Đặc điểm hồ học và các hồ chứa ở Việt Nam - Pdf 11


1
Đặc điểm hồ học của các hồ chứa
Việt Nam
Bùi Thế Anh
a,d *
, Nguyễn Quang Thái
a
, Nguyễn Quang Diệu
a
, Phan Đình Phúc
b
,
Dưong Tuấn Phương
b
, Nguyễn Văn Tư
c
, Sena De Silva
d

a
Viện nghiên cứu nuôi trồng thuỷ sản 1, Bắc Ninh
b
Viện nghiên cứu nuôi trồng thuỷ sản 3, Khánh Hoà
c
Khoa Thuỷ sản, Đại học nông lâm thành phố Hồ Chí Minh
d
Đại học tổng hợp Deakin, Australia
1. Đặt vấn đề
Hồ học là môn khoa học nghiên cứu các mối quan hệ về chức năng và năng suất
của các vực nước khi xét tới các ảnh hưởng về thuỷ lý, thuỷ hoá và các yếu tố

là Hoà Bình, Thác Bà và Núi Cốc ở miền Bắc, Sông Hinh ở khu vực Tây Nguyên,
và Trị An tại miền Nam Việt Nam.
Mẫu nước tại các hồ chứa tương ứng được thu theo từng quý cho 5 hồ chứa
trong 2 năm 2003-2004 để phân tích các yếu tố về dinh dưỡng của thuỷ vực như
nitrate, phosphate và chlorophyll a. Mẫu nước được thu ở tầng mặt và đựng trong
lọ thu mẫu bằng nhựa PVC (dung tích 300ml/lọ), và được chuyển về phân tích tại
phòng thí nghiệm của Viện nghiên cứu nuôi trồng thuỷ sản 1 (đối với các mẫu thu
tại hồ chứa Hoà Bình, Thác Bà và Núi Cốc), Viện nghiên cứu nuôi trồng thuỷ sản
3 (hồ chứa Sông Hinh) và Khoa Thuỷ sản, Đại học Nông lâm thành phố Hồ Chí
Minh (hồ chứa Trị An).
Các phân tích về thuỷ sinh vật được tiến hành thu hàng quý trong năm 2004
tại 4 hồ chứa Thác bà, Hoà Bình, Sông Hinh và Trị An. Các mẫu về thực vật phù
du được thu ở tầng mặt bằng dụng cụ thu mẫu Kemmerer. Mẫu được lọc bằng
lưới thu thực vật phù du có mắt lưới 22µm, và bảo quản bằng formalin 4% trong
lọ PVC. Các mẫu phân tích động vật phù du được bảo quản bằng dung dịch
formalin 5%.
2.2. Đặc điểm địa hình
Vị trí của các hồ chứa nghiên cứu tại các vùng sinh thái khác nhau ở Việt nam
được mô tả trong hình 1, và toạ độ của các hồ chứa được mô tả trong bảng 1. Các
thông tin về địa hình được thu thập (Tran 1996) và trình bày trong bảng 1, bao
gồm độ sâu lớn nhất (Z
max
, m), chiều dài (l, m), bề ngang (b, m), diện tích (A, ha),
dung tích (V, million m
3
), độ sâu trung bình (z, m), tỷ lệ giữa chiều dài hồ và bề
ngang của hồ (l:b), và chiều dài bờ (km).

3


Độ sâu cực đại, (m) 42 117 20 - 30
Chiều dài (m) 80 280 10 25 37
Chiều rộng (m) 12 3 6 6 10
Diện tích (ha) 23,400 20,800 2,500 3,780 32,440
Dung tích, (triệu m
3
) 3,395 9,450 175.5 320 2,765
Độ sâu trung bình (m) 14.5 45.4 6 - 9
Chiều dài đường bờ (km) 629 - 42 - -

2.3. Các yếu tố thuỷ lý, hoá
Các yếu tố thuỷ lý như nhịêt độ nước (
o
C), hàm lượng oxy hoà tan (mg l
-1
), và độ
dẫn điện (µS cm
-1
) được đo ngay tại các điểm nghiên cứu bằng đầu đo YSI model
85 (YSI Inc., Ohio, USA), và giá trị pH được xác định bằng đầu đo WTW pH
340i (
Aquatic Eco-Systems Inc., Apopka, Florida, Mỹ).
Các mẫu phân tích về phosphate, nitrate được lọc bằng giấy lọc sợi thuỷ
tinh Whatman GF/F (đường kính 47nm). Hàm lượng phosphate và nitrate được đo
bằng máy so màu quang điện theo phương pháp 4500-P G. và 4500-NO
3
-
E.
(APHA và nnk 1999) lần lượt tại các bước sóng 880nm và 550nm.
2.4. Các yếu tố sinh học

