ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
PGS.TS. ĐẶNG KIM VUI (Chủ biên)
ThS. ĐỖ HOÀNG SƠN LẬP VÀ QUẢN LÝ
DỰ ÁN LÂM NGHIỆP XÃ HỘI
(TÀI LIỆU GIẢNG DẠY ĐẠI HỌC)
NHÀ XUẤT BẢN NÔNG NGHIỆP
HÀ NỘI - 2007
2
ễn sản xuất.
Trong quá trình biên soạn tập bài giảng trước đây và hoàn thiện cuốn giáo trình
này chúng tôi đã nhận được sự giúp đỡ và đóng góp ý kiến của ngài Pierre - Yves
Suter, cố vấn trưởng SFSP - 2; TS. Peter Taylor, cố vấn giáo dục và đào tạo; Ruedi
Felber, cố vấn về quản lý tài nguyên; TS. Batliner, tư vấn về đào tạo; TS. Marlene
Buchy và các đồng nghiệp tại 4 trường đại học Đại học Nông Lâm Huế, Đại học Lâm
nghiệp Vi
ệt Nam, Đại học Tây Nguyên và Đại học Nông Lâm Thủ Đức. Chúng tôi
cũng đã nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của TS. Phạm Thị Lý, TS. Đinh Thị
Lan, TS. Lê Sỹ Trung, Ths. Trần Công Quân, Ths. Nguyễn Văn Mạn là các chuyên gia
có nhiều kinh nghiệm trong giảng dạy và triển khai thực hiện các dự án ngoài thực tế.
3
Chúng tôi xin chân thành cảm ơn mọi sự giúp đỡ và ý kiến đóng góp quý báu nói trên
của các chuyên gia và đồng nghiệp.
Trong quá trình biên soạn, mặc dù chúng tôi đã có nhiều cố gắng, nhưng đây là
một môn học mới cả về lý luận và thực tiễn nên cuốn sách không thể tránh khỏi những
thiên sót nhất định.
Chúng tôi rất mong bạn đọc góp ý kiến nhận xét để lần xuất bản sau được tốt
hơn.
Những ý kiến đ
óng góp xin gửi về địa chỉ:
Bộ môn Lâm nghiệp xã hội và Phát triển nông thôn
Khoa Lâm nghiệp - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên.
Các tác giả
4
Chương 1
KHÁI NIỆM DỰ ÁN LÂM NGHIỆP XÃ HỘI
- Mỗi dự án phải có một khung kế hoạch thời gian nhất định với điểm bắt đầu và
điểm kết thúc cụ thể nhằm hoàn thành một mục tiêu xác định. Đó chính là sự khác biệt
của dự án so với các hoạt động bình thường được lặp đi, lặp lại theo một thời gian nhất
định.
- Việc xác định rõ mộ
t dự án được bắt đầu từ việc xem xét các nguồn lực và sử
dụng các công cụ quản lý, xác định không gian và thời gian, xác định các mối quan hệ
và đánh giá hiệu quả dự án.
5
- Bộ máy quản lý dự án tồn tại trong thời gian của dự án.
Cấu trúc thông thường của một dự án bao gồm:
- Mục đích và mục tiêu: Là dự kiến những kết quả và lợi ích mà dự án mang lại
và đây cũng chính là lý do, hay trọng tâm của dự án tập trung vào giải quyết cái gì mà
dự án cần đạt tới. Một dự án phải có các mục tiêu rõ ràng, cụ thể, thực tế và phải có
thời hạ
n kết thúc.
- Nội dung các hoạt động của dự án: Đó là các giải pháp về tổ chức kinh tế - kỹ
thuật để nhằm đạt được mục tiêu của dự án. Các hoạt động của dự án phải liên quan
với nhau theo một trật tự thời gian nhất định, chẳng hạn như một công việc chỉ có thể
bắt đầu khi một số công việc khác đã kết thúc.
