LUẬN VĂN:
Một số giải pháp đẩy mạnh hoạt
động xuất khẩu chè ở Tổng Công
ty chè Việt Nam
Lời nói đầu
Xuất phát từ tình hình đổi mới của nền kinh tế thế giới, với những kinh nghiệm
thực tiễn và bài học của nhiều nước trên thế giới. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI
đã đề ra 3 chương trình mục tiêu lớn: “ Lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng và
luận, tôi mạnh dạn chọn đề tài:
“Một số giải pháp đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu chè ở Tổng Công ty
chè Việt Nam ”.
Mặc dù thời gian qua đã có những nhiều Đề tài khoa học, luận án, chuyên đề…
nghiên cứu vấn đề này, nhưng chuyên đề này sẽ cố gắng phân tích một cách hệ thống
các vấn đề xuất khẩu chè và đưa ra các giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu chè của Tổng
Công ty Chè Việt Nam .
Chuyên đề ngoài phần mở đầu và kết luận gồm ba chương:
Chương I : Xuất khẩu và vai trò của hoạt động xuất khẩu chè đối với
doanh nghiệp sản xuất kinh doanh chè.
Chương II : Phân tích thực trạng hoạt động xuất khẩu chè ở Tổng Công
ty chè Việt Nam .
Chương III: Phương hướng và giải pháp chủ yếu đẩy mạnh xuất khẩu chè
trong thời gian tới.
Do hạn chế về thời gian cũng như trình độ, nội dung chuyên đề chắc còn nhiều
thiếu sót, nhiều vấn đề tiếp tục phải nghiên cứu và trao đổi, tôi mong muốn nhận được
các ý kiến đóng góp.
Tôi xin chân thành cảm ơn !
Hà Nội, tháng 9 năm 2002.
Nguyễn Nam Hưng
ngoài nhằm mục đích lợi nhuận, thúc đẩy hàng hoá sản xuất phát triển, chuyển đổi cơ
cấu nền kinh tế, ổn định và nâng cao mức sống của nhân dân. Mặt khác hoạt động
này dễ đem lại hiệu quả đột biến nhưng có thể lại gây ra thiệt hại lớn vì nó phải đối
đầu với một hệ thông kinh tế khác từ bên ngoài mà các chủ thể trong nước tham gia
xuất khẩu không dễ dàng khống chế được.
Hoạt động xuất khẩu được diễn ra trong mọi lĩnh vực, mọi điều kiện kinh tế, từ
xuất khẩu hàng hoá tiêu dùng đến xuất khẩu tư liệu sản xuất, từ máy móc thiết bị cho
đến các máy móc công nghệ kỹ thuật cao, từ hàng hoá hữu hình đến hàng hoá vô hình.
Tất cả đều nhằm mục tiêu đem lại lại lợi ích cho các quốc gia tham gia.
Hoạt động này diễn ra trong phạm vi rất rộng cả về không gian và thời gian.
Nó có thể diễn ra trong một ngày hay kéo dài hàng năm; có thể diễn ra trên phạm vi
lãnh thổ của một hay nhiều quốc gia khác nhau.
Nếu xét dưới góc độ các hình thức kinh doanh quốc tế thì xuất khẩu là hình
thức cơ bản đầu tiên mà các doanh nghiệp áp dụng khi bước vào lĩnh vực kinh doanh
quốc tế. Mọi Công ty luôn hướng tới xuất khẩu những sản phẩm và dịch vụ của mình
ra nước ngoài. Do vậy mà xuất khẩu được xem như chiến lược kinh doanh quan trọng
của các Công ty.
Có nhiều nguyên nhân khuyến khích các Công ty thực hiện xuất khẩu trong đó
có thể là:
+ Sử dụng khả năng vượt trội (hoặc những lợi thế) của Công ty.
+ Giảm được chi phí cho một đơn vị sản phẩm do nâng cao khối lượng sản
xuất.
+ Nâng cao được lợi nhuận của Công ty.
