BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
KHOA SAU ĐẠI HỌC
ooo0ooo
ĐỀ TÀI 08:
Tp.HCM, ngày 12 tháng 03 năm 2014
GVHD : THẦY PHẠM QUANG HUY
SVTH : LÊ THỦY TIÊN
LỚP : KTKTDEM2-K22
1
CHỨC NĂNG VÀ CƠ CHẾ TÀI CHÍNH CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
Chương 1: Những vấn đề chung về chức năng và cơ chế tài chính của ngân hàng
nhà nước Việt Nam
1.1. Tổng quan về ngân hàng nhà nước Việt Nam
I.a.1. Lịch sử hình thành và phát triển của ngân hàng nhà nước Việt Nam
a. Giai đoạn 1945 -1954
Sau CMT8 năm 1945, kho bạc chỉ còn 1,25 triệu đồng Đông Dương, trong đó một
nửa là tiền rách. Để phủ hợp với tình hình kinh tế, chính phủ cho thành lập 3 khu vực
tiền tệ và cho phép phát hành các đồng tiền khu vực. Ngày 06/05/1951 Chủ tịch Hồ Chí
Minh ký sắc lệnh 15-SL thành lập Ngân hàng Quốc gia Việt Nam bao gồm Ngân hàng
Trung Ương, Ngân hàng liên khu và Ngân hàng tỉnh, thành phố.
b. Giai đoạn 1955 -1964
26/10/1961 Ngân hàng quốc gia Việt Nam đổi tên thành Ngân hàng nhà nước Việt
Nam được mở rộng tới các huyện, quận, thị xã; đội ngủ cán bộ được tăng cường, nâng
cao trình độ. Hoạt động tín dụng được đẩy mạnh, có nhiều cải tiến trong công tác thanh
toán không dung tiền mặt. Trong giai đoạn này, Ngân hàng kiến thiết Việt Nam và Ngân
hàng ngoại thương Việt Nam được thành lập và đi vào hoạt động. Đến cuối năm 1964,
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã có quan hệ hợp tác với 265 ngân hàng tại 41 nước trên
thế giới.
lương - tiền nhằm ổn định sức mua của đồng tiền, phục vụ công cuộc xây dựng và cải tạo
xã hội chủ nghĩa.
f. Giai đoạn 1986 -1989
Sau một thời gian tiến hành làm thử việc chuyển hoạt động ngân hàng sang kinh
doanh XHCN, ngày 26/3/1988 Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành Nghị định 53/HĐBT với
định hướng cơ bản là “chuyển hẳn hệ thống ngân hàng sang hoạt động kinh doanh”. Tổ
chức, bộ máy của Ngân hàng Nhà nước được kiện toàn, sắp xếp lại để thực hiện chức
năng quản lý nhà nước về tiền tệ, tín dụng, đồng thời làm chức năng ngân hàng của các
ngân hàng; các ngân hàng chuyên doanh thực hiện nhiệm vụ kinh doanh tín dụng và dịch
vụ ngân hàng. Theo đó, bốn ngân hàng chuyên doanh được thành lập trên cơ sở chuyển
và tách ra từ Ngân hàng Nhà nước, gồm: Ngân hàng Công thương Việt Nam, Ngân hàng
Phát triển nông nghiệp, Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng Việt Nam, Ngân hàng Ngoại
thương Việt Nam.
g. Giai đoạn 1990 -1996
Tháng 5/1990, Hội đồng Nhà nước thông qua 2 Pháp lệnh Ngân hàng. Hệ thống
ngân hàng bắt đầu quá trình chuyển đổi mạnh mẽ, căn bản và toàn diện phù hợp với chủ
trương phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần của Đảng, Nhà nước.
Ngân hàng Nhà nước đã thực hiện chính sách lãi suất dương, kết hợp sử dụng các công
cụ gián tiếp với công cụ kiểm soát trực tiếp trong điều hành chính sách tiền tệ; hình thành
các thị trường tiền tệ; bước đầu hiện đại hóa công nghệ và tăng cường đào tạo nguồn
nhân lực cho việc vận hành hệ thống ngân hàng mới. Vốn tín dụng được mở rộng cho
mọi thành phần kinh tế và đạt mức tăng trưởng bình quân 36%/năm, góp phần chuyển
dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá và thúc đẩy nền kinh tế
tăng trưởng trong nhiều năm.