- Các nguồ
n lực để thực hiện dự án Con người, vốn bằng tiền, đất đai và các tài
nguyên thiên nhiên khác, phương tiện trao đổi thông tin.
- Kết quả dự án: Có thể là những vật chất cụ thể nếu là dự án ứng dụng hoặc dự
án phát triển. Có thể chỉ là một bản báo cáo làm cơ sở cho những hoạch định chính
sách nếu là dự án nghiên cứu Các kết quả phải thể hiện rõ những m
ục tiêu của dự án.
Mức độ thực hiện mục đích và mục tiêu của dự án phụ thuộc chính vào ba điều kiện
ràng buộc là ngân sách, thời gian thực hiện và kết quả cần đạt.
cho yêu cầu tại chỗ, trong nước và xuất khẩu đã làm cho tài nguyên rừng bị tàn phá
nghiêm trọng, tỷ lệ che phủ giảm sút rất nhanh chóng.
Trong những năm g
ần đây Chính phủ Việt Nam đã có những định hướng chuyển
đổi từ nền lâm nghiệp truyền thống sang lâm nghiệp xã hội, lấy người dân làm trung
tâm trong các hoạt động quản lý, bảo vệ, xây dựng vốn rừng đồng thời phát triển kinh
tế xã hội, môi trường bền vững trên cơ sở nguồn lực, năng lực của cộng đồng, của
ngành, địa phương.
Các chính sách, kế hoạ
ch phát triển lâm nghiệp xã hội được cụ thể hoá bằng
những chương trình lớn. Thực tế trong những năm qua Nhà nước đã và đang triển khai
các chương trình lớn góp phần phát triển nông thôn, phát triển lâm nghiệp xã hội như
sau:
• Chương trình khuyến lâm từ 1995 - 2000, ngày 16/3/1995.
• Chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng.
• Chương trình hỗ trợ lâm nghiệp xã hội, xã hội hóa nghề rừng, gắn chặt ho
ạt
động lâm nghiệp với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội.
• Chương trình phát triển nông thôn miền núi.
• Chương trình xóa đói giảm nghèo.
• Chương trình giao đất giao rừng lâu dài cho các tổ chức, cá nhân, hộ gia
đình…
Trên cơ sở các chương trình nêu trên, nhiều dự án khác nhau được tiến hành ở
nhiều địa phương trong cả nước. Một số dự án liên quan đến lâm nghiệp xã hội, phát
7
triển nông thôn bền vững thuộc ngân sách nhà nước, một số dự án được sự tài trợ từ
các quốc gia bạn, các tổ chức phi chính phủ, tổ chức môi trường trên thế giới.
Các dự án được triển khai bao gồm:
• Dự án chuyển giao công nghệ, phát triển nông lâm nghiệp.
• Có khung thời gian/kế ho
ạch riêng, trong đó người dân địa phương đóng vai
trò quan trọng trong quản lý dự án
• Tạo ra sự thay đổi trong quản lý tài nguyên thiên nhiên và cải thiện đời sống
8
của người dân sống trong và gần rừng
• Cơ cấu tổ chức của dự án tương đối độc lập và vai trò của bộ máy quản lý dự
án phải dược xây dựng trong mối quan hệ với cộng đồng địa phương.
• Dựa vào nguồn lực sẵn có ở địa phương như: Kiến thức bản địa, nguồn nhân
lực, tài nguyên thiên nhiên, khả năng đầu t
ư và sự đóng góp của người dân địa
phương.
1.3. Mục tiêu cơ bản và đặc điểm chung của dự án lâm nghiệp xã hội
Mục tiêu cơ bản:
Trong dự án LNXH các hoạt động quản lý, bảo vệ, xây dựng và phát triển rừng
muốn dạt được mục đích phát triển bền vững cả về kinh tế - xã hội và môi trường thì
phải đảm bảo một số m
ục tiêu cơ bản sau:
+ Nâng cao nhận thức cho cộng đồng về hiện trạng của mình. Để làm được điều
này, các hoạt động đánh giá tình hình thực tế của cộng đồng nhằm xác định dự án phải
có sự tham gia của người dân và cộng đồng địa phương. Thông qua sự tham gia này,
các thành viên trong cộng đồng có thể hiểu rõ về tình trạng của mình, các vấn đề gây
cản trở, các tiềm nă
ng và cơ hội cho phát triển. Trên cơ sở hiểu rõ về hiện trạng của
mình, cộng đồng và các bên liên quan dễ dàng xác định được tầm nhìn chung, các vấn
đề và nguyên nhân của nó từ đó có thể xác định dự án sát thực.
