Vị trí của cách mạng Việt Nam đối với qúa trình họat đông
của Quốc tế Cộng sản .
Mục lục
Mở đầu
I Vai trò của Quốc tế Cộng sản đối với cách mạng Việt Nam
1Sự thành lập và phát triển của Quốc tế Cộng sản.
2.Vai trò của Quốc tế Cộng sản đối với cách mạng Việt Nam
3.Hạn chế của quốc tế cộng sản đối với cách mạng Việt Nam.
Nội dung
II. Đóng góp của cách mạng Việt Nam đối với qúa trình họat đông của Quốc
tế Cộng sản.
1Về mặt lý luận.
2.Về mặt thực tiễn.
3.Bài học kinh nghiệm.
Kết luận
1
Mở đầu
Lịch sử phong trào cộng sản và công nhân quốc tế giữa đầu thế kỷ XX đã đánh
dấu sự ra đời, phát triển và vai trò đóng góp của Quốc tế cộng sản đối với phong
trào cách mạng thế giới nói chung, phong trào giải phóng dân tộc của các dân tộc
thuộc địa nói riêng. Trong đó có cách mạng Việt Nam.
Quốc tế Cộng sản là “Bộ tham mưu” của cách mạng thế giới giữa hai cuộc đại
chiến thế giới. Thực hiện khẩu hiệu “Vô sản giai cấp và dân tộc bị áp bức trong thế
giới liên hiệp lại”, Quốc tế Cộng sản có sứ mệnh và công lao to lớn trong sự
nghiệp tổ chức và lãnh đạo phong trào cộng sản, phong trào công nhân, phong trào
giải phóng dân tộc trên thế giới, trong đó có phong trào cách mạng Việt Nam .
Chủ tịch Hồ Chí Minh còn chỉ rõ “Đệ tam quốc tế chủ trương đạp đổ tư bản
làm thế giới cách mạng, giúp dân thuộc địa chống lại đế quốc chủ nghĩa, dạy
cho vô sản giai cấp trong thế giới-bất kỳ nòi giống nào, nghề nghiệp gì, tôn giáo
gì- hợp sức làm cách mệnh”.
Quốc tế Cộng sản xứng đáng là “Bộ tham mưu” của cách mạng thế giới giữa
tưởng và tổ chức ngày 1/3/1919 tại Matxcơva, Lênin đã chủ trì cuộc họp để chuẩn
bị về mọi mạt cho một chương trình làm việc của Hội nghị quốc tế những người
cộng sản và công nhân trên toàn thế giới để thành lập Quốc tế Cộng sản.
Chiều ngày 2/3/1919, Hội nghị đã được tiến hành tại điện Cremlin. Dự Hội
nghị có đại biểu của các đảng cộng sản và các tổ chức cách mạng của 30 nước
tham dự. Khác với các Hội nghị thành lập Quốc tế I và Quốc tế II,
Hội nghị thành lập Quốc tế Cộng sản lần đầu tiên có mặt các đại biểu
một số nước phương Đông - đại diện cho các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa.
Hội nghị đã thảo luận và thông qua nhiều văn kiện quan trọng như Cương lĩnh
của Quốc tế Cộng sản, Luận cương và Báo cáo về dân chủ tư sản và chuyên chính
vô sản của Lênin, Tuyên ngôn của Quốc tế Cộng sản gửi những người vô sản toàn
thế giới. Ngày 4/3/1919 tất cả các đại biểu dự Hội nghị đều biểu quyết nhất trí với
đề nghị của V.I.Lênin thông qua quyết định lịch sử thành lập Quốc tế Cộng sản
Trong thời gian tồn tại của Quốc tế Cộng sản (tính từ ngày thành lập
4/3/1919 đến khi tuyên bố giải thể vào ngày 15/5/1943 Quốc tế Cộng sản đã tồn
tại 24 năm 2 tháng 11 ngày) đã trải qua 07 đại hội
Từ Đại hội I: từ 2 đến 6 tháng 3 năm 1919 đến Đại hội VII: từ 25/7 đến 20/8 năm
1935.