Thời kỳ này, quan hệ hợp tác giữa Việt Nam với các tổ chức tài chính tiền tệ quốc
tế (IMF, WB, ADB) được tái lập và khơi thông.
h. Giai đoạn 1997 -2007
Năm 1997, Quốc hội thông qua Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Luật Các
tổ chức tín dụng, tạo nền tảng pháp lý căn bản và mạnh mẽ hơn cho hệ thống ngân hàng
hàng làm dịch vụ tiền tệ cho chính phủ
• Là ngân hàng phát hành tiền
Giấy bạc và tiền hiện kim do NHTW phát hành và lưu thông là phương tiện thanh
toán hợp pháp trong mỗi quốc gia. Độc quyền phát hành tiền không chỉ thể hiện quyền
lực mà còn nhấn mạnh trách nhiệm trong việc phát hành tiền để đảm bảo phát triển kinh
tế và lưu thông tiền tệ ổn định
• Là ngân hàng của các ngân hàng
Sự ra đời và hoạt động của hệ thống ngân hàng 2 cấp đã tạo nên mối quan hệ đặc biệt
giữa NHTW với các NHTM và các tổ chức tín dụng, đó là mối quan hệ giữa chủ thể quản
lý và khách thể chịu sự quản lý. Trong mối quan hệ này NHTW đóng vai trò là người
quản lý vĩ mô đồng thời là một tác nhân kinh tế làm hậu thuẫn đối với các ngân hàng.
Việc hết hợp quản lý bằng một hệ thống pháp chế, chính sách với việc áp dụng các biện
pháp nghiệp vụ thông qua cơ chế thị trường.
• Là ngân hàng của nhà nước
Làm thủ quỹ cho kho bạc nhà nước, thông qua quản lý tài khoản của kho bạc dưới
dạng thuế, phí, thu khác được gửi vào tài khoản tại NHTW. NHTW có trách nhiệm theo
dõi thực hiện chi trả theo yêu cầu của kho bạc.
Bảo quản dự trữ quốc gia về ngoại tệ, vàng bạc, đá quý, chứng khoán do các tổ chức
trong nước hoặc nước ngoài phát hành
Làm đại lý cho chính phủ trong việc đầu thầu, phát hành và thanh toán tín phiếu, trái
phiều, công trái của chính phủ.
Làm ngân sách cho nhà nước vay trong những trường hợp cần thiết.
Làm tư vấn cho chính phủ về những vấn đề kinh tế tiền tệ và đại diện cho chính phủ
tại các tổ chức tài chính quốc tế.
Thực hiện quản lý nhà nước và tiền tệ tín dụng và hoạt động ngân hàng.
1.2. Cơ chế tài chính của ngân hàng nhà nước Việt Nam
Nhiệm vụ cơ bản của Ngân hàng Nhà nước là quản lý nhà nước về hoạt động tiền
tệ tín dụng, ngân hàng. Bên cạnh đó, Ngân hàng Nhà nước trong khi thực hiện các chức
năng, nhiệm vụ của mình còn có các hoạt động mang tính kinh doanh. Tuy nhiên, các
nhất cho nên việc quản lý tài chính trong hệ thống Ngân hàng Nhà nước phải được thực
hiện theo nguyên tắc tập trung, thống nhất toàn hệ thống. Các khoản thu nhập, chi phí
phát sinh tại các đơn vị trực thuộc nhưng phải được quản lý và tổng hợp tại một đầu mối
là Ngân hàng Nhà nước Trung ương (Vụ Kế toán – Tài chính).
Từ đặc điểm của cơ chế tài chính trong Ngân hàng Nhà nước dẫn đến việc tổ
chức kế toán vốn và thu nhập, chi phí của Ngân hàng Nhà nước có khác so với các bộ
khác và khác so với ngân hàng thương mại. Trong quá trình thực hiện nghiệp vụ kế
toán tài chính cần nhận rõ đặc điểm này để nâng cao chất lượng công tác hạch toán, góp
phần tăng cường quản lý tài chính trong hệ thống Ngân hàng Nhà nước.