+ Huy động khả năng và nguồn lực của cộng đồng tham gia vào các hoạt động
dự án. Điều này có nghĩa là các dự án LNXH hướng tới mục tiêu bền vững, thông qua
việc sử dụ
đặc biệt là đề cao vai trò của người dân và cộng đồng địa phương trong quá trình thực
hiện các hoạt động của d
ự án.
- Dự án thường được xây dựng và thực hiện ở các vùng rừng núi, vùng đồng bào
dân tộc ít người đang có nhiều khó khăn, cơ sở hạ tầng rất yếu kém, trình độ dân trí
thấp, khả năng đầu tư của người dân cho sản xuất hạn chế. Người dân tại các vùng này
thường có mức sống thấp, đói nghèo, sống phụ thuộc nhiều vào tài nguyên rừng.
- Dự án hạn chế t
ối đa việc sử dụng nguồn lực từ bên ngoài, thay thế vào đó là sử
dụng chủ yếu nguồn lực tại chỗ kết hợp với kinh nghiệm, kiến thức bản địa của cộng
đồng.
- Dựa vào đặc điểm sinh thái nhân văn của vùng: Dự án được hình thành trên cơ
sở nhu cầu nguyện vọng của cộng đồng. Kế hoạch dự án được xây d
ựng với sự tham
gia của người dân và cộng đồng địa phương, đảm bảo phù hợp với điều kiện tự nhiên,
kinh tế - xã hội của vùng.
- Quy mô của dự án thường nhỏ cấp xã, thôn/bản… Một thực tế là do điều kiện
địa hình, điều kiện kinh tế - xã hội đặc thù nên các cộng đồng dân tộc vùng miền núi
thường sống theo các cụm dân cư xóm, bản vớ
i những nét đặc trưng riêng. Vì vậy các
dự án LNXH muốn đảm bảo tính thực tiễn, phù hợp với đặc điểm sinh thái nhân văn
của vùng phải là các dự án nhỏ.
Với các đặc điểm của dự án LNXH và để đạt được mục tiêu phát triển LNXH ở
các cộng đồng, người dân phải là đối tượng chính tham gia vào tất cả các bước trong
tiến trình lập và thực hiện dự án và là người hưở
ng lợi chính từ dự án. Người dân tham
gia vào tất cả các khâu công việc từ việc thảo luận xác định các vấn đề nghiên cứu,
đánh giá lựa chọn những vấn đề, phân tích vấn đề ưu tiên, xác định những thuận lợi và
khó khăn để đưa ra giải pháp dự kiến, lập kế hoạch dự án, thực hiện, giám sát, đánh
giá và quản lý dự án.
11
1.5. Các nguyên tắc cơ bản của dự án lâm nghiệp xã hội
Để đạt được mục tiêu của mình, các dự án phải đảm bảo đầy đủ các nguyên tắc
cơ bản sau đây:
1.5.1 Đảm bảo tính khoa học của dự án
Đây là một nguyên tắc cực kỳ quan trọng mà các dự án phải chú ý đầu tiên.
Nguyên tắc này đòi hỏi các dự án phải:
- Đảm bảo phù hợp với các quy luật khách quan.
- Tiếp cậ
n được các tiến bộ mới của khoa học kỹ thuật.
- Thu thập, tính toán và xử lý đầy đủ, chính xác các thông tin cần thiết, đảm bảo
các cân đối thiết yếu trên các mặt.
