ỨNG DỤNG MÔ HÌNH CHUỖI CUNG ỨNG RAU AN TOÀN TẠI TP.HCM - Pdf 11



TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH TIỂU LUẬN
QUẢN TRỊ SẢN XUẤT  NGƯỜI THỰC HIỆN 
GVHD : PGS.TS. Hồ Tiến Dũng
LỚP : ĐÊM 2 – QTKD – K21
SVTH :
1. Nguyễn Phú Ngọc
2. Lê Tiết Ngọc
3. Trần Thị Bích Ngọc
4. Phạm Tấn Nhật
5. Đỗ Trọng Tấn Phát
6. Lê Thanh Phong
7. Trương Bảo Quốc
8. Phạm Thanh Tâm
9. Võ Thị Thu Trang
10. Nguyễn Đại Trường

TPHCM, Tháng 11/2012
ĐỀ TÀI:


2.3.1 Quản trị nhà cung ứng 18
2.3.2 Quy trình sản xuất rau an toàn 19
2.3.3 Quản trị hệ thống phân phối 19
2.3.4 Vai trò của các tổ chức lên chuỗi cung ứng 35
CHƯƠNG 3 PHÂN TÍCH VÀ ĐÁNH GIÁ CHUỖI CUNG ỨNG RAU AN TOÀN
TP.HCM 38
3.1 Phân tích ma trận SWOT 38
3.1.1 Điểm mạnh, điểm yếu 38
3.1.2 Cơ hội và thách thức 43
3.2 Đánh giá chuổi cung ứng 46
3.3 Kết luận và kiến nghị giải pháp 47
3.3.1 Kết luận 48
3.3.2 Kiến nghị giải pháp 49
Quản trị sản xuất GVHD: PGS.TS. Hồ Tiến Dũng

QTKD Đêm 2 – K21 Trang 3 CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ QUẢN TRỊ CHUỖI CUNG ỨNG (SCM)

1.1 Lịch sử phát triển của quản trị chuỗi cung ứng
Trong suốt thập niên 1950 và 1960, các công ty sản xuất của Mỹ áp
dụng công nghệ sản xuất hàng loạt để cắt giảm chi phí và cải tiến năng suất,
trong khi ít chú ý đến việc tạo ra mối quan hệ với nhà cung cấp, cải thiện việc
thiết kế quy trình và tính linh hoạt, hoặc cải thiện chất lượng sản phẩm. (Xem
hình 1-1)
Hình 1-1: Những sự kiện lịch sử về quản trị chuỗi cung ứng

Thiết kế và phát triển sản phẩm mới diễn ra chậm chạp và lệ thuộc chủ
yếu vào nguồn lực nội bộ, công nghệ và công suất. Chia sẻ công nghệ và

nghiệp thực hiện JIT và TQM.
Khi cạnh tranh ở thị trường Mỹ gia tăng nhiều hơn vào thập niên 1990
kèm với việc gia tăng chi phí hậu cần và tồn kho cũng như khuynh hướng toàn
cầu hóa nền kinh tế làm cho thách thức của việc cải thiện chất lượng, hiệu quả
sản xuất, dịch vụ khách hàng và thiết kế và phát triển sản phẩm mới cũng gia
tăng. Để giải quyết với những thách thức này, các nhà sản xuất bắt đầu mua sản
phẩm từ các nhà cung cấp chất lượng cao, có danh tiếng và được chứng thực.
Hơn nữa các doanh nghiệp sản xuất kêu gọi các nhà cung cấp tham gia vào việc
thiết kế và phát triển sản phẩm mới cũng như đóng góp ý kiến vào việc cải
thiện dịch vụ, chất lượng và giảm chi phí chung. Mặt khác, các công ty nhận
thấy rằng nếu họ cam kết mua hàng từ những nhà cung cấp tốt nhất cho hoạt
động kinh doanh của mình thì đổi lại họ sẽ hưởng lợi gia tăng doanh số thông
Quản trị sản xuất GVHD: PGS.TS. Hồ Tiến Dũng