khoảng 10-12 km, trong khi các hồ chứa cỡ vừa chỉ có 6 km (Bảng 1). Hồ chứa
Thác Bà có 629km chiều dài bờ, lớn gấp 15 lần chiều dài hồ chứa Núi Cốc, 42km.
3.1. Các đặc điểm thuỷ lý, hoá
Nhiệt độ nước bề mặt dao động từ 20 tới 33
o
C tại các hồ chứa nghiên cứu, có sự
sai khác giữa các hồ chứa (Bảng 2). Hồ chứa Trị An, Núi cốc và Sông Hinh có
nhiệt độ cao nhất, trong khi nhiệt độ bình quân của hồ chứa Hoà Bình và Thác bà
là 25
o
C. Giữa các hồ chứa có sự sai khác về lượng oxy hoà tan trong nước, trong
đó hồ chứa Hoà Bình, Thác bà, Trị An, và Núi Cốc có hàm lượng oxy hoà tan lớn
nhất (bảng 2), và hồ Sông Hinh có hàm lượng oxy hoà tan thấp nhất, 5,8 mg l
-1
.

6
Thêm nữa, lượng oxy hoà tan tại các hồ chứa miền bắc cao hơn so với các hồ
chứa tại miền Nam và khu vực Tây Nguyên.
Bảng 2. Các giá trị trung bình (± sai số chuẩn, SE) về thuỷ lý, thuỷ hoá đối với
các thuỷ vực nghiên cứu (na- không có dữ liệu; các chỉ số a, b, c, d là biểu hiện sự
khác nhau của các yếu tố giữa các hồ chứa với mức ý nghĩa là 0,05.
Hồ chứa lớn Hồ chứa cỡ vừa
Các yếu tố
Hoà Bình Thác Bà Trị An Núi Cốc Sông Hinh
Nhiệt độ (
o
C) 25.0 ± 0.27a 25.6 ± 0.32a 30.0 ± 0.1b 28.1 ± 0.26c 27.5 ± 0.2c
Oxy hoà tan (mg l
-1

Sông Hinh đạt 0,07 mg l
-1
(với độ sai khác nhỏ hơn 0,05). Các hồ chứa ở phía Bắc
có hàm lượng nitrate lớn hơn các hồ tại miền Nam và khu vực Tây Nguyên (Bảng
2).
Hàm lượng phosphate dao động từ 0,01-0,72 mg l
-1
(bảng 2), cụ thể là các hồ
chứa lớn có hàm lượng phosphate thấp hơn rất nhiều (0,01-0,04 mg l
-1
) so với các
hồ chứa cỡ trung bình (0,03-0,72 mg l
-1
).
Lượng Chlorophyll a thấp nhất và cao nhất lần lượt được ghi nhận tại hồ
chứa Sông Hình (3,16 mg m
-3
) và hồ chứa Trị An (9,58 mg m
-3
). Trong khi đó, tại
hồ chứa Hoà Bình, Thác bà và Núi Cốc hàm lượng Chlorophyll a dao động từ 4,6-

7
6,56 mg m
-3
. Kết quả phân tích thống kê cũng cho thấy có sự sai khác có ý nghĩa
về hàm lượng Chlorophyll a giữa các hồ chứa.
3.2. Thực vật phù du
Trong 3 hồ chứa nghiên cứu, có 183 loài thực vật phù du được phát hiện, bao gồm
110, 81 và 34 loài tảo lần lượt tại các hồ chứa Thác Bà, Hoà Bình và Trị An (xem

Hồ chứa Trị An có hàm lượng chlorophyll a và tỷ lệ N:P cao nhất trog tất cả
các hồ chứa (Bảng 2). Tại hồ chứa này, chiếm đa số là họ Microcystaceae
(Microcystis aeruginosa và Microcystis pulverea), Melosiraceae (Melosira
granulata), và Peridiniaceae (Peridinium sp2).

8
Bảng 3. Các loài thực vật phù du xuất hiện tại các hồ chứa nghiên cứu; HB, hồ
Hoà Bình; TB, hồ Thác Bà; TA, hồ Trị An; +, loài xuất hiện tại hồ chứa.

