ĐẠI
HỌC THÁI
NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ
PHẠM
TÔ
VĂN
MẠNH
QUẢN LÝ CÔNG TÁC TƯ VẤN HƯỚNG NGHIỆP CHO
HỌC SINH TRUNG HỌC
PHỔ
THÔNG TẠI TRUNG TÂM
GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN HUYỆN YÊN
PHONG
LUẬN
VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC GIÁO
DỤC
THÁI
NGUYÊN -
2011
ĐẠI
HỌC THÁI
NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ
PHẠM
TÔ
VĂN
MẠNH
QUẢN LÝ CÔNG TÁC TƯ VẤN HƯỚNG NGHIỆP CHO
Mặc dù đã rất cố gắng, song luận văn không tránh khỏi những hạn chế
nhất định. Kính mong được sự góp ý của các thầy, cô giáo và các bạn.
Xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 08 năm 2011
Tác giả luận văn
Tô Văn Mạnh
CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
Cao đẳng CĐ
Công nghiệp hóa CNH
Công nhân kỹ thuật CNKT
Dạy nghề DN
Đại học ĐH
Giáo dục và đào tạo GD&ĐT
Giáo dục thường xuyên GDTX
Giáo viên GV
Hướng nghiệp HN
Học sinh HS Học
sinh phổ thông HSPT
Hiên đại hóa HĐH
Khoa học-kỹ thuật KHKT
Kinh tế-xã hội KT-XH
Kỹ thuật tổng hợp KTTH
Lao động LĐ
Nghề phổ thông NPT
Trung học cơ sở THCS
Trung học chuyên nghiệp THCN
Trung học phổ thông THPT
Kỹ thuật tổng hợp-hướng nghiệp TTKTTH-HN
Tư vấn TV
Tư vấn nghề TVN
chủ trương, đường lối chính sách dến các biện pháp thực hiện. Ngày
19/3/1981 Hội đồng Chính phủ đã ra Quyết định 126/CP về “ công tác hướng
nghiệp trong trường phổ thông và việc sử dụng hợp lý học sinh các cấp PTCS
và PTTH tốt nghiệp ra trường ”. Ngày 17/11/1981, Bộ giáo dục đã ra Thông
tư số 33/TT hướng dẫn các cơ quan, các trường trong ngành thực hiện quyết
định này. Sau đó, ngày 27/4/1982 Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã
kịp thời ban hành thông tư số 48/BT quy định rõ nhiệm vụ của các ngành, các
cấp và Bộ giáo dục trong việc thực hiên quyết định 126/CP. Văn kiện Đại hội
Đảng IX, Nghị quyết 40/2000/QH10, Chiến lược phát triển giáo dục 2001-
2010, Chỉ thị 33/2003/CT-BGD&ĐT và Luật giáo dục năm 2005 đều nhấn
mạnh đến yêu cầu tăng cường giáo dục hướng nghiệp nhằm góp phần tích cực
và có hiệu quả vào việc phân luồng học sinh, chuẩn bị cho học sinh đi vào
cuộc sống lao động hoặc tiếp tục đào tạo phù hợp với năng lực bản thân và
nhu cầu về nhân lực của xã hội.
Tuy nhiên, công tác hướng nghiệp nói chung và TVHN nói riêng ở
nước ta chưa được quan tâm đúng mức. Ngành giáo dục còn thiếu những văn
bản quy phạm pháp luật cụ thể hóa những chủ trương, chính sách của Đảng và
Nhà nước về công tác TVHN. Nhiều tỉnh chưa triển khai công tác TVHN
hoặc triển khai nhưng hiệu quả còn hạn chế ro chưa được đầu tư đúng mức.
Vì vậy, học sinh chưa được chuẩn bị chu đáo những kiến thức về nghề
nghiệp. Hầu hết học sinh tốt nghiệp THPT đều muốn vào ĐH, CĐ. Trong khi
đó, các loại hình đào tạo khác như trường THCN, trường dạy nghề ít được
học sinh quan tâm.