+ Giảm được rủi ro do tối thiểu hoá sự dao động của nhu cầu.
Khi một thị trường chưa bị hạn chế bởi thuế quan, hạn ngạch, các quy định về
tiêu chuẩn kỹ thuật hay năng lực của các tổ chức kinh doanh quốc tế chưa đủ thực hiện
các hình thức cao hơn thì hình thức xuất khẩu được chọn vì ở xuất khẩu lượng vốn ít
hơn, rủi ro thấp hơn và thu được hiệu quả kinh tế cao trong thời gian ngắn.
Lý thuyết trọng thương mang lại lợi ích cho các cường quốc thực dân, vì thế
chính sách ngoại thương của trường phái này theo hướng:
- Giá trị xuất khẩu càng nhiều càng tốt, nghĩa là không những số lượng hàng
hoá xuất khẩu phải nhiều mà còn phải ưu tiên xuất khẩu những hàng hoá có giá trị
cao. Đồng thời đánh giá thấp việc xuất khẩu nguyên liệu và cố sử dụng nguyên liệu
để sản xuất trong nưóc rồi đem xuất khẩu sản phẩm.
- Giữ nhập khẩu ở mức độ tối thiểu, giành ưu tiên cho nhập khẩu nguyên liệu,
hạn chế hoặc cấm nhập khẩu thành phẩm nhất là hàng xa xỉ.
- Khuyến khích chở hàng hoá bằng tàu của nước mình vì như vậy vừa bán
được hàng và tận dụng được cả những món lợi nhuận khác như: cước vận tải, phí bảo
hiểm
ảnh hưởng của lý thuyết trọng thương đã bị mờ nhạt đi sau năm 1650. Lúc này
các cường quốc thực dân thường hạn chế sự phát triển công nghiệp của các nước
thuộc địa của họ, nhưng các thủ đoạn hợp pháp vẫn buộc chặt quan hệ thương mại
của các nước thuộc địa với chính quốc. Tuy nhiên quan điểm “Nội thương là hệ thống
ống dẫn, ngoại thương là máy bơm. Muốn tăng của cải phải có ngoại thương nhập
dẫn của cải qua nội thương”, cho đến nay vẫn luôn được các quốc gia khai thác và
phát triển một cách tối ưu nhất.
2.2. Lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith
Khác với trường phái trọng thương, AdamSmith cho rằng: “ Sự giàu có của mỗi
quốc gia phụ thuộc vào số hàng hoá và dịch vụ có sẵn hơn là phụ thuộc vào vàng”.
Theo Adam Smith, nếu thương mại không bị hạn chế theo nguyên tắc phân công
thì các quốc gia có lợi ích từ thương mại quốc tế - nghĩa là mỗi quốc gia có lợi thế về mặt
điều kiện tự nhiên hay do trình độ sản xuất phát triển cao sẽ sản xuất ra những sản phẩm
mà mình có lợi thế với chi phí thấp hơn so với các nước khác. Ông phê phán sự phi lý
của lý thuyết trọng thương và chứng minh rằng: mậu dịch sẽ giúp cả hai bên đều gia
tăng tài sản. Theo ông, nếu mỗi quốc gia đều chuyên môn hoá vào những ngành sản xuất
vào thương mại quốc tế để tạo ra lợi ích. Nói cách khác trong điểm bất lợi vẫn có
những điểm thuận lợi để khai thác khi tham gia vào hoạt động xuất khẩu, những quốc
gia có hiệu quả thấp trong việc sản xuất ra các loại hàng hoá sẽ có thể chuyên môn
hoá sản xuất hàng hoá ít bất lợi nhất để trao đổi với các quốc gia khác và nhập về
những hàng hoá mà việc sản xuất ra nó gặp rất nhiều khó khăn và bất lợi. Từ đó tiết
kiệm được nguồn lực của mình và thúc đẩy sản xuất trong nước. Ta có thể giải thích
rõ điều này thông qua ví dụ sau:
Giả sử 2 quốc gia Việt Nam và Mỹ có năng lực sản xuất vải và máy tính như
sau:
Ta thấy cả hai quốc gia đều sản xuất hai mặt hàng vải và máy tính. Tuy nhiên
nếu phân tích cụ thể thì ta sẽ thấy năng suất lao động của ngành chế tạo máy tính của
Mỹ gấp 6 lần của Việt Nam trong khi đó ngành dệt chỉ gấp 2 lần. Như vậy, giữa chế
tạo máy tính và sản xuất vải thì Mĩ có lợi thế tương đối trong việc sản xuất máy tính
còn Việt Nam có lợi thế tương đối trong việc sản xuất vải. Theo quy luật của lợi thế
so sánh hai quốc gia sẽ cùng có lợi nếu mỗi quốc gia chuyên môn hoá sản xuất loại
sản phẩm mình có lợi thế so sánh hơn sau đó tiến hành trao đổi một phần sản phẩm
cho nhau.