QTKD Đêm 2 – K21 Trang 5 qua sự cải tiến chất lượng, phân phối và thiết kế sản phẩm cũng như cắt giảm
chi phí nhờ vào việc quan tâm nhiều đến tiến trình, nguyên vật liệu và các linh
kiện được sử dụng trong hoạt động sản xuất. Nhiều liên minh giữa nhà cung
cấp và người mua đã chứng tỏ sự thành công của mình.
Tái thiết kế quy trình kinh doanh (BPR) (suy nghĩ một cách triệt để và
tái thiết kế quy trình kinh doanh nhằm giảm các lãng phí và gia tăng thành tích
được giới thiệu vào đầu thập niên 1990 là kết quả của những quan tâm to lớn
trong suốt giai đoạn này với mục đích cắt giảm chi phí và nhấn mạnh đến
những năng lực then chốt của doanh nghiệp nhằm đạt được lợi thế cạnh tranh
dài hạn. Khi xu hướng này mất dần vào giữa cuối thập niên 1990 (thuật ngữ trở
nên đồng nghĩa với việc thu hẹp quy mô), quản trị chuỗi cung cấp trở nên phổ
quát hơn như là nguồn lực tạo ra lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp.
Cũng trong thời gian này, các nhà quản trị, nhà tư vấn và các học giả

(nhà cung cấp của nhà cung cấp và khách hàng của khách hàng) vào cuối thập
niên 1990 và tiếp tục đến ngày nay cũng mang hàm ý rằng một lệ thuộc nhiều
vào vận tải, tồn kho và dịch vụ hậu cần tạo ra các dịch vụ vận tải, tồn kho, tư
liệu cho nhiều doanh nghiệp trong chuỗi cung cấp. Xây dựng mối quan hệ cũng
xảy ra đối với nhiều nhà cung cấp dịch vụ thứ ba hoặc các doanh nghiệp sử
dụng chúng để đảm bảo việc cung ứng liên tục và không bị gián đoạn hàng hóa.
Sự cần thiết phải đánh giá hiệu suất và thành tích của mối quan hệ này theo
từng giai đoạn cũng đồng hành với sự phát triển của quản trị chuỗi cung cấp.
Một trong những thách thức mà nhiều doanh nghiệp đối diện hiện nay liên
quan đến quản trị chuỗi cung cấp chính là cách thức đánh giá đầy đủ hiệu suất
toàn diện trong một chuỗi cung cấp toàn cầu và thường là cực kỳ phức tạp.
Đối với ngành bán sỉ và bán lẻ, trọng tâm của quản trị chuỗi cung cấp là
những vấn đề về vị trí và hậu cầu hơn là vấn đề sản xuất. Quản trị chuỗi cung
ứng trong những ngành này thường liên quan đến việc đáp ứng nhanh chóng
hoặc hậu cần tích hợp. Thành tựu của hệ thống chuyển đổi dữ liệu điện tử nội
bộ (EDI), hệ thống mã vạch, Internet và công nghệ quét sóng băng tầng trong
hai thập kỷ qua được hỗ trợ cho sự phát triển của khái niệm chuỗi cung ứng
tích hợp. Các doanh nghiệp trong ngành bán lẻ đã sử dụng quản trị chuỗi cung
cấp nhằm đương đầu với tính phức tạo và không chắc chắn chưa từng có của
thị trường và để giảm thiểu tồn kho xuyên suốt chuỗi cung cấp. Việc phát triển
nhanh chóng phần mềm quản trị chuỗi cung cấp khách hàng/máy chủ mà điển
hình bao gồm việc tích hợp quản trị chuỗi cung cấp và các cấu thành của
Quản trị sản xuất GVHD: PGS.TS. Hồ Tiến Dũng

QTKD Đêm 2 – K21 Trang 7 thương mại điện tử đã hỗ trợ đắc lực cho sự phát triển và ứng dụng quản trị
chuỗi cung ứng. Chia sẻ thông tin với các đối tác chuỗi cung ứng thông qua
EDI và Internet cho phép doanh nghiệp tích hợp chức năng tồn kho, hậu cần,