Đối với địa bàn tỉnh Bắc Ninh nói chung và Huyện Yên Phong nói
riêng công tác TVHN cho học sinh THPT vô cùng quan trọng. Cùng với sự
phát triển chung của cả nước, Yên Phong phấn đấu đến năm 2020 cơ bản trở
thành một huyện công nghiệp. Yên Phong là một huyện tuy nhỏ nhưng có
3
nhiều làng nghề truyền thống, có nhiều các khu công nghiệp mới hình thành
đang cần rất nhiều nhân lực đặc biệt là lao động kỹ thuật. Song, nguồn nhân
3. KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
3.1. Khách thể nghiên cứu:
Công tác TVHN cho học sinh ở TT GDTX cấp huyện
3.2. Đối tượng nghiên cứu:
Công tác TVHN cho học sinh THPT tại TT GDTX huyện Yên Phong ở
tỉnh Bắc Ninh
4. GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
Các giải pháp quản lí tư vấn hướng nghiệp sẽ có tác dụng đẩy mạnh
hoạt động giáo dục hướng nghiệp và nâng cao kết quả đào tạo ở Trung tâm
giáo dục thường xuyên nếu chúng đồng thời tác động vào nhận thức về nghề
nghiệp của học sinh, định hướng các em lựa chọn được nghề phù hợp với bản
thân, giúp các em có nhu cầu rèn luyện kĩ năng phù hợp với nhu cầu nghề
nghiệp của địa phương và xã hội.
5. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
5.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận của quản lý công tác TVHN cho học
sinh THPT.
5.2. Đánh giá thực trạng quản lý công tác TVHN cho học sinh
THPT tại Trung tâm GDTX huyện Yên Phong - tỉnh Bắc Ninh.
5.3. Đề xuất giải pháp quản lý nhằm đẩy mạnh công tác TVHN tại
Trung tâm GDTX huyện Yên Phong - tỉnh Bắc Ninh.
5
6. PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đánh giá thực trạng được tiến hành trong khuôn khổ công tác giáo dục
hướng nghiệp tại Trung tâm giáo dục thường xuyên huyện Yên Phong tỉnh
Bắc Ninh. Sử dụng dữ liệu để nghiên cứu thực trạng trong khoảng thời gian từ
năm 2005 đến 2010.
7.
PHƯƠNG
PHÁP NGHIÊN CỨU
7.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận: Nghiên cứu các văn kiện của
TRUNG TÂM GDTX CẤP HUYỆN
1.1 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ
- Do nhu cầu xã hội, nhu cầu dạy nghề phổ thông trong nhà trường,
công tác tư vấn nghề đã được đưa vào trong nhà trường phổ thông từ khá lâu.
- Khởi đầu năm 1975- 1976, theo yêu cầu của Bộ Lao động thương
binh xã hội, ông Phạm Tất Dong và ông Phan Huy Thụ, Phạm Ngọc
Luận( Ban Tâm lý, Viện khoa học Giáo dục) phối hợp với ông Lê Ninh (
Bộ Lao động) xây dựng nội dung và phương pháp tư vấn nghề cho số thương
binh liệt tuỷ sống để hướng họ học nghề phù hợp. Sau 2 năm đi thực tế ở
một số nhà máy, cơ sở sản xuất, nông trường … nhóm công tác đã phác
thảo được 12 hoạ đồ nghề, và tiến hành tư vấn nghề cho hơn 300 thương
binh.
