TCNCYH 19 (3) - 2002
Biến chứng của đặt nội khí quản ở bệnh nhân
ngộ độc cấp
Bế Hồng Thu
Khoa Chống
đ
ộc - Bệnh viện Bạch Mai
FFI tại Pháp
112 bệnh nhân ngộ độc cấp phải đặt NKQ từ 12/2000-8/2001 đợc đánh giá các biến chứng của nội
khí quản (NKQ), trong đó 67 bệnh nhân (BN) đợc soi thanh quản trong vòng 24 giờ sau khi rút NKQ. Lí
do đặt NKQ là hôn mê (93%), rối loạn huyết động (38%), suy hô hấp (31%). Thời gian đặt NKQ trung
bình (TB) = 64112 giờ, thời gian nằm viện TB=410 ngày. Nguyên nhân ngộ độc chủ yếu là
benzodiazepin, rợu, thuốc an thần kinh. 67% ngộ độc nhiều loại thuốc. Sau khi rút NKQ, 4 BN phải đặt
lại ống NKQ, 7 BN có khó thở, 51 BN nuốt khó, 73 BN nói khó. Trong số 67 BN đợc soi thanh quản, chỉ
có 12 BN (18%) có kết quả khám TMH bình thờng; 47 (82%) BN có tổn thơng thanh môn, chủ yếu là
phù nề, loét, u hạt; 17 BN (24%) có tổn thơng dới thanh môn; 9 BN (13%) có tổn thơng nắp thanh
môn. Có sự khác nhau có ý nghĩa giữa thời gian đặt NKQ, thời gian nằm viện giữa 2 nhóm có tổn thơng
tai mũi hang (TMH) và không tổn thơng TMH. Riêng nuốt khó có giá trị tiên lợng xuất hiện các tổn
thơng TMH. Kết luận: Tổn thơng TMH là một biến chứng thờng gặp ở BN ngộ độc cấp đợc đặt NKQ
(82,1%), mặc dù thời gian đặt NKQ ngắn. Tổn thơng TMH có liên quan chặt chẽ với thời gian đặt ống
NKQ và thời gian nằm viện (P=0,01), nhng không thấy liên quan với nguyên nhân ngộ độc.
I. Đặt vấn đề
Ngộ độc cấp (NĐC) là một trong những
nguyên nhân chính làm bệnh nhân (BN) phải
vào viện tại các khoa Hồi sức cấp cứu (HSCC) -
chống độc và tỉ lệ NĐC ngày một gia tăng.
Điều trị bệnh nhân NĐC bao gồm: điều trị
triệu chứng, điều trị đặc hiệu, các biện pháp hạn
chế hấp thu và tăng cờng thải trừ. Trên thực tế
có rất ít thuốc giải độc đặc hiệu. Do vậy điều trị
phải đặt NKQ và thở máy vào khoa HSCC bệnh
viện Lariboisière từ tháng 12/2000 - 8/2001.
NKQ sẽ đợc đặt bởi các bác sỹ tiếp nhận BN
đầu tiên.
Tiêu chuẩn loại trừ BN: BN tử vong hoặc mở
khí quản trớc khi rút NKQ.
TCNCYH 19 (3) - 2002
2. Phơng pháp:
áp dụng phơng pháp nghiên cứu tiến cứu.
BN vào đợc khám lâm sàng và làm xét
nghiệm cần thiết.
Chỉ định rút NKQ do bác sỹ chỉ định hoặc
do BN tự rút ống.
Sau khi rút ống NKQ trong vòng 2 giờ chúng
tôi theo dõi mạch, huyết áp, tần số thở, nhiệt độ,
Glasgow. Ngày hôm sau chúng tôi theo dõi tần
số thở, SpO
2
và các triệu chứng cơ năng sau rút
ống NKQ nh: đau họng, nuốt khó, khó thở, nói
khó kéo dài trên 2 giờ.
Trong vòng 24 giờ sau khi rút ống bệnh nhân
sẽ đợc nội soi tai mũi họng (TMH) bằng máy
nội soi để đánh giá tổn thơng TMH (do bác sỹ
TMH thực hiện). Nội soi TMH sẽ đánh giá
những tổn thơng ở các vị trí sau: thanh môn,
dới thanh môn, dây thanh âm, băng thanh thất.
BN sẽ đặt lại ống NKQ khi: khó thở thanh
quản, ứ đọng nhiều đờm dãi, ý thức xấu đi.
III. Kết quả và bàn luận
24 21 14 21
Opiace 7 6 4 6
Thuốc ức chế recepteur
serotonine
5 4 3 4
Lithium 5 4 3 4
Barbituric 4 4 2 3
A xít valproic 3 3 1 1
Carbamazepine 4 4 1 1
Ngộ độc khác* 27 24 20 30
Cộng 112 100 67 100
TCNCYH 19 (3) - 2002
* Paracetamol, digoxine, chloroquine, flecaine, thuốc trừ sâu, cyanure, ethylene glycol, chloral,
amphetamine, ecstasy.