1.3.2 Mô hình phức tạp
Quản trị sản xuất GVHD: PGS.TS. Hồ Tiến Dũng

QTKD Đêm 2 – K21 Trang 9
1.4 Đặc điểm chính về tính năng động của chuỗi cung ứng
Chuỗi cung ứng là một hệ thống có tính tương tác rất cao. Các quyết định ở
mỗi bộ phận của chuỗi cung ứng ảnh hưởng đến các bộ phận khác
Chuỗi cung ứng có sự ảnh hưởng rất lớn đến sự thay đổi nhu cầu. Kho và
nhà máy phải đảm bảo để đáp ứng đầy đủ đối với các đơn hàng lớn. Thậm chí với
các thông tin hoàn hảo tại tất cả các kênh sẽ có một phản ứng nhanh trong chuỗi
cung ứng từ thời gian bổ sung.
Cách tốt nhất để cải thiện chuỗi cung ứng là rút ngắn thời gian bổ sung và
cung cấp thông tin về nhu cầu thực tế đến tất cả các kênh phân phối. Thời gian
trong chuỗi cung ứng chỉ dùng để tạo ra sự thay đổi trong các đơn đặt hàng và
hàng tốn kho. Dự đoán sự thay đổi nhu cầu cũng có thể làm giảm ảnh hưởng của
những thay đổi thực tế và quản trị nhu cầu có thể làm ổn thỏa những thay đổi của
nhu cầu.
1.5 Các tiêu chuẩn đo lường hiệu quả thực hiện chuỗi cung ứng
1.5.1 Tiêu chuẩn giao hàng
- Tiêu chuẩn này đề cập đến giao hàng đúng hạn được biểu hiện bằng tỷ lệ % của
các đơn hàng được giao đầy đủ về số lượng và đúng ngày khách hàng yêu cầu
trong tổng số đơn hàng. Đây là một tiêu chí rất chặt chẽ, khắc khe và khó
nhưng nó đo lường hiệu quả thực hiện trong việc giao toàn bộ đơn hàng cho
khách hàng khi họ yêu cầu.

1.6 Cải tiến cấu trúc chuỗi cung ứng
Có 2 cách để cải tiến cấu trúc chuỗi cung ừng bằng cách thay đổi cấu trúc
hoặc thay đổi bộ phận của chuỗi cung ứng
Thay đổi cấu trúc liên quan đến những thay đổi về vật chất kỹ thuật, trong
khi đó thay đổi các bộ phận thì liên quan đến con người và hệ thống.
Thay đổi cấu trúc bao gồm những thay đổi về máy móc thiết bị, công suất,
kỹ thuật và công nghệ… Những thay đổi này thường là những thay đổi mang tính
dài hạn và cần một nguồn vốn đáng kể. Những thay đổi về cấu trúc, sắp xếp lại các
yếu tố trong chuỗi cung ứng thường là sự thay đổi lớn và sâu rộng.
Thay đổi các bộ phận của chuỗi cung ứng bao gồm con người, hệ thống
thông tin, tổ chức, quản lý sản xuất và tồn kho, hệ thống quản lý chất lượng.
Những thay đổi này là những thay đổi mang chất nhạy cảm trong chuỗi cung ứng.
1.6.1 Phương thức thay đổi cấu trúc chuỗi cung ứng
Quản trị sản xuất GVHD: PGS.TS. Hồ Tiến Dũng

QTKD Đêm 2 – K21 Trang 11 a. Thống nhất từ khâu đầu đến khâu cuối theo quy trình khép kín.
- Cách thức này chỉ ra việc sở hửu trong chuỗi cung ứng . Nếu một nhà sản xuất
quyết định mua một công ty phân phối và chỉ phân phối sản phẩm của mình
qua công ty đó thôi thì sự thống nhất này là hướng về thị trường. Mặt khác, nếu
nhà sản suất mua một công ty cung ứng sản phẩm thì sự thống nhất này là lùi
về phía sau của chuỗi cung ứng. Nếu một công ty sở hửu chuỗi cung ứng thì
công ty này được hợp nhất theo chiều dọc.
b. Đơn giản hóa quá trình chủ yếu.
- Phường thức này được sử dụng để cải tiến chuỗi cung ứng khi quá trình quá
phức tạp, hay quá lỗi thời khi đó cần sự thay đổi. Trong quá trình này người ta
điều chỉnh lại những chỗ bị lỗi mà không cần quan tâm đến quá trình hiện tại.
- Việc này dẫn đến những thay đổi lớn về trình tự và nội dung các công việc