Điểm khác lớn nhất của Quốc tế Cộng sản (tức Quốc tế III) so với Quốc tế I và
Quốc tế II là sự tham gia của các tổ chức, các đảng cộng sản và công nhân ở các
nước thuộc địa và phụ thuộc vào công việc chung của phong trào cộng sản, công
nhân, phong trào giải phóng dân tộc trên toàn thế giới
3
Trong quá trình tồn tại Quốc tế Cộng sản đã đề ra định hướng cho các đảng
cộng sản và công nhân vận dụng học thuyết Mác - Lênin vào điều kiện thực tiễn
trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa thực dân.
Quốc tế Cộng sản đã tập hợp, liên kết phong trào cộng sản và công nhân chống
chủ nghĩa phát xít và ngăn chặn nguy cơ bùng nổ chiến tranh.
Quốc tế Cộng sản đã giúp đỡ cho các dân tộc thuộc địa truyền bá chủ nghĩa
Mác - Lênin vào phong trào công nhân dẫn đến thành lập nhiều đảng cộng sản trên
4
nhiều phong trào yêu nước chân chính, thừa dũng cảm song vẫn thất bại, vẫn bị
dìm trong máu.
Việc Quốc tế Cộng sản coi vấn đề dân tộc, thuộc địa, vấn đề tăng cường lãnh
đạo chỉ đạo giúp đỡ toàn diện, phối hợp hành động giữa cách mạng chính quốc với
cách mạng thuộc địa là một trong những nhiệm vụ quan trọng bậc nhất, nằm ở vị
trí trung tâm chú ý của Quốc tế Cộng sản đã định hướng cho các lực lượng yêu
nước và cách mạng Việt Nam, đoàn kết họ lại với nhau để tìm ra một con đường
cứu nước giải phóng dân tộc Việt Nam, thoát khỏi tư tưởng đi tìm chỗ dựa của
những người yêu nước đương thời.
Hồ Chí Minh chú trọng nghiên cứu kỹ những văn kiện cơ bản và tư tưởng
chỉ đạo của Quốc tế Cộng sản đối với cách mạng nước ta, đặc biệt đánh giá cao
những tư tưởng vĩ đại của V.I.Lênin trong Luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề
thuộc địa, coi nó là "chiếc cẩm nang thần kỳ" là "con đường" giải phóng cho chúng
ta, chấm dứt tình trạng bế tắc về đường lối của phong trào đấu ranh yêu nước và
cách mạng Việt Nam.
Luậc cưong gồm 12 điểm trình bày một cách ngắn gọn những nguyên tắc đối với
việc giải quyết vấn đề dân tộc dân chủ trong thời đại đế quốc chủ nghĩa, xác định
vị trí và vai trò của phong trào giải phóng dân tộc trong tiến trình cách mạng thế
giới và từ đó đề ra những nhiệm vụ chiến lược và sách lựoc của Đảng cộng sản
nhằm đưa sụ nghiệp giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa giành được thắng lợi
hòan toàn.
b. Quốc tế cộng sản giúp đỡ, tạo điều kiện và môi trường thuận lợi truyền bá chủ
nghĩa Mác - Lênin vào phong trào công nhân và phong trào yêu nước để thành lập
Đảng Cộng sản Việt Nam
Tìm thấy con đường cứu nước giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng
vô sản là cực kỳ quan trọng. Nhưng để biến đường lối đó thành hiện thực phải trải
qua một công tác tổ chức thực hiện lâu dài, phải có những điều kiện và biện pháp
cụ thể. Quốc tế Cộng sản đã tạo ra môi trường hoạt động quốc tế thuận lợi giúp đỡ
Nguyễn ái Quốc và những người yêu nước Việt Nam trong việc truyền bá chủ
c. Quốc tế Cộng sản đã tạo môi trường, điều kiện cho Nguyễn ái Quốc học tập,
nghiên cứu chủ nghĩa Mác - Lênin, khảo sát thực tế để xây dựng và hoàn thiện
lý luận về con đường cách mạng Việt Nam
Nhờ hoạt động thực tiễn trong phong trào cộng sản, công nhân quốc tế và
trong Quốc tế Cộng sản, nhờ tiếp thu tận gốc chủ nghĩa Mác - Lênin, Nguyễn ái
Quốc đã có một bước chuyển biến căn bản từ chủ nghĩa yêu nước đến chủ nghĩa
Mác - Lênin vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin trong quá trình
lãnh đạo cách mạng Việt Nam.