- Dựa trên kết quả khởi đầu đáng khích lệ đó, lại bắt nhịp được yêu cầu
cải cách giáo dục, lãnh đạo ban Tâm lý học đã chấp thuận đề án thực nghiệm
đưa công tác hướng nghiệp trong đó có nội dung tư vấn nghề vào trong nhà
trường phổ thông. Thực nghiệm được tiến hành từ năm 1977 đến năm 1980 ở
trường phổ thông cấp III Thanh Oai, trường cấp II Hồng Dương, trường Bổ
túc văn hoá vừa học vừa làm cấp III Phú Lãm( đều thuộc huyện Thanh Oai –
Hà Tây), trường cấp II Bắc Lý( Nam Hà), sau đó mở rộng đến trường cấp III
Trưng Vương Hà Nội. Thực nghiệm đạt kết quả tốt nên năm học 1980- 1981,
nhóm thực nghiệm lập đề án trình Bộ Giáo dục, sau đó Bộ trình Uỷ ban cải
cách giáo dục Trung ương để mở rộng, đưa công tác hướng nghiệp vào các
trường phổ thông.
7
- Dựa trên các công trình nghiên cứu, các thực nghiệm đã tiến hành
nhóm tác giả Phạm Tất Dong, Phạm Huy Thụ, Nguyễn Thế Quảng, Nguyễn
Trọng Bảo, Đoàn Chi đã tích cực xây dựng đề án “ Hướng nghiệp và sử dụng
hợp lí học sinh ra trường”.
- Ngày 19-3-1981, Chính phủ đã ban hành quyết định số 126CP “ về
công tác hướng nghiệp và sử dụng hợp lý học sinh các cấp THCS, THPT tốt
Văn Lê….
- Nhìn chung những công trình nghiên cứu trên đã có những tác động
nhất định đối với lĩnh vực tư vấn nghề cho học sinh trong nhà trường phổ
thông ở các cấp độ, các bình diện khác nhau, nhưng vẫn còn thiếu những công
trình, những đề án đi sâu vào quản lý công tác tư vấn nghề cho học sinh trong
nhà trường THPT nói chung và trong trung tâm Giáo dục Thường xuyên nói
chung trong giai đoạn nền kinh tế thị trường hiện nay nhất là trong một vùng
quê đang chuyển mình theo sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá của đất
nước như huyện Yên Phong - tỉnh Bắc Ninh. Đó cũng là một trong những lý
do để tác giả nghiên cứu đề tài “ Quản lý công tác Tư vấn Hướng nghiệp
cho học sinh THPT ở trung tâm Giáo dục Thường xuyên huyện Yên
Phong - tỉnh Bắc Ninh” .
1.2. LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC TU VẤN
HƯỚNG
NGHIỆP
1.2.1. Khái niệm hướng nghiệp và hướng nghiệp cho học sinh THPT
* Khái niệm hướng nghiệp:
- Có rất nhiều cách hiểu khái niệm hướng nghiệp khác nhau với tiêu
chí, mục tiêu quan sát và góc độ chuyên môn khác nhau, cụ thể là:
- Các nhà Giáo dục học cho rằng: “Hướng nghiệp là một họat động
của các tập thể sư phạm, của các cán bộ thuộc các cơ quan nhà máy khác nhau,
được
tiến hành với mục đích giúp học sinh chọn nghề đúng đắn phù hợp với năng
lực,
9
thể lực và tâm lý của cá nhân với nhu cầu kinh tế xã hội. Hướng nghiệp là
một bộ phận cấu thành của quá trình giáo dục – học tập trong nhà trường”.