1
giúp cho việc sử dụng tốt nhất, hiệu quả nhất nguồn lực của mỗi nước. Bên cạnh đó còn
làm tăng sản lượng và chất lượng sản phẩm, tạo điều kiện mở rộng khả năng tiêu dùng
của mỗi quốc gia. Vì vậy đây chính là tính tất yếu của việc mở rộng hoạt động xuất nhập
khẩu này.
3. Vai trò hoạt động xuất khẩu chè
3.1. Đối với nền kinh tế quốc dân nói chung
Với xu thế ngày nay, trong sự khắc nghiệt của nền kinh tế thị trường và nền
kinh tế Thế giới đã khẳng định: Một đất nước có được thiên nhiên ưu đãi đến đâu đi
nữa, nhưng nếu không hội nhập vào thương mại quốc tế, thì nền kinh tế tự cung tự
cấp đó sẽ bị kiệt quệ, yếu kém, không tài nào có thể vực dậy được, không theo kịp
được xu hướng phát triển của nền kinh tế quốc tế và sẽ bị tụt hậu. Vì thế ở Đại hội VI
Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Đảng và Nhà nước ta đã nhận thức một cách
sâu sắc là: Chỉ có mở rộng ngoại thương, hội nhập thương mại quốc tế mới cho phép
chúng ta đánh giá đúng khả năng trình độ, sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam. Vì
vậy xuất khẩu đóng một vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân và hoạt động
xuất khẩu chè cũng là sự đóng góp không nhỏ góp phần vào hoạt động xuất khẩu Việt
Nam .
- Xuất khẩu chè tạo nguồn vốn không nhỏ cho nhập khẩu thiết bị, công nghệ
phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Đối với mọi quốc gia đang phát triển thì bước đi thích hợp nhất là phải công
nghiệp hoá, hiện đại hoá để khắc phục tình trạng nghèo nàn, lạc hậu chậm phát triển. Tuy
nhiên, quá trình công nghiệp hoá đòi hỏi phải có một số lượng vốn rất lớn để nhập khẩu
máy móc thiết bị, công nghệ tiên tiến.
Thực tế cho thấy, để có nguồn vốn nhập khẩu, một nước có thể sử dụng nguồn
một phạm vi nhỏ và tăng trưởng chậm, do đó các ngành sản xuất không có cơ hội phát
triển. Thực tế trong những năm vừa qua thì số lượng chè sản xuất ra trong nước đã phần
nào đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng trong nước, ngoài ra còn khoảng 27% sản lượng sản
xuất để phục vụ cho xuất khẩu.
Thứ hai, coi thị trường thế giới là mục tiêu để tổ chức sản xuất và xuất khẩu.
Quan điểm này tác động tích cực đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất, thể
hiện:
+ Xuất khẩu chè tạo điều kiện cho các ngành cùng có cơ hội phát triển.