Chương 2: Thực trạng hoạt động tài chính của Ngân hàng nhà nước Việt Nam
2.1. Điều hành chính sách tiền tệ thận trọng, linh hoạt, từng bước hạ lãi suất, tăng
trưởng tín dụng hợp lý, ưu tiên vốn cho sản xuất, kinh doanh.
Bám sát Nghị quyết của Quốc hội, Chính phủ và diễn biến kinh tế vĩ mô, điều kiện
thị trường tiền tệ, từ sau kỳ họp thứ 3 Quốc hội khóa XIII, NHNN tiếp tục điều hành chính
sách tiền tệ, tín dụng thận trọng, hiệu quả, chủ động dẫn dắt thị trường; phối hợp hài hòa
giữa chính sách tiền tệ với chính sách tài khóa để kiểm soát lạm phát theo mục tiêu đề ra
nhằm góp phần tăng tính thanh khoản cho nền kinh tế nhưng vẫn đảm bảo kiềm chế lạm
phát, tăng tính ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh, giảm
mặt bằng lãi suất ở mức hợp lý phù hợp với các cân đối vĩ mô. Cụ thể:
- Điều hành linh hoạt các công cụ chính sách tiền tệ để kiểm soát lạm phát và ổn
định thị trường tiền tệ: (1) Thực hiện đồng bộ và có hiệu quả các giải pháp huy động vốn,
chủ động cân đối giữa nguồn vốn và sử dụng vốn để đảm bảo thanh khoản, đáp ứng kịp
thời nhu cầu tín dụng đối với nền kinh tế; (2) Theo dõi chặt chẽ thị trường tiền tệ, tình
hình thanh khoản, tăng trưởng tín dụng và hoạt động của các TCTD để có các giải pháp
điều hành CSTT đảm bảo khả năng thanh khoản cho các TCTD; (3) Điều hành lượng tiền
cung ứng một cách chủ động, linh hoạt, phối hợp hài hòa giữa các kênh, mua được một
lượng lớn dự trữ ngoại hối Nhà nước nhưng đã linh hoạt hút tiền về để điều tiết tiền tệ
một cách hợp lý, phù hợp với mục tiêu kiểm soát lạm phát, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế ở
Bắc, Tây Nguyên nhằm thu hút các doanh nghiệp tập trung đầu tư vào những địa bàn còn
gặp nhiều khó khăn này. Phối hợp với Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn đưa ra
nhiều gói cho vay hỗ trợ khác và gần đây nhất là gói hỗ trợ trồng cây cà phê ở khu vực
Tây Nguyên với tổng giá trị khoảng 12.000 tỷ đồng.
Riêng đối với việc tháo gỡ khó khăn trong việc thực hiện chính sách đối với chăn
nuôi và thủy sản, NHNN đã hướng dẫn 5 NHTM nhà nước triển khai ngay chính sách hỗ
trợ đối với mặt hàng tôm. Đồng thời, NHNN đã phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát
triển nông thôn thành lập đoàn khảo sát tình hình cho vay đối với lĩnh vực nuôi trồng,
chế biến cá tra tại một số địa phương để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, tìm ra lợi ích
chung giữa ngân hàng và khách hàng vay vốn, đồng thời đưa những giải pháp tích cực để
tháo gỡ khó khăn cho ngành cá tra hiện nay.