công việc này cũng như những đối tác sẽ thiết lập những đội chức năng của các
nhân viên từ nhiều công ty khác nhau, làm việc cùng nhau trong những dự án
cải tiến quan trọng.
c. Giảm thời gian khởi động của các máy móc thiết bị
- Trong việc cải thiện chuỗi cung ứng, giảm thời gian khởi động của trang thiết
bị thật là cần thiết để cho những lô sản phẩm nhỏ hơn có thể tiết kiệm được chi
phí sản xuất. Ngay khi kích thước của lô hàng giảm, tồn kho sẽ giảm, hàng hóa
sẽ được luân chuyển nhanh hơn, từ đó hàng hóa sẽ đáp ứng được nhu cầu thị
trường.
- Giảm thời gian sắp đặt đòi hỏi thời gian sáng tạo và có thể thực hiện ở bất cứ
phần nào của thiết bị sản suất bời sự giản đơn cho sự thay đổi thiết bị trước khi
máy móc dừng lại và thực hiện sự thay đổi nhanh chống ngay khi máy móc
không còn chạy nữa, vì vậy nó có thể đưa vào sản xuất càng sớm càng tốt.
d. Hoàn thiện hệ thống tin
- Cải thiện hệ thống thông tin là vấn đề quan trọng trong chuỗi cung cấp. Một
trong những thay đổi xảy ra là việc dành lấy dữ liệu kinh doanh từ khách hàng
và phát triển thông tin này đưa trở lại phục vụ cho chuỗi cung ưng. Nhà cung
cấp không chỉ biết nhận đơn hàng của khách hàng của mình mà cũng phải biết
nơi kinh doanh và vị trí kho của khách hàng.
e. Xây dựng các trạm giao hàng chéo
Quản trị sản xuất GVHD: PGS.TS. Hồ Tiến Dũng

QTKD Đêm 2 – K21 Trang 13 - Hàng hóa giao đam xen ở nhiều trạm là một cuộc cách mạng trong vận chuyển
đối với nhiều công ty. Ý tưởng can bản là việc giao hàng của nhà cung cấp
được diễn ra từ nhiều trạm khác nhau. Những công việc này không tiêu tốn thời
gian cho việc kiểm kê kho, nó cũng đơn giản cho việc di chuyển từ một trạm
này đến một trạm khác.

Hành hoa
Khoai tây
Ngô rau
Cà chua
Dưa chuột
Mức quy định
Không quá: 500
Không quá: 500
Không quá: 200
Không quá: 80
Không quá: 400
Không quá: 250
Không quá: 300
Không quá: 150
Không quá: 150
Giống
Dưa bí
Dưa hấu
Mãng tây
Bầu
Đậu quả
Cà tím
Xà lách
ớt ngọt
Súp lơ
Mức quy định
Không quá: 90
Không quá:60
Không quá:200
Không quá:400
Palutin Max:0.05
Nguồn: Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn
Bảng 3: Dư lượng thuốc Bảo vệ thực vật
Thuốc
BVTV
Rau ăn lá Rau ăn quả Rau ăn củ Thời gian cách ly
(ngày)
Basudin 10G
Diptorex 80
Dimothoet
50EC
Carbaxit
80WP
Padan 95
WP
Sanusidin
20EC
Decis
Slerpa 25EC
Kovote
2,5EC
Trebon
10EC
0,5-0,7
0,5
0,1
1-1,2
0,2

14
14-20
RAL :7-10
RAQ : 3-4
4-10
3
Nguồn: Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn
2.2 Các yêu cầu về sản xuất rau an toàn
a. Yêu cầu về đất trồng
Đất phải không chịu ảnh hưởng xấu của các chất thải công nghiệp, giao
thông, khu dân cư tập trung, bệnh viện, nghĩa trang, có nghĩa là các chất độc
hại cho người và cho môi trường.
Sau một vụ sản xuất, đất phải được phơi 2-3 ngày sau đó phải được xới
tơi để trồng tiếp. Công việc này chủ yếu bằng thủ công. Nông dân chưa được
Quản trị sản xuất GVHD: PGS.TS. Hồ Tiến Dũng

QTKD Đêm 2 – K21 Trang 16 trang bị cơ giới hoá như máy xới đất nên với một diện tích đất 1.000 m2 thì
công việc này rất nặng nhọc.
b. Yêu cầu về phân bón
Chỉ dùng phân hữu cơ như phân xanh, phân chuồng đã được ủ hoại mục,
tuyệt đối không được dung các loại phân hữu cơ còn tươi. Số lượng phân phải
dựa trên tiêu chuẩn cụ thể quy định trong các quy trình của từng loại rau, đặc
biệt với rau ăn lá kết thúc phân bón trước khi thu hoạch 15 – 20 ngày.
c. Yêu cầu về nước tưới
Chỉ dùng nước giếng khoan, nước từ các sông hồ lớn không bị ô nhiễm
các chất độc hại. Tuyệt đối không dùng trực tiếp nước thải từ các khu công
nghiệp, thành phố, bệnh viện, khu dân cư, nước ao, tù đọng.