Nhờ hoạt động trong Quốc tế Cộng sản với tư cách là uỷ viên đoàn Chủ tịch
Hội đồng Nông dân quốc tế phụ trách nông dân các thuộc địa, phụ trách Cục
phương Nam Bộ phương Đông của Quốc tế Cộng sản, Nguyễn ái Quốc đã đi
nghiên cứu thực tế ở 28 nước của 4 châu lục, điều mà ngay cả C.Mác, Ph.ăngghen
và V.I.Lênin sinh thời cũng chưa thực hiện được.
Chính từ tiếp thu lý luận và có thực tiễn nghiên cứu phong trào cách mạng các
nước để so sánh, để kiểm chứng mà Nguyễn ái Quốc đã có những vượt trội hơn
tầm nhìn của nhiều chính khách đường thời trong đánh giá, sắp xếp lực lượng các
giai cấp trong cách mạng giải phóng dân tộc, trong sách lược mặt trận, trong đánh
giá xu thế vận động của lịch sử tiến hoà mà thực tiễn lịch sử hiện đại thế giới và
Việt Nam đã minh chứng tính đúng đắn của nó.
6
Chắc chắn nếu không tiếp thu tận gốc học thuyết Mác - Lênin, nếu không có
những cuộc khảo sát phong trào công nhân và nông dân khắp 4 châu lục, Nguyễn
ái Quốc không thể có những chủ trương chiến lược và sách lược rất sớm, hết sức
đúng đắn khác với Quốc tế Cộng sản đề ra ở Đại hội VI năm 1928.
d. Quốc tế cộng sản đã đào tạo cho Việt Nam nhiều cán bộ xuất sắc nắm giữ các
trọng trách cao trong Đảng và quốc tế
Quốc tế Cộng sản đã đào tạo và bồi dưỡng cho cách mạng Việt Nam nhiều cán
bộ ưu tú trở thành những lãnh tụ chân chính của cách mạng Việt Nam. Thông qua
việc phân công và đào tạo trong công tác thực tiễn và qua các trường lớp của Quốc
tế Cộng sản (Trường Quốc tế Lênin, Trường Lao động cộng sản Phương Đông)
7
hiện "tả" khuynh trong Xô viết Nghệ An và Xô viết Hà Tĩnh cùng với một vài biểu
hiện hữu khuynh, cầu an, dao động sau thất bại của phong trào. Với thái độ Bôn-
sê-vích và tính nhân đạo cộng sản, thái độ phê bình và chỉ trích của Quốc tế Cộng
sản là có tình có lý. Quốc tế Cộng sản vẫn biểu dương mặt tốt và thấy rõ cả những
sai lầm khó tránh khỏi của một đảng còn trẻ tuổi. Thái độ này giúp cho những
người cộng sản Việt Nam đứng vững và vượt qua khó khăn trong những năm
khủng bố trắng của thực dân Pháp.
Nhờ có Quốc tế Cộng sản những người cộng sản Việt Nam có điều kiện
tập hợp và kiểm điểm, đánh giá lại phong trào thời gian qua, xây dựng Chương
trình hành động năm 1932, Quốc tế Cộng sản chủ trương và chỉ đạo mở nhiều cuộc
thảo luận về các vấn đề cách mạng Đông Dương trong Quốc tế Cộng sản những
năm từ 1931-1934 để chuẩn bị cho các văn kiện chính trị và hồi phục Đảng ở Đại
hội I. Nhờ có Quốc tế Cộng sản, Đảng ta kịp thời chuyển hướng sang thời kỳ Mặt
trận dân chủ và sáng tạo ra một hình thức Mặt trận thích hợp ở Đông Dương - Mặt
trận dân chủ Đông Dương mà không sa vào hình thức mặt trận nhân dân chống đế
quốc nói chung.
Sự tiếp thu đường lối mặt trận của Đảng ta trong và sau Đại hội VII của Quốc tế
Cộng sản năm 1935 đã đánh dấu sự vượt qua tư tưởng giai cấp chống giai cấp để
chuyển sang sự kết hợp giai cấp – dân tộc trong cách mạng Việt Nam.
