46 Tạp chí Y tế Công cộng, 9.2009, Số 13 (13)
| TỔNG QUAN & NGHIÊN CỨU |
Can thiệp dinh dưỡng sớm trong thời kỳ mang thai là một giải pháp chiến lược nhằm cải thiện tình
trạng dinh dưỡng cho trẻ em. Nghiên cứu tập trung tìm hiểu tình trạng dinh dưỡng và khẩu phần thực
tế của phụ nữ có thai dân tộc Mường ở tỉnh Hòa Bình. Số liệu nhân trắc được thu thập ở toàn bộ 238
phụ nữ có thai thuộc 6 xã miền núi, khẩu phần thực tế của 77 phụ nữ có thai 3 tháng giữa cũng được
thu thập bằng phương pháp hỏi ghi 24h. Kết quả cho thấy phụ nữ dân tộc Mường ở các xã nghiên
cứu bước vào thời kỳ sinh đẻ với một tình trạng dinh dưỡng kém với 42.2% thiếu năng lượng trường
diễn, mức tăng cân trong thời kỳ mang thai không đạt được mức khuyến nghò về mức tăng cân cần
thiết. Khẩu phần ăn của phụ nữ có thai Hòa Bình mặc dù đã có sự ưu tiên so với mặt bằng chung
nhưng vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu khuyến nghò (năng lượng đạt 80%, tỷ lệ Protid : Lipid : Glucid
là 14.8 : 16.2 : 69.0, protid thiếu 12g, lipid thiếu 19-33 g/ngày, Vitamin A và sắt đạt 30% so với nhu
cầu khuyến nghò). Cần có những giải pháp can thiệp đặc hiệu về mặt kỹ thuật và xã hội để cải thiện
tình trạng này
Từ khóa: phụ nữ có thai, dân tộc Mường, tình trạng dinh dưỡng, khẩu phần
Nutrional status and actual dietary intake
of the Muong pregnant women in Tan Lac
district, Hoa Binh province
Huynh Nam Phuong (*), Pham Thi Thuy Hoa (**)
Early nutrition interventions before and during pregnancy are the strategic approach towards the
improvement of child nutrition. This study aims to investigate nutritional status and dietary
characteristics of pregnant women among the Muong ethnic minority group living in Hoa Binh
province. Anthropometric data was collected from all 238 pregnant women living in 6 mountainous
communes and dietary data was also collected from 77 pregnant women in the 2nd trimester by 24-
hour recall method. The results reveal that those women entered pregnancy period with a poor
nutritional status (42.2% having chronic energy deficiency). Weight gain in this period did not reach
the recommended requirement. Even though their diet has been given some priorities compared to
the average diet, it has not yet met recommendations for pregnancy (energy reaching 80%, the ratio
of protid: lipid: glucid being 14.8 : 16.2 : 69.0, protid 12grs in short, lipid 19-33 gr./day in short,
Tình trạng dinh dưỡng và khẩu phần thực tế
của phụ nữ có thai dân tộc Mường tại huyện
nữ có thai ở những vùng khó khăn. Vì vậy nghiên
cứu này được thực hiện với mục tiêu: Đánh giá tình
trạng dinh dưỡng và khẩu phần thực tế của phụ nữ
có thai dân tộc Mường sống tại huyện Tân Lạc, tỉnh
Hòa Bình.
2. Phương pháp nghiên cứu
Đối tượng
Phụ nữ có thai trên đòa bàn 6 xã có dân số lớn
nhất thuộc huyện Tân Lạc - tỉnh Hòa Bình
Phương pháp chọn mẫu
- Cỡ mẫu: cỡ mẫu cân đo nhân trắc dựa vào công
thức tính cỡ mẫu để ước tính giá trò trung bình về cân
nặng của phụ nữ có thai theo từng q thai [7].
Với độ lệch chuẩn từ nghiên cứu trước là 5, sai
số cho phép là 1kg và độ tin cậy 90% (z = 1.645) thì
cỡ mẫu cần có là 68 phụ nữ có thai, nhân cho 3 q
thai thì tổng số mẫu cần có là 204 người.