Bảng 2: Khám lâm sàng lúc vào viện
Khám lúc vào viện Tổng số BN BN đợc soi TMH
HA tối đa (mmHg)
95 45 (0-217) 95 46 (0-217)
HA tối thiểu (mmHg)
58 26 (0-120) 57 26 (0-100)
TS tim/ph
89 31 (0-158) 86 33 (0-150)
TS thở/ph
18 9 (0-51) 18 8 (0-44)
Nhiệt độ (
o
C)
36,0 1,8 (27,0-40,0) 36,4 2,1 (27,0-40)
Glasgow
5 3 (3-15) 5 3 (3-15)
TC/mm
3
225 95 (41-950) 238 112 (41-950)
3. Lý do đặt ống NKQ
104 BN (93%) do hôn mê, 42 (38%) do trụy
mạch, 35 BN (31%) do suy hô hấp. Một số BN
do hai yếu tố phối hợp nh:
SHH + Hôn mê: 32 BN (9%)
SHH + truỵ mạch: 15 BN (13%)
Hôn mê + truỵ mạch: 37 BN (33%)
SHH + hôn mê + truỵ mạch: 14 BN (13%)
Trong đó 111 BN đợc đặt NKQ theo đờng
miệng, duy nhất 1 BN đợc đặt NKQ theo
đờng mũi.
Đa số BN đợc đặt NKQ để bảo vệ đờng hô
hấp, tiếp theo là tổn thơng huyết động và sau
cùng là suy hô hấp.
4. Rút NKQ
NKQ đợc bác sỹ chỉ định rút là 85 BN
(76%), 27 BN (24%) tự rút NKQ. Sau rút ống 6
BN bị khó thở nặng phải khí dung adrenaline,
soludecadron cùng với tiêm solumedrol TM và
kháng sinh dự phòng bằng amoxicilline. Trong
đó 4 BN phải đặt lại ống (3 BN do phù nề thanh
quản, 1 BN do ứ đọng).
TCNCYH 19 (3) - 2002
Bảng 4: Dấu hiệu lâm sàng và xét nghiệm sau khi rút ống NKQ 2 giờ.
LS +XN sau rút ống Tổng số BN (n=112) BN soi TMH (n=67)
TS thở/ph
Bảng 5: Tổn thơng TMH
Dây thanh âm Sụn nhẫn
Thanh
môn
Băng
thanh thất
Phải Trái Phải Trái
Dới thanh
môn
Phù nề 5 7 11 13 26 10 37
Loét 5 1 18 17 1 6 1
Liệt - - 4 4 - - -
U hạt - - 2 1 1 1 1
Trong 67 BN đợc soi TMH: 12 BN (17,9%)
không có tổn thơng TMH, 55 BN (82,1%) có
tổn thơng TMH. Tổn thơng chủ yếu là phù
nề, loét dây thanh âm và sụn nhẫn; 8 BN có liệt
nhẹ dây thanh âm; 9 BN (13%) có tổn thơng
trên thanh môn, 47 BN (70%) có tổn thơng tại
thanh môn và 17 BN (25%) có tổn thơng dới
thanh môn. Trong đó chỉ có 3 BN phải khám lại
TMH sau khi ra viện. Kết quả của chúng tôi phù
hợp với kết quả nghiên cứu (NC) của Kastanos
và Coll. Theo 2 tác giả trên loét dây thanh âm
và u hạt gặp ở 63% BN đặt NKQ, với thời gian
đặt ống TB là 6,2 ngày, nhng tỉ lệ u hạt 42%
cao hơn trong NC của chúng tôi. Có lẽ do thời
gian nội soi của chúng tôi ngắn hơn của các tác
giả trên là 4 tuần sau rút ống.
0,1
TS tim (nhịp/phút)
9017 (70-121) 8536 (0-150)
0,70
Glasgow
52 (3-8) 53 (3-15)
0,9
PaO
2
/FiO
2
(%)
299113 (129-450) 319123 (60-523)
0,5
Lactat (mmol/l)
2,42,0 (0-7,2) 2,42,2 (0-13,5)
0,9
IGS
4514 (17-60) 4515 (18-80)
0,7
Thời gian nằm viện (ngày)
42 (1-9) 810 (2-57)
0,01
Thời gian đặt ống (giờ)
2018 (3-64) 65112 (5-792)
0,01
Khó thở 0% 7% 0,8
Nói khó 50% 75% 0,2
Nuốt khó 8% 58% 0,005
Đau họng 83% 89% 0,9
1. Baud. F (1995), Mécanisme de
l'insuffisance respiratoire aigue des comas
toxiques, Réanimation des intoxication aigue:
Maison, Paris, pp 26-35.
2. Kastanos N et al (1983), Laryngotracheal
injury due to endotracheal intubation:
Incidence, evolution, and predisposing factors,
Crit Care Med; 11: 362-367.
3. Santos et al (1994), Risk factors
asociated with prolonged intubation and
laryngeal injury, Otolaryngo Head Neck Surg;
111: 453-459.
4. Thomas R et al (1995), Post intubation
laryngeal sequelae in an intensive care, J
Laryngol Otol; 109: 313-316.
5. Vassal T et al (1995), Fréquence, causes
et conséquences des dyspnées laryngées après
extubation, Réan Urg; 4: 261-266.
Résumé
Complications de endotrachéale chez les patients intoxiqués
Tous les patients admis dans le service de RMT, intubé pour une intoxication aigue ont été
recueillis prospectivement. Un examen ORL avec nasofibroscopie a été réalisé dans les 24 heures
suivant l'extubation. Il s'agissait de 44 hommes et 66 femmes, âgés de 4317 ans (16-86). Le score
de Glasgow à l'admission était de 53 (3-15) et le score IGS II de 4314 (17-80). Les patients ont
été intubé pour une défaillance neurologique (93%), hémodynamique (38%) et /ou respiratoire
(31%). La durée moyenne d'intubationếtait de 64112 heures (5-792) et celle du séjour en
réanimation de 410 jours (2-57). Les principaux toxiques en causes étaient: les BZD, l'éthanol, les
neuroleptiques, les carbamates et les antidépresseurs. 67% avait une intoxication