Quốc tế Cộng sản đánh giá cao và biểu dương kịp thời cách mạng Đông
Dương
trên toàn thế giới, giúp cho các đảng cộng sản và công nhân trên thế giới có thể học
tập từ kinh nghiệm của phong trào cách mạng Việt Nam. Cao trào 1930-1931 được
Quốc tế Cộng sản xem như là "những hình thức chủ yếu" của phong trào cách
mạng dân tộc, đã "giáng một đòn trực diện" vào hệ thống đế quốc chủ nghĩa, coi
Xô viết Nghệ Tĩnh là "thành tích đặc biệt to lớn".
Quốc tế Cộng sản lưu ý các đảng cộng sản đặc biệt là Đảng Cộng sản pháp trong
lĩnh vực công tác thuộc địa cần phải học tập nhiều ở các đồng chí Đông Dương.
Chính vì vậy từ một phân bộ dự bị trực thuộc Đảng Cộng sản Pháp, tháng 4/1931
riêng của Quốc tế Cộng sản ở Đại hội lần thứ VI năm 1928. Đây thực chất là
đường lối giai cấp chống giai cấp, tuyệt đối hoá đấu tranh giai cấp đang tồn trại
trong tư duy chính trị của Quốc tế Cộng sản lúc đó.
Xuất phát từ nhận định về sự phản bội của giai cấp tư sản trên phạm vi
toàn thếgiới, đặc biệt là giai cấp tư sản dân tộc ở các nước thuộc địa và nửa thuộc
địa vốn trước đây còn được xem là có thể có tinh thần chống đế quốc thì hiện tại
nó đã phản bội lại công nông như ấn Độ và Trung Quốc, Quốc tế Cộng sản chỉ ra
rằng giai cấp tư sản nói chung là đối tượng phải đánh đổ. Chủ nghĩa phát xít và
nguy cơ của chiến tranh đang đến gần lại càng làm cho nhận định này được khẳng
định.
Nhận định "tả" khuynh này lúc đó chi phối hành động của các đảng. ở Đông
Dương và Việt Nam, thuộc địa lớn nhất của Pháp, đặc điểm của sự ra đời và phân
hoá trong giai cấp tư sản khác rất nhiều nước vì vậy thực hiện chủ trương này của
Quốc tế Cộng sản đã dẫn đến những biểu hiện "tả" khuynh trong tập hợp lực lượng
ở Đông Dương.
Khẩu hiệu "trí, phú, địa, hào đào tận gốc chốc tận rễ" là biểu hiện của tinh thần
này. Bài học về sự vận dụng máy móc một chủ trương, một kinh nghiệm, thiếu
điều tra nghiên cứu để vận dụng thích hợp được thấy ngay từ buổi đầu lập đảng.
Bài học này còn kéo dài khi hiểu và vận dụng không đúng sự phân chia của Quốc
tế Cộng sản đối với giai cấp tư sản ở thuộc địa thành hai phái dân tộc và mại bản,
có lúc đồng nhất tư sản dân tộc cải lương là mại bản làm yếu mặt trận đoàn kết dân
tộc chống đế quốc. ở Việt Nam tư sản dân tộc có hai khuynh hướng cách mạng và
9
cải lương. Cả hai khuynh hướng này đều có tinh thần chống Pháp ở những mức độ
khác nhau mà người lãnh đạo cách mạng cần tập hợp được.
Hơn nữa chính từ sự nhận định "tả" khuynh này dẫn đến nhận định về nhiệm vụ
chính của cách mạng giải phóng dân tộc là chống phong kiến là hoàn toàn không
đúng.
Cốt lõi của cách mạng giải phóng dân tộc là chống đế quốc như Nguyễn ái Quốc -
Hồ Chí Minh nêu ra trong Chính cương và Sách lược vắn tắt. Kinh nghiệm lịch sử
Tuy còn nhiều hạn chế nhưng Quốc tế Cộng san đóng vai trò quan trọng trọng
quá trình hình thành và phát triển của cách mạng Việt Nam.
10
II. Đóng góp của cách mạng Việt Nam đối với qúa trình họat đông của Quốc
tế Cộng sản.