Rau an toàn được hình thành từ các hộ trồng rau (hay gọi là Tổ rau an
toàn). Các Hợp tác xã này chủ yếu được thiết lập cho mục đích trồng trọt rau
theo qui trình đảm bảo an toàn. Nhưng một số Hợp tác xã ngoài việc trồng trọt
còn xúc tiến được việc tiêu thụ thu gom, tập hợp sản phẩm của các nông dân để
cung cấp cho các cửa hàng, các siêu thị, trung tâm bán sỉ hiện đại để hình thành
nên mô hình mẫu trong việc cung cấp rau an toàn tại thành phố. (Đây là hình
thức tương đối khác biệt với rau quả của Đà Lạt hay các nơi khác, khi vai trò
thương lái không hoàn toàn riêng biệt mà nhiều phần gắn liền với HTX, khiến
cho chuỗi giá trị rau ở đây đơn giản hơn các nơi khác)
Một số công ty rau quả có chuỗi cửa hàng, cung cấp cho các Nhà hàng,
khách sạn thường mua trực tiếp từ các hộ nông dân hay các tổ rau an toàn.
Phần còn lại (hợp tác xã và các công ty không thu mua hết) các nông dân tự
Nông dân
Chợ lẻ
Hợp tác xã/
thương lái
Cty, Cửa
hàng cung
ứng rau quả
hoặc chế biến

Siêu
thị,
Metro
Xuất khẩu
Người
tiêu dùng
Khách sạn, nhà
hàng, b
ếp ăn

Như vậy, cả người nông dân, siêu thị, các cửa hàng hiện nay đều có
chức năng như những người bán lẻ thực thụ. Tuy nhiên về qui mô cũng như về
hình thức bao bì đóng gói, quy cách hàng hoá có những sự khác biệt nên giá cả
cũng khác nhau rất nhiều.
Riêng về các công ty chế biến, do hiện nay trên thành phố việc chế biến
rau an toàn chưa được đẩy mạnh nên những công ty chế biến thường chỉ sản
xuất ở qui mô nhỏ với nguồn rau chủ yếu từ Đà Lạt. Vì phải tuân thủ theo qui
trình của nước được nhập khẩu nên phần lớn họ tự trồng tại các nông trại hoặc
hợp tác với người nông dân một cách chặt chẽ.
2.3.1 Quản trị nhà cung ứng
Là thành phố đông dân và lớn nhất nước Việt Nam, Hồ chí Minh là
trung tâm kinh tế lớn nhất cả nước, là một thị trường tiêu thụ sản phẩm lớn nhất
nước nên việc mở rộng vùng cung cấp rau an toàn tại thành phố là hết sức cần
thiết.
Sự chênh lệch về số dân giữa nông thôn và thành thị là một trong những
nhân tố quan trọng khác làm cho mức ‘cầu’ về rau an toàn ờ thành phố Hồ Chí
Minh rất cao. Dân cư thành thị với mức sống và trình độ dân trí cao, có nhận
thức cao hơn về các lợi ích của rau an toàn cũng như sẵn sàng chi trả cao hơn
cho sản phẩm rau đạt chất lượng tốt.
Để thực hiện mục tiêu đáp ứng đủ nhu cầu rau sạch cho thành phố, Sở
Nông Nghiệp đã phối hợp với UBND các quận huyện để quy hoạch các vùng
trồng rau an toàn, phối hợp với các nhà cung ứng rau an toàn là các hộ nông
dân, các tổ chức sản xuất rau an toàn ở các quận huyện.
Thành phố chủ trương tìm kiếm những nhà cung ứng có khả năng đáp
ứng đủ các tiêu chí về sản xuất rau an toàn. Giúp đỡ các nhà cung ứng trong
việc huẩn luyện, đào tạo các kỹ thuật trồng rau an toàn, hỗ trợ vốn, , đảm bảo
giá cả ổn định cũng như đầu ra cho sản phẩm.
Quản trị sản xuất GVHD: PGS.TS. Hồ Tiến Dũng