Chẳng hạn, khi sản xuất chè xuất khẩu phát triển thì nó cần rất nhiều sự hỗ trợ của
các ngành khác như : công nghiệp chế tạo máy móc, công nghiệp điện, giao thông vận
tải… và nó cũng đỏi hỏi chính sự phát triển của các ngành này
+ Xuất khẩu chè tạo điều kiện mở rộng thị trường sản phẩm chè, góp phần ổn
định sản xuất, tạo ra lợi thế kinh tế nhờ quy mô.
+ Xuất khẩu chè tạo điều kiện mở rộng khả năng cung cấp đầu vào cho sản xuất
chè, tăng thêm về nguồn nguyên liệu cho sản xuất và chế biến, mở rộng khả năng tiêu
dùng của một quốc gia. Ngoại thương cho phép một nước có thể tiêu dùng tất cả các mặt
hàng với số lượng lớn hơn nhiều lần giới hạn sản xuất của quốc gia đó.
+ Xuất khẩu chè còn có vai trò thúc đẩy chuyên môn hoá, tăng cường hiệu quả
sản xuất chè của Việt Nam trên thị trường thế giới. Nó cho phép chuyên môn hoá sản
xuất chè phát triển cả về chiều rộng và chiều sâu. Ngày nay đối với việc sản xuất những
sản phẩm công nghệ cao thì : mỗi một loại sản phẩm người ta nghiên cứu thử nghiệm ở
nước thứ nhất, chế tạo ở nước thứ hai, lắp ráp ở nước thứ ba, tiêu thụ ở nước thứ tư và
thanh toán thực hiện ở nước thứ năm. Như vậy, hàng hoá sản xuất ra ở một nước và tiêu
thụ ở nhiều nước khác nhau cho thấy tác động ngược trở lại của hoạt động xuất khẩu đối
với việc chuyên môn hoá sản xuất, tạo điều kiện cho chuyên môn hoá sâu. Đối với việc
sản xuất chè xuất khẩu ở Việt Nam để được thị trường thế giới chấp nhận thì đòi hỏi cần
đạt 850-900 nghìn đồng/người/tháng. Một số đơn vị sản xuất chè có thu nhập rất cao
như :Trần Phú, Nghĩa Lộ, Yên Bái, Phú Sơn, Mộc Châu.
Để tăng thêm thu nhập cải thiện người làm chè, các hộ làm chè đã kết hợp làm
kinh tế gia đình theo mô hình VAC gắn liền kinh tế vườn nhà, vườn đồi, đem lại
nguồn thu nhập đáng kể góp phần quan trọng để ổn định đời sống nhất là những khi
việc sản xuất kinh doanh của xí nghiệp gặp khó khăn. Nhiều gia đình ở Công ty chè
Sông Cầu, Phú Sơn, Trần Phú , …đạt mức thu nhập kinh tế gia đình (VAC) từ 18-
223 triệu đồng /năm/hộ , đặc biệt là Công ty chè Mộc Châu vùng đặc sản cây mơ,
cây mận có giá trị kinh tế cao hàng năm có tới 30-40% số hộ gia đình có thu nhập từ
cây mơ, cây mận đạt từ 12-18 triệu đồng/ năm, có gia đình thu nhập đạt 40-50 triệu
đồng /năm .Nhờ có thu nhập từ các cây trồng khác và làm kinh tế phụ đã giúp cho
cây chè phát triển ổn định, lâu dài và tạo thành một vùng sản xuất hàng hoá lớn. Do
sản xuất và kinh doanh có hiệu quả mà đời sống vật chất và văn hoá của người làm
chè được nâng lên. Theo báo cáo năm 1999 của Tổng Công ty chè thì có khoảng 30%
hộ khá, giàu, 55% số hộ trung bình và số hộ nghèo đói là 15%, cho đến năm 2000 con
số này lần lượt là 33% , 60%, 7%. Đây là dấu hiệu tích cực đối với ngành chè và
người lao động.