- Thu hút được sự quan tâm của nhiều đối tượng trong quá trình xây dựng và
thực hiện, trong đó đặc biệt chú ý đến sự tham gia của những người thực hiện và
hưởng lợi từ dự án.
1.5.2. Đảm bảo tính thực tiễn c
ủa dự án
Đây là một nguyên tắc rất quan trọng đối với tất cả các dự án, nhằm đảm bảo cho
dự án có khả năng được thực hiện trong thực tiễn. Để đảm bảo tính thực tiễn, các dự
án phải:
- Đánh giá chính xác các yếu tố khách quan và chủ quan.
- Dự kiến đầy đủ các biến động của các yếu tố bên trong và bên ngoài dự án.
- Xem xét toàn diện các khả năng về các ngu
ồn lực cho dự án và nhu cầu về đầu
ra của dự án.
Xây dựng được cơ cấu tổ chức quản lý, cơ chế điều hành giám sát có hiệu lực
đồng thời có cơ chế thu hút sự tham gia của các đối tượng vào quản lý dự án.
1.5.3. Đảm bảo tính pháp lý của dự án
Nguyên tắc này đòi hỏi những người tham gia quản lý dự án phải tìm hiểu kỹ các
sau:
• Cấp quốc gia
• Cấp vùng
• Cấp tỉnh/huyện
• Cấp cộng đồng
1.6.2. Phân loại dự án theo mục tiêu
Cách phân loại này phân chia các dự án theo các mục tiêu chủ yếu của nó như:
• Dự án sản xuất kinh doanh: Là dự án đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh với
mục tiêu là thu lợi nhuận. Đây là loại dự án tương đối phổ biến, áp dụng trong các
doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế loại dự án này có quy mô, đặc điểm rất phong phú,
đa dạng.
• Dự án không phải sản xuất kinh doanh: Thường là những d
ự án đầu tư với
mục tiêu nghiên cứu hoặc hỗ trợ cho sự nghiệp phát triển toàn diện kinh tế - xã hội
trên từng địa bàn. Đây là loại dự án có nội dung và quy mô rất phong phú như: Dự án
phát triển cơ sở hạ tầng; dự án phát triển y tế, giáo dục; dự án xoá đói giảm nghèo,
định canh định cư; dự án về bảo vệ và phát triển các di sản văn hoá; các dự án nghiên
cứu triể
n khai khoa học công nghệ.v.v 13
1.6.3. Phân loại dự án theo quy mô đầu tư
Đây là cách phân loại căn cứ vào quy mô của dự án, trong đó chỉ tiêu quan trọng
nhất để đánh giá quy mô là tổng mức đầu tư theo từng lĩnh vực.
Theo điều lệ quản lý đầu tư và xây dựng cơ bản hiện nay ở Việt Nam thì các dự
án được chia làm 3 nhóm: A, B, C như sau:
• Dự án nhóm A (Dự án lớn), có tổng mức đầu tư lớn, cụ th
ể:
- Trên 200 tỷ đồng Việt Nam hoặc trên 20 triệu USD thường là các dự án thuộc
14
mới. Mỗi giai đoạn trong chu trình đều có tính độc lập tương đối và có thể nhận biết
dựa vào các kết quả chính của nó, đồng thời các giai đoạn này tuân theo một trình tự
xác định, trong đó kết quả của giai đoạn trước là tiền đề cho các hoạt động của giai
đoạn sau. Trình tự của các giai đoạn không phải là một đường thẳng, mà thường có các
dòng thông tin phản hồi giữ
a các giai đoạn khác nhau. Hoạt động trong giai đoạn trước
hoàn thành làm tiền đề cho việc tiến hành thực hiện các hoạt động của giai đoạn sau,
giữa các giai đoạn kế tiếp mang tính chất kế thừa kết quả của nhau.
Có nhiều quan điểm khác nhau về cách phân biệt các giai đoạn, tuy nhiên nhìn
chung nhiều tác giả nhất trí với chu trình dự án LNXH theo sơ đồ ở sơ đồ 1.3.
