLĐ = (2)
Số vòng quay VLĐ
Kỳ luân chuyển VLĐ càng ngắn thì VLĐ luân chuyển càng nhanh và
ngược lại.
17
Nguyên giá TSCĐ bình quân trong kỳ
b) Tỷ suất lợi nhuận VCĐ: phản ánh một đồng vốn trong kỳ có thể tạo ra
bao nhiêu đồng lợi nhuận trước thuế (hoặc sau thuế) 18
lợi nhuận trước thuế (hoặc sau thuế)
Tỷ suất lợi nhuận VCĐ = (6)
VCĐ bình quân trong kỳ
Các chỉ tiêu (4), (5), (6) các chỉ tiêu càng cao thì hiệu suất sử dụng VCĐ càng
lớn và ngược lại.
Số tiền KH luỹ kế của TSCĐ
Tính đến thời điểm đánh giá
d) Hệ số hao mòn TSCĐ: = (7)
Nguyên giá TSCĐ bình quân
ở thời điểm đánh giá
Hệ số hao mòn trên càng lớn (tối đa = 1) thể hiện mức độ thu hồi vốn
càng nhanh, do đó việc bảo toàn vốn là tốt.
e) Hệ số huy động TSCĐ: chỉ tiêu này phản ánh mức độ huy động TSCĐ
hiện có vào hoạt động kinh doanh trong kỳ của doanh nghiệp.
Giá trị TSCĐ đang dùng
trong hoạt động kinh doanh
Hệ số huy động TSCĐ trong kỳ = (8)
Giá trị TSCĐ hiện có của DN
Giá trị TSCĐ trong công thức trên là giá trị còn lại của TSCĐ hữu hình và
vô hình của doanh nghiệp ở thời điểm đánh giá.
d) Tỷ suất lợi nhuận ròng vốn CSH = (12)
Vốn CSH bình quân sử
dụng trong kỳ
Trong tất cả các chỉ tiêu trên, VKD bình quân sử dụng trong kỳ được tính như
sau:
VKD đầu kỳ + VKD cuối kỳ
VKD bình quân =
2
Các chỉ tiêu (9), (10), (11), (12) càng cao thì hiệu suất sử dụng VKD càng
lớn và ngược lại.
20
PHẦN II: TÌNH HÌNH THỰC TẾ CÔNG TÁC QUẢN LÝ VÀ SỬ
DỤNG VỐN KINH DOANH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG
ĐẠI CÁT THÀNH
I. Khái quát chung về công ty
1. Quá trình hình thành và phát triển của công ty Cổ phần Xây Dựng Đại
Cát Thành:
1.1. Lịch sử hình thành và sự phát triển của Công ty.
Công ty Cổ phần Xây dựng Đại Cát Thành được thành lập theo
quyết định số 2409 QĐ/TCCB-LĐ ngày 21/11/1994 của Bộ Giao thông
vận tải và theo nghị quyết 22/BCT của Bộ Chính trị, quyết định số
72/CP của Thủ tướng Chính phủ nhằm thực hiện về phát triển kinh tế
xã hội
Công ty được hình thành đã tăng thêm sức mạnh của Tổng Công
ty. Đây là sự nhìn nhận có tầm chiến lược của Tổng Công ty về khu
vực Tây Bắc.
Trụ sở chính của Công ty đặt tại Số 4 Phố Huế – Hà Nội.
Với chức năng và nhiệm vụ chủ yếu là nhận thầu thi công xây
- Trình độ trung cấp: 30 người.
- Còn lại là công nhân kỹ thuật và lao động phổ thông.
- Giám đốc
giữ vai trò lãnh đạo chung toàn Công ty, là đại diện
pháp nhân của Công ty, chịu trách nhiệm trước Công ty, trước Hội
đồng quản trị Tổng Công ty và trước pháp luật về việc điều hành hoạt
động sản xuất theo chế độ một thủ trưởng, quyết định và tự chịu trách
nhiệm về kế hoạch sản xuất của Công ty cũng như kết quả hoạt động
sản xuất kinh doanh của Công ty .
Giúp việc cho Giám đốc có 2 Phó Giám đốc:
- Một
phó giám đốc
phụ trách kỹ thuật - thi công: Trực tiếp chỉ
đạo các hoạt động kinh doanh và thay mặt Giám đốc khi được uỷ
quyền ký kết các hợp đồng kinh tế xây dựng.
22
- Một
phó giám đốc
phụ trách nội chính: trực tiếp chỉ đạo các sự
việc diễn ra thường xuyên tại Công ty và có quyền ký các hợp đồng
lao động với cán bộ công nhân viên.
Các phó giám đốc phải chịu trách nhiệm trước giám đốc về lĩnh
vực được phân công và chịu trách nhiệm thay mặt Giám đốc khi được
uỷ quyền.
Để giúp Ban giám đốc quản lý công việc có các phòng ban chức
năng được tổ chức theo yêu cầu của công việc quản lý sản xuất kinh
doanh, quản lý kỹ thuật bao gồm:
- Phòng tổ chức hành chính:
kết. Giúp Giám đốc quản lý tài sản và đầu tư tài sản có hiệu quả.
Ngoài ra, phòng còn có nhiệm vụ theo dõi việc sử dụng máy của các
đội thi công về kỹ thuật và trình độ sử dụng, theo dõi thời hạn đại tu,
sửa chữa lớn của mỗi máy, thời gian sử dụng của từng máy để tính
khấu hao.
- Phòng Kế toán tài chính:
Có nhiệm vụ tổng hợp các số liệu,
thông tin về công tác tài chính kế toán, thực hiện việc xử lý thông tin
trong công tác hạch toán theo yêu cầu thể lệ tổ chức kế toán nhà nước.
Ghi chép cập nhật chứng từ kịp thời, chính xác, theo dõi hạch toán các
khoản chi phí, kiểm tra giám sát tính hợp lý , hợp pháp của các khoản
chi phí đó nhằm giám sát phân tích hiệu quả kinh tế của mọi hoạt động
sản xuất kinh doanh của Công ty, từ đó giúp ban lãnh đạo đưa ra
những biện pháp tối ưu. Tập hợp các khoản chi phí sản xuất, tính giá
thành sản phẩm qua các giai đoạn, xác định kết quả sản xuất kinh
doanh, theo dõi tăng giảm tài sản và thanh quyết toán các hợp đồng
kinh tế, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ với nhà nước về các khoản phải
nộp.
Ngoài ra lập kế hoạch tín dụng để vay vốn thi công, vay vốn dài
hạn để mua thiết bị, thu hồi công nợ ở các chủ đầu tư.
- Khối xí nghiệp và đội trực thuộc Công ty:
Có 7 xí nghiệp và
đội công trình có chức năng và nhiệm vụ như nhau đó là cùng đảm
nhận công việc xây dựng công trình do các xí nghiệp và các đội tự
nhận hoặc do Công ty giao cho.
- Các ban điều hành công trình, văn phòng đại diện:
24
- Văn phòng đại diện tại Hà Nội.
vật tư
thiết
bị
Phòng
Tài
chính
kế toán
Phòng
Tổ chức
hành
chính
Giám đốc
- Văn phòng đại diện.
- Các Đội 1, 2, , 7.
-
Xí nghi
ệp XDCT 125
Bảng 1: Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh năm 2008 –2009
Đơn vị tính: triệu đồng.
Chỉ tiêu
Năm 2008 Năm 2009 Chênh lệch
Số tiền Tỷ lệ tăng (%)
(1) (2) (3) (4)=(3)-(2)