STT Ngành/ Loài HB TB

TA Cyanophyta

1 Anabaena affinis Lemmermann 1897 +
2 Anabaena laxa (Rabenhorst) A. Braun +
3 Anabaena sp. +
4 Aphanizomenon flos-aquae (Linnaeus) Ralfs 1850 +
5 Aphanocapsa litoralis Hansgirg 1892 + +
6 Aphanocapsa montana Cramer in Wartmann & Schenk 1862 + +
7 Aphanothece stagnina (Sprengel) A. Braun in Rabenhorst 1863 +
8 Asterocapsa sp. +
9 Borzia trilocularis Cohn ex Gomont 1892 +
10 Cyanotheca longipes Pasch. +
11 Cylindrospermum alatosporum F.E. Fritsch 1918 +

TA

38 Spirulina sp. +
39 Synechococus aeruginosus Nag. +
40 Tolypothrix rivularis Hansgirg +

Chlorophyta

41 Acanthosphaera zacharaisi Lemmermann 1899 +
42 Actinastrum hantzschii Lagerheim 1882 + +
43 Ankistrodesmus bibraianus (Reinsch) Korshikov +
44 Ankistrodesmus falcatus (Corda) Ralfs 1848 + +
45 Ankistrodesmus fusiformis Corda ex Korshikov 1953 +
46 Arthorodesmus convergens +
47 Arthorodesmus sp. +
48 Chlorella kessleri Fott & Nováková 1969 +
49 Chlorococcum humicolum (Nägeli) Rabenhorst +
50 Chlorococcum infusionum (Schrank) Meneghini 1843 +
51 Chlorococcum wimmeri Rabenh + +
52 Closterium abruptum f. angustissimum Schmidle +
53 Closterium moniliferum Ehrenberg ex Ralfs 1848 +
54 Closterium subulatum (Kützing) Brébisson +
55 Closterium sp. +
56 Coelastrum cambricum W. Archer +
57 Coelastrum microporum Nägeli in A. Braun 1855 +
58 Coelastrum reticulatum (P.A. Dangeard) Senn 1899 +
59 Coelastrum sp. +

84 Mallomonas caudata (Ivanov) Willi & Krieger 1930 + +
85 Micractinium pusillum Fresenius 1858 +
86 Micrasterias sp1 +
87 Micrasterias sp2 +
88 Monoraphidium pusillum (Printz) Komárková-Legnorová 1969 +
89 Nephrocytium agardhianum Nägeli 1849 +
90 Oocystis sp1 +
91 Oocystis sp2 +
92 Palmella miniata var. aequalis +
93 Pandorina morum (O. Müller) Bory de Saint-Vincent +
94 Pediastrum clathratum (Schröder) Lemmermann + +
95 Pediastrum duplex Meyen 1829 + +
96 Pediastrum simplex Meyen 1829 + +
97 Pediastrum simplex var. duodenarium (Bailey) Rabenhrst +
98 Pediastrum sp. +
99 Planktosphaeria gelatinosa G.M. Smith 1918 + +
100 Quadrigula chodatii (Tanner-Füllemann) G.M. Smith +
101 Scenedesmus acuminatus (Lagerheim) Chodat 1902 +
102 Scenedesmus arcuatus (Lemmermann) Lemmermann 1899 +
103 Scenedesmus bicaudatus (Hansgirg) Chodat +
104 Scenedesmus bijugatus Kützing + +
105 Scenedesmus dimorphus (Turpin) Kützing 1833 + +
106 Scenedesmus hystrix Lagerheim 1882 + +
107 Scenedesmus quadricauda Chodat + +
108 Sphaerocystis polycocca Korsch. +
109 Staurastrum paradoxum Meyen ex Ralfs +
110 Staurastrum arctiscon (Ehrenberg) P. Lundell 1871 + +
111 Staurastrum ambiguum Turn. + +
112 Staurastrum natator W. West 1892 +
113 Staurastrum sp1 + +

132 Melosira italica (Ehrenberg) Kützing 1844 +
133 Melosira sp. +
134 Melosira varians C. Agardh +
135 Navicula rostellata Kützing 1844 + +
136 Navicula sp1 +
137 Navicula sp2 +
138 Nitzschia flexa Schumann 1862 +
139 Nitzschia recta Hantzsch +
140 Rhizosolenia setigera Brightwell 1858 +
141 Surirella spiralis Kützing +
142 Surirella biseriata Brébisson in Brébisson & Godey 1836 +
143 Surirella sp. + +
144 Synedra ulna (Nitzsch) Ehrenberg 1832 + + +
145 Tabellaria fenestrata var. asterioneloides Grun. +