Mỗi giai đoạn trên đây có những mục tiêu nhất định cần phải đạt được và đòi hỏi
có những hoạt động cụ thể mà các bên tham gia cần hợp tác để thực hiện. Cụ thể mục
tiêu và các hoạt động chính trong từng giai đoạn được thể hiện tại bảng 1.1.
Bảng 1.1. Mục tiêu và các hoạt động trong các giai đoạn của chu trình
dự án LNXH
Giai đoạn Mục tiêu cần đạt Các hoạt động chính
Đánh giá nhu cầu
+ Mô tả tình hình của
địa phương
+ Xác định các vấn đ
ề
chủ y
ế
u và các giải
pháp
+ Mô tả thực trạng cộng đồng
các c
ấ
p th
ẩ
m quy
ể
n,
nhà tài trợ phê duyệt
+ Xác định các tiêu chí thẩm định
+ Thực hiện các thủ tục cần thi
ế
t cho việc th
ẩ
m
định
Thực hiện và giám sát
dự án
+ Thực hiện được các
k
ế
hoạch dự án một
cách có hiệu quả
+ Đạt được sự cam k
ế
t
của các bên liên quan
trong thực thi
+ Phát hiện các sai
lệch (nếu có)
* Thực hiện
p
theo
+ Đánh giá xem dự án có đạt được mục đích, mục
tiêu đề ra không (đánh giá nội bộ)
+ Đánh giá tác động của dự án đến cộng đồng
+ Đưa ra gợi ý, kiến nghị về tương lai của dự án:
tiếp tục, mở rộng hay kết thúc
+ Tài liệu hóa kết quả dự án
+ Rút ra những bài học về thực hiện dự án
Một dự án LNXH với bản chất cất yếu của nó là sự tham gia của các bên liên
quan, nên có một số giai đoạn chủ yếu có thể cần được chỉ rõ mục tiêu mà các bên liên
quan cần đạt được. Các mục tiêu các bên liên quan cần đạt được trong từng giai đoạn
của chu trình dự án LNXH được cụ thể tại bảng 1.2.
16
Bảng1.2. Mục tiêu cụ thể các bên liên quan cần đạt được trong
chu trình dự án LNXH
Giai đoạn Mục tiêu các bên liên quan cần đạt được vào cuối giai đoạn
Đánh giá nhu cầu
+ Hiểu được các vấn đề, những tiềm nâng và nguồn lực của cộng đồng
+ Hiểu được hậu quả của từng vấn đề đã xác định đối với cộng đồng
+ Sắp xếp thứ tự ưu tiên cho các nhu cầu và các vấn đề cần giải quyết
Thiết kế và lập kế
hoạch dự án
+ Nhận trách nhiệm cụ thể trong dự án
+ Phân bổ các nguồn lực cần thiết để thực hiện dự án
+ Chia sẻ sự hiểu biết về mục đích. mục tiêu và kể hoạch của dự án
+ Sở hữu dự án
Thực hiện và giám
17
Công việc quản lý ở bước này có thể do tổ chức chủ đầu tư trực tiếp tiến hành
hoặc thuê khoán một tổ chức phù hợp thực hiện
• Bước thực hiện dự án: Đây là bước quan trọng nhất, quyết định sự thành
công của dự án. Nội dung quản lý dự án trong bước này bao gồm:
- Thành lập ban quản lý dự án.
- Tổ chức công tác thiết kế chi tiết từ
ng hạng mục
- Tổ chức đàm phán, ký kết các hoạt động thầu khoán cho từng hạng mục của dự
án với các đối tác có năng lực.
- Tổ chức triển khai thi công các hạng mục của dự án.
- Tổ chức công tác giám sát các hoạt động của dự án.
- Tổ chức nghiệm thu các hạng mục hoàn thành.
Các hoạt động quản lý ở bước này chủ yếu thuộc về trách nhiệm của ban qu
ản lý
dự án và cơ quan chủ đầu tư.