Cỡ mẫu hỏi ghi khẩu phần lấy 30% tổng số mẫu
chung, làm tròn là 70 người.
- Chọn mẫu: toàn bộ phụ nữ được xác đònh là có
thai trên đòa bàn 6 xã nghiên cứu được cân đo (238
người), toàn bộ phụ nữ có thai 3 tháng giữa được hỏi
ghi khẩu phần (77 người)
Phương pháp thu thập số liệu
- Nhân trắc:
Cân nặng và chiều cao của đối tượng được thu
thập bằng dụng cụ chuẩn. Cân nặng và chiều cao
trung bình của đối tượng được tổng hợp và tính theo
q thai. Chỉ số khối cơ thể BMI được tính bằng cân
nặng (kg) chia cho bình phương chiều cao(m), BMI
Số liệu nhân trắc và khẩu phần sau khi làm sạch
được nhập và xử lý bằng chương trình EPIData 3.1
3. Kết quả nghiên cứu
Đối tượng tham gia nghiên cứu tương đối trẻ,
tuổi trung bình 24, và có hơn một nửa là có thai lần
đầu. Dân tộc Mường chiếm đa số (87%) và chủ
yếu sống bằng nông nghiệp (89%). Trình độ học
vấn và điều kiện kinh tế tương đối khá so với khu
vực miền núi (76% từ trung học cơ sở trở lên,
28.2% thuộc hộ nghèo). Do việc xác đònh thai và
đăng ký thai thường sau 3 tháng nên chỉ có 20%
đối tượng ở 3 tháng đầu, còn lại chủ yếu là 3 tháng
giữa và cuối.
Lấy số đo cân nặng và chiều cao của đối tượng
làm chỉ số đánh giá tình trạng dinh dưỡng của phụ
nữ có thai trong cả 3 quý thai (Bảng 1), ta thấy chiều
cao của 3 nhóm đều không có sự khác biệt, như vậy
có thể coi tình trạng dinh dưỡng của các đối tượng
này gần như giống nhau hay nói cách khác là đồng
nhất, và cân nặng trung bình của từng nhóm có thể
dùng để so sánh và xác đònh mức tăng cân của từng
q thai. Với cách tính này thì trung bình đến q 2,
phụ nữ có thai nghiên cứu tăng thêm được 4.33 kg
so với q 1, đến q 3 tăng được 3.24 kg so với q
2 (sự khác biệt có ý nghóa thống kê). Mức tăng cân
này đạt đến mức khuyến nghò cho phụ nữ bình
thường ở q 2 (tăng thêm 4-5 kg so với q 1) nhưng
chưa đạt được mức khuyến nghò ở q 3 (tăng thêm
5-6 kg so với q 2) [4]. Nếu coi cân nặng của q 1
gần như không thay đổi, thì tỷ lệ thiếu năng lượng
thai Hòa Bình có sự cải thiện hơn về cả số lượng
lẫn chất lượng. Năng lượng khẩu phần cao hơn
(2126.1 kcal so với 2063.9 kcal), lượng protid và
lipid cũng đều cao hơn, khẩu phần cân đối hơn với
tỷ lệ P:L:G là 14.8:16.2:69. Tuy nhiên, khẩu phần
này có thể chỉ được coi là đạt yêu cầu đối với người
bình thường, còn so sánh với khuyến nghò cho phụ
nữ có thai thì vẫn chưa đáp ứng được về cả số lượng
và chất lượng. Cụ thể: năng lượng mới đạt được
83% so với năng lượng khuyến nghò dành cho phụ
nữ có thai 3 tháng giữa, protid thiếu khoảng
12g/ngày (đạt 81-86%), lipid thiếu 19-33g/ngày
(đạt 54-67%), và đặc biệt 2 vi chất quan trọng là
Vitamin A và sắt cũng chỉ đạt được 30% so với nhu
cầu cao của phụ nữ có thai.