- Các nhà Tâm lý học lại coi “Hướng nghiệp là hệ thống các biện pháp
tâm lý sư phạm và y học giúp cho thế hệ trẻ chọn nghề có tính đến nhu cầu
hiệu quả lao động say mê sáng tạo trong nghề nghiệp mặt khác giúp tránh
thay đổi nghề nghiệp nhiều lần hạn chế các hậu quả xấu do nghề nghiệp
không phù hợp mang lại. Công tác hướng nghiệp trong trường phổ thông cần
tiến hành qua các môn học các giờ lao động, các sinh hoạt ngoại khoá, các
buổi tham quan sản xuất, các cuộc gặp gỡ trao đổi với những người tiêu biểu
của các ngành nghề thông qua phim ảnh, sách báo…để phát hiện nắm bắt
được đặc điểm tâm lý xu hướng nghề nghiệp của từng học sinh rồi từ đó có
những gợi ý, hướng dẫn, động viên, khuyến khích, giúp các em xác định
tương lai nghề nghiệp của mình. Ngoài trường phổ thông ra công tác hướng
nghiệp còn được thực hiện tại các trung tâm hướng nghiệp dạy nghề, tại nhà
máy, làng nghề, trang trại để thanh niên chưa có nghề hoặc muốn chuyển
nghề làm quen, thử sức và lựa chọn.
- Theo tác giả Phạm Tất Dong: “Hướng nghiệp như là một hệ thống tác
động của xã hội về giáo dục, về y học, kinh tế học nhằm giúp cho thế hệ trẻ
chọn được nghề vừa phù hợp với hứng thú, năng lực, nguyện vọng, sở trường
của cá nhân, vừa đáp ứng nhu cầu nhân lực của các lĩnh vực sản xuất trong
nền kinh tế quốc dân”[5].
- Như vậy qua hàng loạt các định nghĩa trên ta hiểu hướng nghiệp là
toàn bộ những tác động để giúp con người định hướng đến một nghề hay một
số nghề nhất định đảm bảo được sự phù hợp giữa khả năng, yêu cầu của cá
nhân với yêu cầu của xã hội. Đây là công việc mà toàn xã hội phải có trách
nhiệm tham gia. Trẻ em cần được hướng nghiệp liên tục, thường xuyên, bằng
11
nhiều hình thức, nhiều con đường (như đài, báo, câu lạc bộ…) để hướng dẫn
nghề nghiệp cho các em, phải coi công tác hướng nghiệp là quyền trẻ em,
chúng ta cần phấn đấu để thế hệ trẻ chọn nghề theo hứng thú, sở thích và cũng
mong muốn học sinh ngày càng nhận thức sâu sắc nghĩa vụ lao động, nhu cầu
nhân lực mà xã hội đặt ra. Do đó hướng nghiệp phải được cả xã hội quan tâm
đặc biệt, không nên để cho trẻ chọn nghề một cách tự phát và cũng không nên
để cho số phận nghề của học sinh phụ thuộc vào những gì hết sức ngẫu nhiên.
dục trong nhà trường phổ thông nhằm giúp cho học sinh có những hiểu biết
thông thường về nghề nghiệp để có định hướng phát triển, lựa chọn nghề
nghiệp phù hợp với hứng thú cá nhân, năng lực bản thân và nhu cầu xã hội.
Trong cơ sở đó, các em tiếp tục học tập, rèn luyện để có thể phát triển trong
hoạt động nghề nghiệp tương lai.
Hướng nghiệp cho HSPT góp phần vào việc phân luồng học sinh cấp
trung học, là bước khởi đầu của quá trình phát triển nguồng nhân lực của xã
hội.
Trong trường phổ thông, thực chất công tác hướng nghiệp là quá trình
giáo dục nhằm điều chỉnh động cơ, hứng thú nghề nghiệp của thế hệ trẻ nhằm
giải quyết mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội, mối quan hệ giữa cá nhân với
nghề, giáo dục sự lựa chọn nghề một cách có ý thức nhằm đảm bảo cho con
người hạnh phúc trong lao động nghề nghiệp và đạt năng suất lao động cao.
Như vậy, “Hướng nghiệp cho HSPT là một hệ thống biện pháp tác
động của gia đình, nhà trường và xã hội. Trong đó nhà trường đóng vai trò
chủ đạo nhằm hướng dẫn và chuẩn bị cho thế hệ trẻ về tâm thế và kỹ năng để
các em có thể sẵn sàng đi vào lao động hoặc tự tạo việc làm ở các ngành nghề
mà xã hội đang phát triển, đồng thời phù hợp với hứng thú và năng lực cá
nhân”.[34.29]
1.2.2.Tư vấn hướng nghiệp.