• Bước đánh giá và vận hành kết quả dự án: Đây và bước đánh giá kết thúc
dự án và đưa các hạng mục của dự án đi vào hoạt động nhằm đạt được mục tiêu đặt ra
của dự án Nội dung công tác quản lý ở bước này bao gồm:
- Xây dựng bộ máy để trực tiếp vận hành các kết quả đã hoàn thành của d
ự án,
đưa các hạng mục vào hoạt động.
- Tổ chức giám sát các hoạt động của dự án.
- Tổ chức đánh giá cuối cùng dự án.
Các hoạt động quản lý ở bước này có thể do ban quản lý dự án trực tiếp thực
hiện, hoặc có thể chuyển giao cho một bộ phận vận hành riêng nằm dưới sự giám sát
của ban quản lý dự án.
Tuy nhiên, trong dự án LNXH nhấn mạnh tới sự tham gia củ
a các bên liên quan,
Gắn liền với cơ chế của sự học tập và các khái niệm kiến thức, thông tin và dữ
liệu Tìm kiếm những định nghĩa quy nạp và để thống nhất về chúng là một công việc
phức tạp vì chúng ta phải đi vào những vấn đề có tính chất triết họ
c. Trong phạm vi
môn học này, chúng ta sẽ sử dụng một cách tiếp cận trực tiếp hơn, xem dữ liệu là một
tập hợp về các quan trắc được ghi chép theo một hình thức nào đó, chúng có thể là
định tính hay định lượng; còn kiến thức là kết quả của một sự suy diễn các dữ liệu, độc
lập với người suy diễn; và thông tin là một khái niệm bao gồm một biến trạng liên tục
t
ừ dữ liệu cho đến kiến thức (Dixon et al., 1 999). Sơ đồ 2.1 giúp phân biệt thông tin,
dữ liệu và kiến thức với sự nhận thức của con người. Trong sơ đồ này, nhận thức là kết
quả, là quá trình hoạt động trí tuệ để xử lý thông tin có tính chất chuyên biệt đối với
từng cá nhân khi suy diễn thông tin, dữ liệu và kiến thức.
Sơ đồ 2.1. Sơ đồ thể hiện thông tin như là một biến trạng liên tục mà dữ liệu và kiến
thức là hai đầu (Dixon et al., 1999)
Khi đặt thông tin như là một yếu tố của quá trình học tập, chúng ta đã thấy vai trò
của nó Tuy nhiên, điều chúng ta cần là những phát biểu cụ thể hơn: Thông tin được
dùng làm gì và như thế nào trong các hoạt động thực tiễn của chúng ta? Hãy tự đặt
mình vào vai trò của một ng
ười làm công tác quản lý dự án và hãy tự đặt câu hỏi:
Tại sao chúng ta cần thông tin? Những gì được liệt kê sau dây chỉ là một số lý do
chính:
Các lý do tại sao chúng ta cần thông tin:
• Chúng ta cần thông lin để có những quyết định đúng đắn.
• Có một số vấn đề mà chúng ta phải giải quyết.
20
• Chúng ta cần thông tin để lập kế hoạch
• Chúng ta muốn biết tại sao một việc gì đó không dạt được kết quả tốt.
Bảng 2.1. Một số loại thông tin mà nhà nghiên cứu và cộng đồng có thể cần trong
chu trình dự án LNXH
Nhà nghiên cứu Cộng đồng Giai đoạn
Thông tin Lý do cần có Thông tin Lý do cần có
Đánh giá nhu
cầu cộng
đồng
Các vấn đề mà
cộng đồng đang
gặp phải.
Giải thích và
tìm nguyên
nhân
Các khó khăn và vấn đề
ưu tiên cần giải quyết
Tham gia vào
quá trình quyết
định
Thiết kế và
Lập kế hoạch
dự án
Các nguồn
lực/tiềm năng của
cộng đồng.
Các phương án.