QTKD Đêm 2 – K21 Trang 19

2.3.3 Quản trị hệ thống phân phối
a. Hộ Nông dân
Nông dân và các mối quan hệ trực tiếp
Quản trị sản xuất GVHD: PGS.TS. Hồ Tiến Dũng

QTKD Đêm 2 – K21 Trang 20

Khác với người nông dân sản xuất rau bình thuờng, nông dân sản xuất
rau an toàn phải tuân thủ theo một qui trình khá chặt chẽ từ lúc trồng trọt cho
đến lúc thu hoạch. Ở đây chúng ta chỉ tập trung phân tích chuỗi cung ứng bắt
đầu từ khâu thu hoạch.

(1) Thu hoạch
Thông thường, nếu đúng qui trình thì rau được thu hoạch vào lúc sáng sớm vì
khi đó rau trông tươi mát, chưa mất nước và cân nặng nhất trong ngày. Nếu
được nông dân tự vận chuyển ra chợ bán lẻ hoặc đến điểm thu mua ngay.
Tuy nhiên trên thực tế của nghiên cứu, nếu nông dân bán cho công ty hay hợp
tác xã thì rau tại TP. Hồ Chí Minh được thu hoạch vào lúc chiều (từ 4-5 giờ)
khi đó rau khô ráo để tránh giập nát khi vô bao bì và dễ vận chuyển về đêm.
(2) Cắt gốc
Sau khi nhổ rau được cắt gốc tại vườn nếu có yêu cầu, một số Công ty, hợp tác
xã và một số khách hàng là nhà bán lẻ cấp hàng cho các căn tin, nhà trẻ, bếp ăn
tập thể thường yêu cầu phải cắt gốc. Tuy nhiên, khi bán tại các chợ lẻ nông dân
thường để gốc cho tươi, gốc sễ được cắt tại chợ khi người mua yêu cầu.
(3) Cắt tỉa
Nông dân
Chợ lẻ

điều đó sẽ có lợi hơn cho người thu gom.
Như trên đã trình bày, khi nông dân bán ra chợ lẻ rau đều không được
dán nhãn nên không thể phân biệt được rau an toàn và rau thường tại chợ bằng
mắt thường. Vì vậy, giá cả giữa rau an toàn và không an toàn nhìn chung không
có sự khác biệt. Đó là lí do người nông dân không dán nhãn cho rau của mình.
Ngoài ra họ cũng chưa ý thức được việc quảng bá nhãn hiệu rau an toàn cho
khách hàng khi bán lẻ tại chợ
Thông thường khi bán cho hợp tác xã, nếu được yêu cầu nông dân sẽ buộc rau
bằng các dây có mang nhãn hiệu riêng được hợp tác xã cung cấp (do Sở Nông
Nghiệp hoặc chi cục bảo vệ thực vật thành phố chứng nhận).
Trên nhãn có ghi tên hợp tác xã, xuất xứ và ngày thu hoạch. Khi khách
hàng là các siêu thị, người nông dân, hay hợp tác xã thường dán nhãn hiệu này
Quản trị sản xuất GVHD: PGS.TS. Hồ Tiến Dũng

QTKD Đêm 2 – K21 Trang 22 kèm theo nhãn hiệu của siêu thị. Việc cung ứng rau cho các bếp ăn, các cơ
quan, khách sạn, nhà hàng… hầu như không có nhãn hiệu do đã biết rõ nguồn
gốc rau vì mua trực tiếp từ hợp tác xã.
(6) Đóng gói
Rau được đặt vào các rổ nhựa, cần xé để tránh dập nát khi vận chuyển (khoảng
20 hoặc 50kg/ giỏ). Người nông dân thường xếp phần lá vào trong, cuống ra
ngoài, những rau dễ dập, úa ở dưới để tránh hao hụt. Thời gian đóng gói
khoảng 50 kg/ 1 tiếng.
(7) Vận chuyển
Người nông dân thường tự vận chuyển hàng đến hợp tác xã hoặc đến chợ. Các
phương tiện vận chuyển thường được sử dụng là xe máy, xe đạp với quãng
đường tương đối ngắn. Hao hụt trong khâu này gần như không đáng kể (1-2%).
Khi hợp tác xã, công ty thu mua cân hàng tại điểm tập kết đã có tính đến hao