- Xuất khẩu chè là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy sự phát triển các mối quan hệ
kinh tế đối ngoại.
Xuất khẩu và các mối quan hệ kinh tế đối ngoại có mối tác động qua lại phụ
thuộc lẫn nhau. Hoạt động xuất khẩu chè là một loại hoạt động chủ yếu cơ bản và là
hình thức ban đầu của hoạt động kinh tế đối ngoại, từ đó nó thúc đẩy các mối quan hệ
khác phát triển theo như du lịch quốc tế, bảo hiểm quốc tế, tín dụng quốc tế Ngược
lại, sự phát triển của các ngành này lại là những điều kiện tiền đề cho hoạt động xuất
khẩu phát triển.
Xuất khẩu nói riêng và ngoại thương nói chung dẫn tới sự thay đổi của những
tiêu thụ sao cho có hiệu quả nhất. Thêm vào đó hoạt động xuất khẩu còn khuyến
khích sự phát triển các mạng lưới kinh doanh của doanh nghiệp chè chẳng hạn như
hoạt động đầu tư nghiên cứu và phát triển, các hoạt động sản xuất, marketing và sự
phân phối, sự mở rộng trong việc cấp giấy phép xuất nhập khẩu các mặt hàng khác.
- Sản xuất chè xuất khẩu giúp doanh nghiệp thu hút được nhiều lao động, tạo
ra thu nhập ổn định, tạo ra ngoại tệ để nhập khẩu vật phẩm tiêu dùng, các dây chuyền
công nghệ có liên quan đến sản xuất và chế biến chè, vừa đáp ứng được nhu cầu ngày
càng cao của nhân dân và thu được ngoại tệ để phục vụ cho qua trình tái đầu tư.
- Doanh nghiệp tiến hành hoạt động xuất khẩu chè có cơ hội mở rộng quan hệ
buôn bán kinh doanh với nhiều đối tác nước ngoài có thể thông qua đối tác tiêu thụ chè
của mình mà doanh nghiệp có được những thông tin, nguồn sản phẩm mới, công nghệ
mới mà ngay thị trường trong nước đang cần. Thông qua hoạt động xuất khẩu chè mà
doanh nghiệp có điều kiện, cơ hội để liên doanh, liên kết hợp tác để sản xuất, tiêu thụ
những loại sản phẩm mới ngay tại nước mình hoặc các nước khác.
Ngoài ra việc xuất khẩu đưa mặt hàng chè ra thị trường quốc tế còn giúp ngành
chè hiểu, xác định được mình nên chú trọng vào loại chè nào. Cần nâng cao chất
lượng, đổi mới mẫu mã, bao bì và hạ giá thành cho phù hợp nhất với thị hiếu của thị
trường quốc tế nhằm thu được lợi nhuận tối đa.
II. Các hình thức xuất khẩu chè
Với mục tiêu là đa dạng hoá các hình thức kinh doanh xuất khẩu, nhằm phân
tán và chia sẻ rủi ro, từ trước tới nay các doanh nghiệp chè thường lựa chọn các hình
thức xuất khẩu chủ yếu là:
1. Xuất khẩu trực tiếp
Kinh doanh xuất khẩu chè trực tiếp là việc xuất khẩu các loại chè do chính
doanh nghiệp sản xuất ra hoặc thu mua từ các đơn vị sản xuất trong nước sau đó xuất
khẩu những mặt hàng này ra nước ngoài với danh nghĩa là hàng của doanh nghiệp
xuất khẩu. Tỷ lệ phần trăm này là do hai bên tự thoả thuận và ký kết hợp đồng, thông
thường là 0,5%giá trị. Hình thức này chỉ được áp dụng khi doanh nghiệp xuất khẩu
một lượng hàng nhỏ hoặc trước kia doanh nghiệp không có giấy phép kinh doanh
xuất nhập khẩu trực tiếp.
Hình thức xuất khẩu uỷ thác được tiến hành theo các bước sau:
- Ký hợp đồng nhận uỷ thác xuất khẩu chè cho doanh nghiệp chế biến trong
nước.