Có thể phát huy
tiềm lực như thế
nào để phát triển
cộng đồng
nhất.
Đánh giá dự
án
Tnh hình trước và
sau khi thực hiện
các hoạt động.
Đánh giá hiệu
quả và tìm khả
năng nhân rộng.
Tnh hình có và không có
dự án.
Đánh giá hiệu
quá
Những điều chúng ta cần lưu ý trong suốt chu trình dự án
• Chúng ta cần nhiều thông tin để giải thích và ra quyết định.
• Có một loạt thông tin được lluul thành ngay trong tiến trình của dự án và
• Thông tin trong giai đoạn trước được sử dụng trong giai đoạn sau.
• Ngoài ra, chúng ta cũng lưu ý rằng thông tin có thể được nắm giữ, tiếp cận và
sử dụng một cách khác nhau bởi những nhóm người liên quan khác nhau đối vớ
i một
dự án cụ thể
Yếu tố sau cùng có liên quan đến vấn đề trách nhiệm giải trình (accountability)
của những người ngoài đối với các cộng đồng địa phương nơi thực hiện các dự án.
1.3. Các yêu cầu của thông tin
Chúng ta đã thấy rằng thông tin là một khái niệm quan trọng vì các dự án thường
bắt đầu bằng các thông tin, được thẩm định, theo dõi, đôn đốc, kiểm tra và đánh giá
bằng các thông tin. Những ngườ
i làm công tác phát triển các dự án lâm nghiệp xã hội
đòi hỏi một số lượng thông tin khác nhau trong từng giai đoạn khác nhau. Chúng ta sẽ
dành vài phút để thảo luận về các yêu cầu của thông tin bằng cách trả lời câu hỏi: Thế
Chúng ta không thể bị choáng ngợp trong biển thông tin của thời đại
của sự bùng nổ thông tin. cần phải biết chọn lọc cái chúng ta cần quan
tâm trước.
Kinh tế (cost
effective)
Mọi thông tin đều có giá của nó nhưng ta không muốn có thông tin với
bất cứ giá nào; điều này cũng có nghĩa là phải biết "tiết kiệm" thông
tin.
Truyền thông
(communicable)
Nếu không truyền thông được thì còn gì là thông tin, nhất là trong điều
kiện có nhiều nhóm liên quan khác nhau.
Yêu cầu về độ tin cậy: Nhà nghiên cứu chỉ tin cậy các thông tin khi chúng được
chứng minh hay kiểm tra. Trong công tác thẩm định nông thôn, cần phân biệt bản chất
của nguồn tin liên quan đến mức độ tin cậy. Về khía cạnh này, ta có thể phân chia
thông tin theo bản chất như sau:
+ Sự kiện (fact): Thông tin về sự kiện là thông tin khách quan: một công việc
được thực hiện, một hiện tượng xẩy ra, một bằng chứng được trình bày như
là hiện
23
thực khách quan.
+ Quan niệm (opinion): Đây là những thông tin chủ quan của nguồn cung cấp tin
một quan điểm, tư duy, sự lượng định về một vấn đề. Các tầm mức của quan niệm từ
cao đến thấp là sự hiểu biết về một vấn đề, sự tin tưởng vào một phát biểu và sự cảm
nhận về vấn đề đó Đối với các thông tin về quan niệ
m, tính chủ quan của nó đòi hỏi sự
thận trọng để tránh sự thiên lệch.
+ Nghe nói (hear - say): Điều mà người được phỏng vấn nghe từ một người khác
là một thông tin còn mơ hồ và dĩ nhiên là cần phải kiểm tra. Tuy vậy, nó cũng chỉ thị
nghiên cứu phải tự mình trả lời câu hỏi "Sẽ phải thu thập thông tin gì ?". Một bảng liệt
kê các vấn đề cần được quan tâm sẽ rất có ích, tuy nhiên, kinh nghiệm cho thấy rằng
cứng nhắc theo bảng liệt kê quá chi tiết cũng không đem lạ
i kết quả mong đợi, nhất là
trong giai đoạn đầu của quá trình tìm hiểu một vấn đề hay một đối tượng mới mẻ.