Pyrrophyta

146 Ceratium hirundinella (O.F. Müller) Bergh 1841 + + +
147 Ceratium sp. +
148 Glenodinium penardii Lemmermann 1900 +
149 Glenodinium sp1 +
150 Glenodinium sp2 +
151 Peridinium aciculiferum Lemmermann 1900 + +
152 Peridinium cinctum var. tuberosurn (Meunier) Lind. +
153 Peridinium javanicum Bernard 1908 + +
154 Peridinium spiniferum Claparède & Lachmann 1859 + +
155 Peridinium sp1 + +

174 Trachelomonas rotunda Svirenko 1914 +
175 Trachelomonas similis A. Stokes 1890 +
176 Trachelomonas sp1 +
177 Trachelomonas sp2 +
178 Trachelomonas sp3 +

Chrysophyta

179 Tetraedron minimum (A. Braun) Hansgirg 1888 +
180 Tetrastrum staurogeniaeforme (Schröder) Lemmermann 1900 +
181 Westella botryoides (W. West) De Wildeman 1897 + +
182 Westella sp. +

Xanthophyta

183 Botryococcus braunii Kützing 1849 + TOTAL
81 110 34

Hồ chứa Hoà Bình có họ Melosiraceae và Hydrodictyaceae phát triển rất
mạnh, trong đó loài Melosira granulate và Pediastrum simplex được ghi nhận
xuất hiện nhiều nhất. Tiếp sau đó là họ Desmidiaceae mà đại diện là loài


Bảng 4. Các loài ưu thế thực vật phù du xuất tại các hồ chứa nghiên cứu
Hồ chứa Trị An Hoà Bình Thác Bà
Các đặc điểm hồ chứa lớn (nhất)
nông

hồ chứa lớn
hẹp và sâu

hồ chứa lớn
nông vừa phải (trung
bình)
Loại ưu thế Microcystis
aeruginosa,
Microcystis pulverea,
Melosira granulata,
Peridinium sp2
Melosira granulata
Pediastrum simplex,
Staurastrum
ambiguum, Cyclotella
stelligera,
Aphanocapsa
montana,
Melosira granulata,
Pediastrum simplex,
Aphanocapsa litoralis,
Microcystis
aeruginosa,
Mức dinh dưỡng giảm dần (N:P)

Hình 4. Tỷ lệ tương quan (%) về sự xuất hiện của các ngành động vật phù du tại
các hồ chứa khác nhau
Bảng 5. Thành phần loài động vật phù du tại các hồ chứa nghiên cứu;
HB, Hoà
Bình; TB, Thác Bà; TA, Trị An; +, loài xuất hiện
Ngành/Loài HB TB TA

Protozoa
Difflugia urceolata Carter, 1864

+

Rotifera
Ascomorpha saltan +
Asplanchna sieboldi (Leydig, 1854) + +

15
Ngành/Loài HB TB TA
Brachionus angularis Gosse, 1851 +
Brachionus caudatus Barrois & Daday, 1894 +
Brachionus diversicornis (Daday, 1883) + +
Brachionus falcatus Zacharias, 1898 +
Brachionus quadridentatus Hermann, 1783 +
Brachionus sp. +
Brachionus urceus (Linnaeus, 1758) +
Diurella stylata Eyeferth, 1783 +
Filinia camasecla cambodgensis +
Filinia longiseta (Ehrenberg, 1834) + +
Filinia maior Colditz, 1914 +
Gastropus sp. +

16
Ngành/Loài HB TB TA
Ceriodaphnia sp. +
Chydorus baroisi + +
Daphnia cucullata +
Daphnia lumholtzi G. O. Sars, 1885 + +
Diaphanosoma sarsi Richar 1894 + +
Macrothrix spirosa + +
Moina dubia + +
Sida crystallina (O. F. Müller, 1776) +
Simocephalus elisabethae +

Copepoda
Cyclops sp.

+
Mesocyclop leuckarti (Claus, 1857) + +
Thermocyclop taihokuensis Harala, 1931 + +
Nauplius sp. +
Sinocalanus doerrii (Brehm, 1909) +
Calanus sp. +
Mongolodiaptomus formosanus Kiefer, 1937 +
Allodiaptomus calcarus Shen & Tai, 1965 + +

Total 31 24 26
4. Thảo luận
Đặc điểm địa hình của lưu vực hồ là yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới các đặc
điểm về thuỷ lý, hoá và sinh học của các hồ (Wetzel 1983). Theo Nguyễn Văn
Hảo (1997), hồ chứa Hoà Bình, Thác Bà và Trị An được phân loại là hồ chứa cỡ
lớn, trong khi hồ chứa Núi Cốc và Sông Hinh thuộc về nhóm hồ chứa cỡ vừa.