Quốc tế cộng sản có vai trò quan trọng và những đóng góp to lớn cho cách mạng
Việt Nam .Cách mạng Việt Nam không chỉ đơn thuần tiếp nhận sự chỉ đạo và giúp
đỡ của Quốc tế Cộng sản mà cách mạng Việt Nam cũng đóng góp cho Quốc tế
cộng sản về lý luận và thực tiễn
1Về mặt lý luận.
a.Nguyễn Ái Quốc phát tiển và bổ sung lý luận chủ nghĩa Mác-Lênin về vấn đề
dân tộc và thuộc địa
C.Mac, Ph.Angghen, Lenin đều cho răng cách mạng giải phóng dân tộc và thuộc
địa và cách mạng vô sản ở chính quốc liên quan chặc chẽ với nhau và cách mạng ở
chính quốc trước và sau đó giúp đỡ cách mạng thuộc địa giành thắng lợi.
Như vậy thắng lợi của cách mạng ở thuộc địa phụ thuộc vào cách mạng vô sản ở
chính quốc. Quốc tế Cộng sản cung có quan điển đó trong một thời gian dài ( từ
Đại hội I đến Đại hội VI).Như vậy quốc tế cộng sản chỉ mới thấy mối quan hệ một
chiều, sự chi phối của cách mạng vô sản ở chính quốc đến cách mạng thuộc địa .Tư
tưởng này đã làm giảm tính năng động cách mạng trông chờ, ỉ lại, thụ động của
nhiều Đảng ở các nước thuộc địa trong những lúc hoàn cảnh đã thay đổi
Thông qua quá trình hoạt động và lý luận thực tiễn đấu tranh cách mạng Nguyễn
Ái Quốc đã góp phần phát triển chủ nghĩa Mác-Lenin, góp phần quan trọng vào
việc hoàn chỉnh đường lối cách mạng giải phóng dân tộc
Quan điểm của Nguyễn Ái Quốc về cách mạng giải phóng dân tộc ỏ thuộc địa có
thể nổ ra thắng lợi trước cách mạng vô sản ở chính quốc và giúp đõ cách mạng ở
chính quốc trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa tư bản.
Người nhận thức được rằng cách mạng giải phóng dân tộc là một bộ phận khăng
khít của cách mạng vô sản trong phạm vi toàn thế giới và thuộc địa là một khâu
yếu trong hệ thống đế quốc chủ nghĩa
sai lầm trên và vạch ra phương hướng đúng đắn về công tác đảng.
12
Đảng , chủ tịch Hồ Chí Minh đã đánh giá đúng vai trò của các giai cấp đặc biệt là
giai cấp tu sản dân tộc, từ đó xây dựng được khối đại đoàn kết dân ttojc phát huy
vai trò của tùng giai cấp trong xã hội.
b.Nguyễn Ái Quốc lên án chủ nghĩa thực dân , giác ngộ chính trị cho quần chúng
bị áp bức và đưa hộ vào chiến tranh cách mạng.
Sau cách mạng tháng mười Nga , không phải tất cả những người cách mạng yêu
nước đều hiểu được đầy đủ khẩu hiệu chiến lược của Quốc tế Cộng sản nên cách
mạng ở chính quốc thờ ơ hoặc bị lãng quên .
Nguyễn Ái Quốc đã phê phán tình trạng này.trong nhiều bài báo Người đã tố cáo
mạnh nhất chế độ thực dân Pháp trên lãnh thổ hải ngoại rộng lớn .Ngoài ra, ngòi
bút của người còn lên án đế quốc Anh, một cường quốc tư bản có nhiều thuộc địa
nhất thời đó , cả đế quốc Đức, Nhật Bản trong âm mưu thôn tính và nô dịc Trung
Quốc .Không chỉ các dân tộc bị áp bức , bị buộc làm thuộc địa mà cả đối với
những người da đen sống trên đất Mỹ đều bị mất tự do . Ách áp bức của đế quốc
thực dân không từ một chủng tộc nào .
Với chính sách kẻ cướp của thực dân Anh, Nguyễn Ái Quốc chỉ rõ “chủ nghĩa tư
bản Anh, tuy them muốn của cải vô tận của Trung Quốc …Ngày nay, đối với họ
như thế không đủ nữa . Họ muốn làm hơn thế nữa kia, họ muốn chiếm cả Trung
Quốc làm thuộc địa .”