1.2.2.1. Tư vấn:
Trong thực tế chúng ta thường thấy xuất hiện các cụm từ có liên quan
đến tư vấn như: Tư vấn học đường, tư vấn hôn nhân và gia đình, tư vấn việc
13
làm…Đồng thời cũng tồn tại những tổ chức dịch vụ tư vấn hiện có như :
Trung tâm tư vấn và xúc tiến việc làm, trung tâm tư vấn hôn nhân và gia đình,
trung tâm tư vấn nghề….
Vậy tư vấn là gì?. Có thể hiểu tư vấn là một hoạt động thông tin, trong
đó nhà tư vấn đưa ra những lời khuyên hoặc các gợi ý giúp đối tượng cần tư
hàng, chỉ chịu trách nhiệm về chất lượng của dịch vụ tư vấn mà không phải
chịu trách nhiệm về kết quả cuối cùng của công việc do khách hàng và bộ
máy tổ chức của khách hàng thực hiện.
Mối quan hệ giữa chủ thể tư vấn và đối tượng tư vấn là mối quan hệ tác
động, cải biến, trong đó chủ thể tư vấn ở vị trí tạo nên sự tác động nhờ việc
chuyển tải thông tin, phân tích, khuyên nhủ. Đối tượng tư vấn ở vị trí của
những người được cải biến nhờ việc tiếp nhận những thông tin chưa rõ ràng
hoặc thiếu hụt. Kết quả cuối cùng của tư vấn có thể là sự chuyển biến về nhận
thức và cũng có thể là sự thay đổi những quyết định lớn trong cuộc đời. Song
nếu thông tin thiếu toàn diện, ứng xử của chủ thể chưa thấu tình đạt lý, có thể
dẫn đối tượng tư vấn tới những nhận thức hoặc việc làm vô bổ, sự cải biến
diễn ra theo chiều hướng xấu. Hiệu quả quyết định của đối tượng tư vấn phụ
thuộc vào năng lực nhận thức, nguồn thông tin, khả năng tiếp nhận và xử lý
thông tin của đối tượng.
- Phân loại tư vấn
Căn cứ vào những dấu hiệu khác nhau của hoạt động tư vấn, nếu đem
nhóm họp những cuộc tư vấn có chung một dấu hiệu cùng loại, ta có thể nhận
được một số loại tư vấn sau:
15
Dựa trên mục đích tư vấn chúng ta có : tư vấn giáo dục và tư vấn kinh
doanh, tư vấn pháp luật, tư vấn khoa học công nghệ, tư vấn phản biện, tư vấn
giám định xã hội( có liên quan đến chính sách cụ thể)
Dựa trên thành phần tuổi tác, giới tính, ta có các loại tư vấn như: Tư
vấn cho trẻ em, tư vấn cho thanh niên, tư vấn cho phụ nữ, tư vấn cho những
nguời khuyết tật…
Dựa vào nội dung tư vấn, ta có các loại tư vấn như: Tư vấn nghề
nghiệp, tư vấn việc làm, tư vấn giá cả, tư vấn y học, tư vấn hôn nhân, tư vấn
gia đình…
Dựa vào khoảng cách không gian giữa chủ thể và đối tượng tư vấn có
tư vấn trực tiếp, hoặc tư vấn gián tiếp.
xã hội nhất định, có những quy luật phát triển đặc thù, đồng thời được xem là
biện pháp tác động trực tiếp đến con người. Tư vấn nghề là một trong những
nhân tố hình thành ở con người hệ thống thái độ đối với thế giới nghề nghiệp
và đối với bản thân mình.