- Thay mặt ký hợp đồng với phía nước ngoài, làm thủ tục giao hàng và thanh
toán tiền.
- Về phần tìm kiếm doanh nghiệp nhập khẩu chè ở nước ngoài là do sự thoả
thuận giữa doanh nghiệp chế biến chè và doanh nghiệp ngoại thương.
- Nhận phí uỷ thác xuất khẩu chè từ doanh nghiệp chế biến trong nước.
Ưu điểm của hình thức xuất khẩu này là mức độ rủi ro thấp do không phải chịu
trách nhiệm về giá cả tăng hay giảm bất thường, người đứng ra xuất khẩu chè không
phải là người chịu trách nhiệm cuối cùng. Đặc biệt, với tình hình khan hiếm vốn như
hiện nay các doanh nghiệp ngoại thương thường áp dụng hình thức này do không cần
huy động vốn để mua chè. Tuy nhận tiền ít nhưng nhận tiền nhanh cần ít thủ tục và
tương đối tin cậy.
3. Xuất khẩu theo nghị định thư giữa hai chính phủ
Đây là hình thức xuất khẩu chè (thường là để trả nợ) được ký theo nghị định
thư giữa hai chính phủ. Xuất khẩu chè theo hình thức này có nhiều ưu đãi như : khả
năng thanh toán chắc chắn ( do nhà nước trả cho doanh nghiệp chế biến chè xuất
khẩu), giá cả chè nhìn chung có thể chấp nhận được, doanh nghiệp chế biến không
phải lo nghĩ về đầu ra cho chè mà mình sản xuất …Trên thực tế hiện nay, thì hình
thức này rất ít được áp dụng. Nhà nước chỉ giao nhiệm vụ cho doanh nghiệp nào có
khả năng về tài chính, năng lực sản xuất nhất. Thông thường thì Tổng Công ty chè
yếu tố vi mô và khả năng của doanh nghiệp, thường đó là các yếu tố về văn hoá - xã
hội, luật pháp, kinh tế, chính trị, khoa học công nghệ và các yếu tố thuộc môi
trường tài chính. Đây cũng là một quá trình đòi hỏi nhiều thời gian chi phí.
2. Lựa chọn mặt hàng xuất khẩu
Sau khi lựa chọn được thị trường phù hợp với doanh nghiệp mình thì doanh
nghiệp phải xác định những loại chè nào mà mình định kinh doanh. Trên thực tế,
doanh nghiệp có sự lựa chọn mặt hàng xuất khẩu chè như sau:
- Doanh nghiệp xuất khẩu những loại chè mà mình sản xuất.
- Doanh nghiệp xuất khẩu những loại chè mà thị trường cần.
- Doanh nghiệp sản xuất những loại chè giống như thị trường thế giới không
phân biệt sự khác nhau về văn hoá, xã hội, ngôn ngữ, phong tục tập quán và biên
giới quốc gia.
Sản phẩm chè cũng giống như các sản phẩm khác là cũng tồn tại một chu kỳ
sống của sản phẩm. Chu kỳ này là tiến trình phát triển việc tiêu thụ một loại chè cụ
thể bao gồm 4 giai đoạn như sau : Thâm nhập – Phát triển – Bão hoà - Thoái trào.
Việc xuất khẩu chè đang ở giai đoạn 1 và 2 gặp thuận lợi nhất. Tuy nhiên, có khi sản
phẩm chè đã ở giai đoạn 4 nhưng nhờ việc thực hiện các biện pháp xúc tiến tiêu thụ
(quảng cáo, cải tiến hệ thống tổ chức tiêu thụ, giảm giá bán, khuyến mãi…) người ta
có thể đẩy mạnh được xuất khẩu.