Bảng 1. Cân nặng, chiều cao và BMI trung bình
* CED: Thiếu năng lượng trường diễn (BMI<18.5)
| TỔNG QUAN & NGHIÊN CỨU |
Tạp chí Y tế Công cộng, 9.2009, Số 13 (13) 49
4. Bàn luận
Do chưa có các cuộc điều tra về tình trạng dinh
dưỡng của phụ nữ có thai trên phạm vi toàn quốc
cũng như phụ nữ có thai dân tộc thiểu số, nghiên cứu
này cũng chỉ so sánh được với tình trạng dinh dưỡng
chung của phụ nữ lứa tuổi sinh đẻ và một số nghiên
cứu nhỏ trên các cộng đồng khác. So với phụ nữ có
thai ở một số xã nông thôn trung du Phú Thọ [9]
năm 2005 thì phụ nữ các xã trong nghiên cứu này
có tỷ lệ thiếu năng lượng trường diễn khi bước vào
thời kỳ mang thai thấp hơn (42.2% so với 51.9%),
khẩu phần của phụ nữ có thai được ưu tiên hơn so
với các thành viên khác của gia đình, đặc biệt là vào
thời điểm 3 tháng giữa khi chế độ ăn của họ ít chòu
ảnh hưởng nhất của đặc điểm sinh lý thai nghén.
Khẩu phần lipid thấp như vậy ảnh hưởng nhiều
đến việc tăng cân của phụ nữ có thai, làm giảm dự
trữ mỡ để chuẩn bò cho việc tạo sữa về sau. Đồng
thời, Vitamin A và sắt thiếu cũng ảnh hưởng đến
Bảng 2. Mức tiêu thụ lương thực thực phẩm
(g/người/ngày)
Bảng 3. Giá trò dinh dưỡng và tính cân đối của
khẩu phần
* Tính cho lao động nhẹ, lứa tuổi 19-30, mang thai 3 tháng giữa
** Nhu cầu sắt khuyến nghò tính cho loại khẩu phần có giá trò sinh
học sắt cao (15% sắt được hấp thu - do khẩu phần có lượng
thòt/cá trên 90g/ngày hoặc lượng Vitamin C trên 75mg/ngày)
50 Tạp chí Y tế Công cộng, 9.2009, Số 13 (13)
| TỔNG QUAN & NGHIÊN CỨU |
chất lượng phát triển của bào thai cũng như dự trữ
của mẹ. Như vậy, khẩu phần ăn của phụ nữ có thai
cần bổ sung thêm chất béo và các thực phẩm giàu
vi chất dinh dưỡng (Vitamin A và sắt), và rõ ràng
với một khẩu phần thiếu sắt như vậy thì việc bổ
sung viên sắt cho phụ nữ có thai là can thiệp bắt
buộc phải có.
Khuyến nghò
- Chế độ ăn của phụ nữ có thai cần được cải
thiện, tăng về cả số lượng và chất lượng, đặc biệt
cần khuyến khích phụ nữ có thai ăn thêm nhiều chất
béo có nguồn gốc thực vật, các thực phẩm giàu A
lứa tuổi lao động với một số yếu tố kinh tế xã hội liên quan
tại một xã thuộc tỉnh Hưng Yên. Luận án thạc sỹ dinh dưỡng
cộng đồng. Trường Đại học Y khoa Hà Nội. 1999.
8. Huỳnh Nam Phương và cs . Hiệu quả cải thiện cân nặng
sơ sinh trên đòa bàn nông thôn Phú Thọ của một dự án can
thiệp lồng ghép. Tạp chí Dinh dưỡng và Thực phẩm - 1(2) -
2005
10. Văn Quang Tân. Liên hệ giữa các chỉ số khối cơ thể của
thai phụ và cân nặng trẻ sơ sinh đủ tháng tại tỉnh Bình Dương
năm 2004-2005. Tạp chí Y học thực hành, 3(566+567),
2007: 64-66
Tiếng Anh
11. Black RE, Allen LH, Bhutta ZA, Caulfield LE, de Onis
M, Ezzati M, Mathers C, Rivera J. Maternal and child
undernutrition: global and regional exposures and health
consequences. Lancet. 371(9608), 2008: 243-60
12. Horton, R. "Maternal and child undernutrition: an urgent
opportunity." Lancet 371(9608), 2008: 179.