-1
khi nhiệt độ nước và các điều kiện sinh thái khác là thích
hợp.
Nitrate, phosphate là các yếu tố dinh dưỡng cần thiết cho cá và các sinh vật
mồi trong các hồ chứa (Li và Xu 1995). Nguyễn Quốc Ân và Nguyễn Xuân Lý
(2000) cũng chỉ ra rằng hầu hết các hồ chứa được xây dựng sau 20 năm là nghèo
dinh dưỡng. Hàm lượng các chất dinh dưỡng trong các hồ chứa nghiên cứu là
thấp. Theo Đặng T.N. (1980), độ dinh dưỡng của hồ chứa là ngheo dinh dưỡng.
Nghiên cứu này cho thấy ngưỡng dinh dưỡng ở một số hồ chứa được xây dựng
lâu như Thác Bà, Núi Cốc và hồ mới như hồ Sông Hinh hiện đang ở giai đoạn
phục hồi với việc tăng lên của hàm lượng N và P trong các hồ chứa, đặc biệt là
hàm lượng phosphate (Bảng 2). Việc hàm lượng dinh dưỡng đổ vào hồ tăng lên có
thể do tác động từ các hoạt động của con người (chất thải sinh hoạt từ các khu dân
cư, …) và các loại hình phân bố sử dụng đất khác trên lưu vực của các hồ chứa.
Với mức dộ dinh dưỡng như vậy, các hồ chứa này có thể được coi là thuộc mức
dinh dưỡng trung bình (Ferrara 1986). Nguyễn Văn Hảo (1997), Nguyễn Quốc Ân
(1999), và Nguyễn Quốc Ân & Nguyễn Xuân Lý (2000) cũng nhận định rằng
ngưỡng dinh dưỡng tại một số hồ chứa hiện đang trong giai đoạn phục hồi.

18
Khu hệ thực vật phù du tại các đại dương và hồ có rất nhiều loài khác nhau
(Sze 1986). Nghiên cứu này chỉ ra rằng khu hệ thực vật phù du tại các hồ chứa
phía Bắc đa dạng hơn các hồ chứa phía Nam, với lần lượt là 110 và 81 loài tại hồ
chứa Thác Bà và Hoà Bình với 34 loài tại hồ chứa Trị An. Tuy nhiên, số lượng
các loài thực vật phù du đã giảm so với trước thời điểm sau ngập nước. Nguyễn
Văn Hảo và nnk (1993), Nguyễn Văn Hảo và nkk (1995), và Nguyễn Văn Hảo
(1997) nhận xét rằng số lượng các loài thực vật phù dao động từ 123-193, với 145
loài tại hồ chứa Suối Hai, 128 loài tại hồ Đồng Mô và 193 loài tại hồ chứa Thác
Bà.
Nguyễn Văn Hảo và nnk (1995) cũng nhận định rằng Chlorophyta chiếm