2.2. Về xử lý nợ xấu:
Nợ xấu đang là một trong những nguyên nhân hạn chế khả năng mở rộng tín dụng,
gây mất an toàn hoạt động ngân hàng, hạn chế quá trình giảm lãi suất và ảnh hưởng đến
hoạt động sản xuất kinh doanh. Xử lý nợ xấu đã thực sự trở thành vấn đề cấp bách, lâu
dài và không chỉ của riêng ngành Ngân hàng mà là vấn đề kinh tế vĩ mô phức tạp, đòi hỏi
phải có thời gian đủ dài, nguồn tài chính cần thiết, giải pháp tổng thể, căn cơ và sự hậu
thuẫn mạnh mẽ của hệ thống chính trị, sự tham gia của các ngành, các cấp, tổ chức, cá
nhân có liên quan. Để xử lý nợ xấu một cách hiệu quả và bền vững, bên cạnh việc triển
khai quyết liệt các giải pháp của bản thân hệ thống ngân hàng trong phạm vi cho phép,
NHNN đã khẩn trương hoàn thành, trình Bộ Chính trị và Chính phủ thông qua Đề án tổng
thể xử lý nợ xấu của hệ thống các TCTD. Cho phép các tổ chức tín dụng được cơ cấu lại
nợ, ban hành chế tài xử lý nghiêm đối với tổ chức tín dụng không trích lập đầy đủ dự
phòng rủi ro theo quy định và yêu cầu các tổ chức tín dụng tích cực sử dụng nguồn dự
phòng rủi ro để xử lý nợ xấu
Trong điều kiện nền kinh tế gặp nhiều khó khăn, khả năng trả nợ của khách hàng
vay bị suy giảm nghiêm trọng và nguồn tài chính bên ngoài để xử lý nợ xấu không có thì
đây là các giải pháp quan trọng góp phần kiềm chế nợ xấu gia tăng và xử lý được một
khối lượng nợ xấu rất lớn, trong khi vẫn không làm hạn chế khả năng tiếp cận vay vốn
2.3 Về tăng cường thanh tra, kiểm tra và phối hợp với các cơ quan chức năng làm
tốt công tác quản lý nhà nước về tiền tệ, ngân hàng, xử lý nghiêm những tiêu cực
trong hoạt động ngân hàng:
Thực hiện Nghị quyết của Quốc hội, Chính phủ, NHNN tiếp tục quan tâm chỉ đạo
công tác đổi mới, nâng cao năng lực và phương pháp thanh tra, giám sát ngân hàng. Theo
đó, công tác thanh tra, giám sát đã tập trung làm rõ những vấn đề nổi cộm, rủi ro, yếu
kém và những hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng của hệ thống ngân hàng như thực
trạng tài chính, kết quả kinh doanh, chất lượng tài sản có, nợ xấu, phân loại nợ, trích lập
dự phòng rủi ro, thanh khoản, cấp tín dụng, hoạt động đầu tư, hoạt động ngoại hối, vàng,
quản trị, điều hành, cổ đông, cổ phần, cổ phiếu, vốn tự có, mức độ an toàn của các
TCTD.
Với sự đổi mới về phương thức tổ chức và chỉ đạo thực hiện, công tác thanh tra,
giám sát đã mang lại sự cải thiện rõ rệt về chất lượng và hiệu quả góp phần nâng cao hiệu
lực quản lý nhà nước, từng bước lập lại kỷ cương trong lĩnh vực tiền tệ, ngân hàng, đồng
thời hỗ trợ tích cực cho quá trình cơ cấu lại các TCTD. Những phát hiện và kiến nghị của
Thanh tra, giám sát ngân hàng góp phần quan trọng trong việc hoàn thiện các quy định,
chính sách quản lý đối với lĩnh vực ngân hàng.
Bên cạnh việc nâng cao năng lực thanh tra, giám sát, NHNN đã tích cực sửa đổi,
bổ sung và hoàn thiện đồng bộ các văn bản quy phạm pháp luật về thanh tra, giám sát và
an toàn hoạt động ngân hàng nhằm nâng cao mức độ an toàn hoạt động của TCTD và hỗ
trợ hiệu quả cho quá trình cơ cấu lại hệ thống các TCTD, tạo điều kiện cho các TCTD sau
cơ cấu lại hoạt động an toàn, lành mạnh và bền vững hơn. Tăng cường công tác quản lý
cấp phép thành lập, mở rộng mạng lưới TCTD để kiểm soát chặt chẽ quy mô hoạt động,
hạn chế rủi ro đối với TCTD, hỗ trợ tích cực cho quá trình cơ cấu lại hệ thống các TCTD.
Theo đó, từ năm 2012 đến nay, NHNN không cấp phép thành lập mới NHTM, công ty tài
chính, công ty cho thuê tài chính, chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Việc mở chi nhánh
của các ngân hàng chủ yếu phục vụ cho mục đích phát triển.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1/ Chế độ tài chính cùa NHNN Việt Nam theo quyết định 07/2013/ QĐ-TTg