Đến 75-80% rau sạch do nông dân cấp hàng qua HTX. Họ chỉ có một
trách nhiệm là sản xuất theo yêu cầu của khách hàng và theo phân bổ chủng
loại rau do HTX quyết định. Công việc này tốt hơn rất nhiều, ít rủi ro, lại ổn
định về đầu ra. Mọi giao dịch đều có người đại diện HTX đảm nhiệm. Giá bán
ổn định do có hợp đồng với khách hàng. Mặc dù vậy vẫn xảy ra trường hợp là
giá thu mua của hợp tác xã thấp hơn giá chợ. Đôi khi vì lợi nhuận một số nông
dân để lại một ít hàng để bán lẻ (số ít).
Khi nông dân bán hàng tại chợ, bán hàng cho HTX (Hợp tác xã đại diện
là người mua để cung cấp cho các khách hàng), bán hàng cho các công ty tất cả
đều ở dạng hợp đồng miệng.
Việc thanh toán thường là tiền mặt và được thanh toán ngay. Tuy nhiên
việc cung cấp rau qua Hợp tác xã phụ thuộc vào khách hàng nên việc thanh
toán thông thường là sau 15 ngày.

b. Hợp tác xã thương lái
Thương lái và các mối quan hệ trực tiếp
Quản trị sản xuất GVHD: PGS.TS. Hồ Tiến Dũng

QTKD Đêm 2 – K21 Trang 24

Đặc điểm chung
Đây là khâu quan trọng nhất trong chuỗi giá trị rau thành phố Hồ Chí Minh, do
các tổ sản xuất trong mơ hình mẫu hoặc các hợp tác xã tại địa phương cũng
đồng thời giữ ln vai trò thương lái.
Các thương lái thường có địa điểm sơ chế, dán bao bì, có xe tải vận chuyển, có
văn phòng giao dịch riêng, cùng với một lực lượng nhân cơng đơng đảo.
Quy mơ hoạt động
cây và tự sơ chế theo yêu cầu của khách hàng. Hợp tác xã thì thu mua tại điểm
sơ chế của mình. Nông dân tự mang đến và hàng đã tự sơ chế.
Quy trình sau thu hoạch
Như đã trình bày ở phần người nông dân, các khâu sau thu hoạch rất quan
trọng, để đảm bảo chất lượng phần lớn thương lái đảm trách các khâu này. Họ
cũng tham gia vào các quá trình cắt, tỉa, phân loại, bó, đóng gói, dán nhãn, vận
chuyển. Tuy nhiên so với người nông dân, các khâu này được tiến hành theo
một qui trình chặt chẽ và kĩ lưỡng hơn với qui mô lớn và tập trung hơn. Sau
đây là qui trình.
o Sơ chế:
Thương lái có điểm sơ chế riêng, điểm sơ chế rau an toàn của các công ty được
trang bị tốt hơn hợp tác xã. Tại điểm tập kết thương lái cũng tiến hành sơ chế
nhưng có khác biệt hơn so với nông dân là rau được rửa sạch (có nơi bằng nước
ozon). Rau được phân loại kĩ càng cho từng khách hàng. Hao hụt ở khâu này
khoảng từ 10 – 15%
o Đóng gói, dán nhãn
Đây là khâu nói lên vai trò rất lớn của thương lái đối với việc đảm bảo chất
lượng và quảng bá cho sản phẩm của nông dân. Phương thức đóng gói của
thương lái tiến bộ hơn hẳn so với người nông dân. Các công ty có 2 hình thức
đóng gói chính được sử dụng như sau:
 Nếu đến bếp ăn, bệnh viện, trường học …đối với rau lá thường được
đóng túi nilon với nhãn hiệu bên ngoài.
 Nếu đến siêu thị thì đóng vào khay xốp, bọc màng bên ngoài cho các
loạii củ, quả và có dán nhãn hiệu bên ngoài.
Đóng gói của các Hợp tác xã đơn giản giống như đến các bếp ăn của công ty.
Điểm bán sẽ tự đóng gói hoặc không đóng gói.
o Tồn trữ, bảo quản
Rau thuộc hàng tươi sống nên không thể tồn trữ lâu sau thu hoạch tại hợp tác


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status