Ngày nay, xu hướng xuất khẩu những loại chè mà thị trường cần và xuất khẩu
những loại chè giống nhau ra các thị trường là phổ biến. Còn xuất khẩu những loại
chè mà doanh nghiệp sản xuất ra chỉ bó hẹp trong một lĩnh vực…
Như vậy, việc lựa chọn loại chè xuất khẩu, ngoài yêu cầu phải đạt tiêu chuẩn
chất lượng quốc tế, đáp ứng nhu cầu thị trường thì còn phải phù hợp với khả năng
cũng như kinh nghiệm của từng doanh nghiệp chế biến chè xuất khẩu. Điều này đòi
hỏi phải có sự phân tích đánh giá cẩn thận những đặc điểm nội tại của doanh nghiệp
chế biến chè xuất khẩu đó cũng như dự đoán được cơ hội hay bất lợi khi đưa sản giao dịch, các thao tác của quan hệ giao dịch kinh doanh. Có nhiều phương thức giao
dịch khác nhau. Nhưng phương thức giao dịch phổ biến và được sử dụng nhiều nhất
vẫn là phương thức giao dịch trực tiếp không thông qua trung gian. Phương thức
giao dịch này cho phép hai bên bàn bạc trực tiếp hoặc gián tiếp với nhau, không phải
qua khâu trung gian do đó dễ dàng đi đến thống nhất, không làm mất đi cơ hội kinh
doanh của cả hai bên. Xét về mặt hiệu quả thì giảm được chi phí trung gian và do đó
tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp sản xuất và kinh chè. Hơn nữa hình thức này còn tạo
điều kiện cho cả người mua và người bán chủ động trong việc sản xuất kinh doanh
chè.
Nói chung với những khách hàng khác nhau, tuỳ thuộc vào đặc điểm của thị
trường và khả năng mà doanh nghiệp chè có thể lựa chọn những phương thức giao
dịch khác nhau.
5. Đàm phán, ký kết hợp đồng xuất khẩu
Đàm phán, ký kết hợp đồng xuất khẩu chè là một trong những khâu quan trọng
trong hoạt động xuất khẩu. Việc đàm phán phải căn cứ vào nhu cầu về sản phẩm chè
trên thị trường, đối thủ cạnh tranh, khả năng điều kiện và mục tiêu của doanh nghiệp
cũng như mối quan hệ giữa doanh nghiệp và đối tác.
Có các hình thức đàm phán sau mà doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh chè
thường áp dụng:
+ Đàm phán qua thư tín
+ Đàm phán qua điện thoại
+ Đàm phán bằng cách gặp gỡ trực tiếp…
6. Thực hiện hợp đồng, giao hàng và thanh toán tiền
Sau khi đã ký kết hợp đồng, các đơn vị kinh doanh xuất khẩu chè phải thực
hiện hợp đồng mà mình ký kết, tiến hành sắp xếp những việc phải làm, ghi thành
bảng theo dõi tiến độ thực hiện hợp đồng Đây là một công việc phức tạp đòi hỏi
cân bằng về thời gian và không gian. Thông thường, ngay sau vụ thu hoạch do nhu
cầu tiêu dùng để thực hiện quá trình tái sản xuất tiếp theo buộc người sản xuất phải
bán nông sản ra thị trường không kể giá thị trường cao hay thấp. Hơn nữa, hàng loạt
người sản xuất cùng thu hoạch và có cùng yêu cầu tiêu thụ sản phẩm trên thị trường
đã làm cho khối lượng cung tại thời điểm đó vượt quá cầu và giá thường giảm nhiều,
thậm chí có lúc giảm thấp hơn giá sản xuất. Nhưng vào thời kỳ chè đốn người sản
xuất bán ra ít, khối lượng cung nhỏ hơn cầu của xã hội dẫn tới giá thị trường tăng nên.
Song cũng không vì thế mà người sản xuất có thể tăng cung ngay để thu nhiều lợi
nhuận vì đất trồng vốn đã có giới hạn và cây trồng cũng cần có thời gian sinh trưởng
tự nhiên.