cứu khi so sánh với sự đa dạng của các loài được Nguyễn Văn Hảo và nnk (1993;
1995), và Nguyễn Văn Hảo (1997) ghi nhận. Ví dụ, các tác giả trên ghi nhận rằng
có 72 loài tại hồ chứa Thác Bà, 75 loài tại hồ Suối Hai, và 48 loài tại hồ chứa
Đông Mô. Trong nghiên cứu hiện tại, có 57 loài động vật phù du được ghi nhận có
xuất hiện tại các hồ chứa, trong đó lần lượt là 31, 24 và 26 loài tại hồ chứa Hoà
Bình, Thác Bà và Trị An. Hình 4 cho thấy rằng rotifera và cladocera chiếm đa số
tại các hồ chứa, đặc biệt cladocera có tại hồ chứa Thác Bà và Hoà Bình. Đặc biệt,
protozoa chỉ xuất hiện tại hồ chứa Trị An. Ở đây cũng có sự dao động về mùa như
đối với thực vật phù du (Nguyen, 1997).
Các đặc điểm về hồ học này là chức năng cơ bản để xem xét, đánh giá việc
quản lý, bảo vệ nguồn lợi và đưa ra các chiến lược quản lý cho các hồ và hồ chứa
(Paez và nnk 2001; Gonzalez và nnk 2004; Schabetsberger và nnk 2004; Vazquez
và nnk 2004). Điều này cũng có thể được sử dụng nhằm ước đoán sản lượng cá
dựa vào các số liệu về hồ học (Melack 1976; Hanson và Legget 1982; Nissanka và
nnk 2000), các số liệu về địa hình (Moreau và De Silva 1991), để quản lý nghề cá
tại các hồ chứa (Asanka và nnk 2005).
5. Tài liệu tham khảo
APHA, AWWA và WEF (1999). Standard Methods for the Examination of Water
and Wastewater (Electronic resources). Washington D.C., American
Public Health Association.
Asanka, U., D. Jayasingha, U. S. Amarasinghe và S. S. De Silva (2005).
"Limnology and culture-based fisheries in non-perennial reservoirs in Sri
Lanka." Lakes and Reservoirs: Research and Management
10: 157-166.
Barone, R. và L. N. Flores (1994). "Phytoplankton dynamic in a shallow,
hypertrophic reservoir (Lake Arancio, Sicily)." Hydrobiologia
289: 199-
214.

20


21
Havens, K. E., T. L. East, R. H. Meeker, W. P. Davis và A. D. Steinman (1996).
"Phytoplankton and periplankton responses to in situ experimental nutrient
enrichment in a shallow subtropical lake." Journal of Plankton Research

18(4): 551-566.
John, D. M., B. A. Whitton và A. J. Brook (2002). The Freshwater Algal Flora of
the British Isles: An Identification Guide to Freshwater and Terrestrial
Algae. New York, USA, Cambridge University Press.
Kimmel, B. L., O. T. Lind và L. J. Paulson (1990). Reservoir Primary Production.
Reservoir limnology: ecological perspectives
. K. W. Thornton, B. L.
Kimmel và F. E. Payne. New York, John Wiley & Sons: 133-193.
Li, S. và S. Xu (1995). Culture and Capture of Fish in Chinese Reservoirs
,
Southbound and IDRC.
Melack, J. M. (1976). "Primary production and fish yield in tropical lakes."
Transactions. American Fisheries Society
105: 575-80.
Moreau, J. và S. S. De Silva (1991). "Predictive fish yield models for lakes and
reservoirs of the Philippines, Sri Lanka and Thailand." FAO Fisheries
Technical Papers 319: 42.
NCBI (2004). Taxonomy Browser, National Center for Biotechnology
Information.
Ngo, V. S. và L. T. Le (2001). Status of reservoir fisheries in Vietnam
. Reservoir
& Culture-Based fisheries: Biology and Management, Bangkok, Thai
Land, ACIAR, Canberra, Australia.
Nguyen, A. Q. (1999). Preliminary assessment on fisheries status in Lak reservoir

Nguyen, T. V. (2003). The biodiversity of freshwater algae in inland water bodies
of Vietnam: Potential and Challenges. Hanoi, Vietnam, Agricultural
Publisher.
Nissanka, C., U. S. Amarasinghe và S. S. De Silva (2000). "Yield predictive
models for Sri Lankan reservoir fisheries." Fisheries Management &
Ecology 7: 425-436.

23
Paez, R., G. Ruiz, R. Marquez, L. M. Soto, M. Montiel và C. Lopez (2001).
"Limnological studies on a shallow reservoir in western Venezuela (Tule
reservoir)." Limnologica
31: 139-145.
Schabetsberger, R., G. Drozdowski, I. Drozdowski, C. D. Jersabek và E. Rott
(2004). "Limnological aspects of two tropical crater lakes (Lago Biao and
Lago Loreto) on the island of Bioko (Equatorial Guinea)." Hydrobiologia

524(1): 79-90.
Sze, P. (1986). A Biology of the Algae
. Dubuque, Iowa, Wm. C. Brown
Publishers.
Tran, L. T. (1996). Survey on reservoir fisheries/aquaculture in Vietnam. Daklak,
Vietnam, MRC project for the management of reservoir fisheries in
Mekong basin: 73.
Vazquez, G., M. E. Favila, R. Madrigal, C. M. del Olmo, A. Baltanas và M. A.
Bravo (2004). "Limnology of crater lakes in Los Tuxtlas, Mexico."
Hydrobiologia
523(1-3): 59-70.
Wetzel, R. G. (1983). Limnology, Second edition
, Saunders College Publishing.


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status