24
Chính vì lý do đó, tính chất "bán cấu trúc" (semi - structured) thường được nhấn mạnh
trong các phương pháp thẩm định nông thôn.
Tính kịp thời (timely) và cập nhật (update): Công việc thu thập thông tin không
thể kéo dài vì cuộc sống không chờ đợi, các cộng đồng mong muốn có ngay những tác
động nhất định, các nhiệm vụ phải được hoàn thành. Một mặt khác, thông tin phải cập
nhật vì các đặc tính của cộng đồng và tài nguyên biến đổi rất nhanh.
Tính truyền thông được:
Thông tin phải truyền thông được, nghĩa là nội dung
thông tin phải được hiểu biết một cách đầy đủ và trung thực đối với người tiếp nhận
Điều này đặt tầm quan trọng của việc trình bày thông tin và những cố gắng xây dựng
các công cụ có tính trực quan cao khi làm việc với các cộng đồng địa phương, như đa
số các công cụ của PRA khi thu thập thông tin cùng với cộng đồng.
Tính kinh tế (cost effective): Sau cùng, công vi
ệc thu thập thông tin thường tốn
kém. Nhà nghiên cứu phải tối ưu hóa quá trình thu thập thông tin sao cho chi phí được
sử dụng một cách có lợi. Đó là lý do của việc sử dụng các thông tin định tính trong
đánh giá nông thôn có sự tham gia. Tư tưởng chủ đạo của nghiên cứu hướng hành
động và có sự tham gia là phát triển sự hiểu biết về một tình hình một cách tiệm tiến đi
kèm với các hành động để thay đổi nó.
1.4. Các loại thông tin.
Chúng ta cũng thường nghe
đến các "thông tin định tính" và "thông tin định
lượng" và thường hay đặt chúng một cách đối lập nhau. Thậm chí, có ý kiến cho rằng
mang tính định tính như mức đo thứ nhất, nhưng diễn đạt một khái niệm thứ hạng, hơn
kém bằng các số định hạng (ranking numbers). Ví dụ, danh sách của các học viên nói
trên lúc này được xếp theo thứ tự kết quả sau khóa học. Cũng như ở mức đo danh
nghĩa, ta có thể thực hiện được các thao tác số học như đếm và lấy t
ỷ lệ, nhưng không
thể cộng, trừ nhân, chia các số định hạng (ranh). Ngoài ra, có thể thực hiện các phép so
sánh các số định hạng. Trong một số trường hợp, người ta có thể kết hợp các số định
khoảng về các biến số khác nhau với giả định rằng các khoảng chia diễn đạt một ý
niệm phân hạng tương tự nhau, mặc dù giả định này không được chứng minh. Ví dụ,
trong công cụ cho
điểm của PRA.
Mức đo định khoảng (interval measurement): Mức đo này dựa trên một thang
chia quy ước và một đối tượng có thể được xếp vào một và chỉ một khoảng chia. Một
hệ thống đánh giá thu nhập của người dân với các mức rất nghèo đến khá giả với 5 cấp
từ 1 đến 5 cũng cho ta ý niệm về mức đo định khoảng. Một biến cách của m
ức đo định
khoảng là mức đo tỷ lệ. Mức đo định khoảng không chứa số 0 tự nhiên mà chỉ là số 0
quy ước, nhưng mức đo tỷ lệ nhất thiết chứa số 0 tự nhiên. Thang chia nhiệt độ là một
ví dụ. Nhiệt độ 0
0
C không phải là không có nhiệt. Mặc khác, ta có thể nói độ tăng
nhiệt độ giữa 30 và 60
0
C và giữa 60 và 90
0
C là như nhau, nhưng không thể nói nhiệt
độ 60oc nóng hơn 30
0
C hai lần (60/30 = 2).
Mức đo định lượng (metric measurement): Đây là mức đo diễn đạt bằng các số