Do đặc điểm này mà người sản xuất nông nghiệp không những phải đối phó
với sự tác động của điều kiện tự nhiên mà còn phải đối phó các vấn đề khách quan
khác xuất phát từ thị trường. Sự biến động một cách tự phát trước biến động bất lợi
của thị trường là sự ra đi của lĩnh vực đang sản xuất, tìm nơi đầu tư có lợi hơn, hoặc
tăng giảm mạnh diện tích trồng cấy. Cơ chế biến động tự phát của giá cả tạo sự phá
hoại lực lượng sản xuất và gây tổn thất cho cả người sản xuất và người tiêu dùng sản
phẩm chè. Để hạn chế sự biến động của thị trường sản phẩm chè theo thời vụ thì :
Về phía người sản xuất phải tạo ra được các giống trái vụ, thay đổi cơ cấu mùa
vụ để thay đổi động thái cung đáp ứng tốt hơn, kinh tế hơn cho thị trường.
Về người kinh doanh phải biết phát triển công nghiệp chế biến, dự trữ hoặc
nhập khẩu để điều hoà cung cầu.
Về phương diện Nhà Nước phải có sự can thiệp để điều hoà cung cầu nhất là
đối với sản phẩm nông nghiệp thiết yếu có tác động đến đời sống dân cư bằng hệ
thống chính sách bảo trợ hàng nông sản.
- Để phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm chè cần phải gắn liền với việc
khai thác và sử dụng lợi thế so sánh các điều kiện tự nhiên, thời tiết khí hậu và những
lợi ích của người nông dân với Chính phủ. Đặc biệt đối với nhiều nước phát triển họ
dùng con bài nông phẩm như là một thứ vũ khí lợi hại để khuất phục các nước lạc
hậu. Do chính sách này đẫ làm cho khả năng mở rộng thị trường của các nước đang
phát triển vào các nước phát triển là hết sức khó khăn và cuộc đấu tranh giữa quan
điểm mậu dịch tự do và bảo hộ mậu dịch trên thị trường sản phẩm nông nghiệp thế
giới là cực kỳ gay gắt.
2. Cung cầu thị trường chè
2.1. Cung về sản phẩm chè
Cung về sản phẩm chè là số lượng sản phẩm chè mà ngành chè có khả năng
và sẵn sàng cung cấp ra thị trường ở các mức giá khác nhau trong một thời gian nhất
định.
Cung về sản phẩm chè có thể do hai nguồn chủ yếu : hoặc do sản xuất chè
trong nước hoặc nhập từ nước ngoài. Tuỳ theo điều kiện của từng nước mà tỷ trọng
của những sản phẩm chè lưu thông trên thị trường do nguồn nào chiếm bao nhiêu là
không giống nhau. Việc xác định số lượng cung dựa vào diễn biến tình hình của thị
trường và số liệu thống kê hằng năm về diện tích, năng suất, và sản lượng hàng hoá
hàng năm của ngành chè. Theo tính toán của hiệp hội chè thì hiện nay Việt Nam đã có
không 100 nghìn ha trồng chè, hàng năm cho khoảng hơn 70 nghìn tấn/năm. Nếu như
đến 2010 mở rộng đến 130 nghìn ha thì lượng cung sẽ thừa cho nhu cầu tiêu dùng
trong nước. Đương nhiên khối lượng sản phẩm chè hàng hoá lại phụ thuộc vào bộ
phận sản phẩm chè được dùng để tiêu thụ nội bộ trong tổng sản phẩm chè được sản
xuất ra, cho nên tiết kiệm và tiêu dùng hợp lý bộ phận sản phẩm chè tiêu dùng nội bộ
là biện pháp quan trọng bên cạnh việc đẩy mạnh sản xuất chè để tăng khối lượng sản
phẩm chè cung ứng ra thị trường.
Khả năng cung thực tế của sản lượng chè hàng hoá phụ thuộc vào các yếu tố
cơ bản sau :