Tuỳ thuộc vào hoàn cảnh cụ thể mà ở mỗi nước có cách nhìn và cách
gọi khác nhau về tư vấn hướng nghiệp, ví dụ như ở Mỹ, Canada thì gọi là“
Hướng dẫn chọn nghề” hay “ Hướng dẫn con đường mưu sinh”, và họ cho
rằng: “ Hướng dẫn chọn nghề là quá trình giúp đỡ học sinh chọn nghề, là quá
trình chuẩn bị cho học sinh đi làm, cũng tức là quá trình giúp con người có cơ
thành đạt trong nghề”. Ở Liên Xô (cũ) thì gọi là “ Hướng nghiệp”, cho rằng :“
Hướng nghiệp gồm ba khâu là; định hướng nghề, tư vấn nghề và tuyển chọn
nghề, có nhiệm vụ chuẩn bị về tư tưởng và thực tế cho học sinh tốt nghiệp
trung học sẵn sàng tham gia lao động và lựa chọn nghề nghiệp, tức là nhằm
kết hợp con người do nhà trường đào tạo ra với nhu cầu của kinh tế”. Nhật
17
Bản thì gọi là “ Hướng dẫn tiền đồ” tức là hướng dẫn học sinh sau khi tốt
nghiệp hoặc sẽ học lên hoặc bước vào đời. Pháp, Đức, Anh thì gọi là “ Tư vấn
nghề”. Trung Quốc thì gọi là “ Hướng dẫn chọn nghề”, Hồng Kông gọi là “
Phụ đạo nghề”[47].
Theo ý kiến của K.K. Platonov tư vấn nghề là “Hệ thống những hình
thức y học và những hình thức tác động đa dạng khác nhằm phát hiện và
khám phá những khả năng tinh thần và thể lực của học sinh trong lựa chọn.
E.A Klimov cho rằng " Tư vấn nghề là một trong những nhóm( mắt
xích) chỉ đạo sư phạm bằng quá trình định hướng nghề của tuổi trẻ.
Theo P.A Savin thì “ Tư vấn nghề thực hiện chức năng liên kết giúp cho
học sinh đối chiếu hứng thú sở thích và những khả năng vốn có của mìnhvới
nhu cầu của nền kinh tế quốc dân.
Trong từ điểm tâm lý học của Đức cũng cho rằng tư vấn nghề là “ hoạt
động tư vấn giúp cá nhân, đặc biệt là thanh niên trong quá trình định hướng,
tìm chọn cũng như thay đổi nghề.
dấu bước chuyển từ tuổi niên thiếu sang tuổi sắp trưởng thành và đối với học
sinh trong đại đa số các trường hợp thì sự lựa chọn ấy chủ yếu diễn ra ở nhà
trường phổ thông.
- Thời kỳ thứ hai là thời kỳ thích ứng nghề diễn ra ở bất kỳ loại trường
chuyên nghiệp nào (dạy nghề, trung học chuyên nghiệp, đại học). Các chỉ tiêu
tâm lý của giai đoạn này là tự đánh giá về quyết định của mình đối với nghề
đã chọn, đồng thời biểu thị tinh thần học hỏi, say mê với công việc.
- Thời kỳ thứ ba là thời kỳ phù hợp nghề, nó diễn ra ở nơi làm việc, tại
các cơ sở sản xuất kinh doanh.
Việc chọn nghề, thích ứng nghề và phù hợp nghề là một quá trình
thống nhất, gắn bó chặt chẽ với nhau trong hoạt động của con người.
19
Hình 1.2: Sơ đồ quá trình phát triển nghề nghiệp
Gia đình, trường PT,
trường chuyên nghiệp,
các tổ chức xã hội,
phương tiện thông tin
Cơ sở sản
xuất kinh
doanh
Cơ quan
chuyên môn
Định hướng nghề
chọn nghề(các
hướng đi)
Thích ứng nghề
học nghề(trang bị
kiến thức kỹ
năng)
Phù hợp nghề