Với chế độ phân biệt chủng tộc của đế quốc Mỹ, người vạch rõg “Ai cũng biết
giống người da đen là giống người bị áp bức và bóc lột nặng nề nhất trong loài
người . Ai cũng biết sự bành trướng của chủ nghĩa tư bản và việc tìm ra tân thế giới
đã mang lại hậu quả trực tiếp là làm sống lại chế độ nô lệ …Điều mà mọi người có
lẽ không biết là người da đen châu Mỹ , tiếng rằng đã được giải phóng 65 năm
nay , nhưng vẫn còn phải chụi nhiều nỗi thống khổ gê gớm về tinh thần và vật chất
, mà tàn ác nhất và gê tởm nhất là tục hành trình kiểu Lin sơ.
Người đã vạch rõ bản chất của chủ nghĩa thực dân đế quốc để tất cả những người
dân ở các nước thuộc địa mà đặc biệt là người dân Việt Nam. Từ đó họ được giác
lãnh đạo của Đảng đấu tranh vì độc lập dân tộc với những hình thức phong phú .
Đó là một đóng góp to lớn của Nguyễn Ái Quốc và Đảng ta cho sách lược mặt trận
nhân dân của Quốc tế Cộng sản.
14
2.Về mặt thục tiễn.
a. Sản sinh ra chiến sĩ ưu tú , góp phần phát triển cách mạng Việt Nam và phát
triển cách mạng thế giới.
Đảng ta trong qúa trình hoạt động đã đóng góp cho Quốc tế Cộng sản nhiều cán bộ
mẫu mực,cống hiến trọn đời cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc Việt Nam và
cho phong trào cộng sản và công nhân quốc tế.Hồ Chí Minh là người tiêu
biểu.Người không chỉ là vị anh hùng,nhà văn hóa lớn của độc lập dân tộc Việt
Nam,mà còn là lãnh tụ xuất xắc của phong trào giải phóng dân tộc,chiến sĩ lỗi lạc
của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế.Người đã tham gia sang lập Đảng
cộng sản pháp.Ngay từ năm 1920,Người đã tích cực đấu tranh cho quyền lợi của
nhân dân thuộc địa trên thế giới,đặc biệt là Việt Nam.
Năm 1921 người đã tham gia sang lập hội liên hiệp thuộc địa và gia tờ báo Người
cùng khổ.Báo người cùng khổ đã thực hiện sứ mệnh lịch sử,là tố cáo những thủ
đoạn áp bức, bóc lột tàn bạo của chủ nghĩa thực dân các nước thuộc địa, góp phần
tuyên truyền chủ nghĩa Mác-Lenin, thức tỉnh các dân tộc bị áp bức vùng lên đấu
tranh theo con đường của cách mạng vô sản để xóa bỏ chế độ thuộc địa.
Những năm sau này với cương vị là ủy viên ban Phương Đông của Quốc tế Cộng
sản và ủy viên chủ tịch Ban chấp hành Quốc tế Nông dân phụ trách phong trào
nông dân ở nhiều nước châu Á. Người đã áp dụng một cách sang tạo chủ nghĩa
Mác-Lenin và đường lối của Quốc tế Cộng sản vào ddiiefu kiện cụ thể của từng
khu vực này nói chung và của mỗi nước nói riêng. Góp phầ xây dựng các chính
đảng của cách mạng của giai cấp công nhân ở các nước này.
Cùng với việc đào tạo đội ngũ cán bộ đầu tiên của cách mạng Đông Dương .
Người còn tham gia đào tạo đội ngũ cán bộ cho một số nước ở Đông Nam Á.
Người xây dựng và củng cố hệ thống giao thong liên lạc quốc tế phục vụ đắc lực
nhiệm vụ lãnh đạo phong trào cách mạng của khu vực này.
Thời kì 1936-1939 và tiếp theo những thắng lợi đó là thắng lợi cuộc cách mạng
tháng 8-1945 đã để lại những kinh nghiệm lịch sử góp phần làm phong phú kho
tang lý luận về cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân là:Trong thời đại ngày
nay,một cuộc cách mạng dân tộc dân chủ ở một nước thuộc địa do tòa dân nổi dậy
dưới sự lãnh đạo của Đảng Mác-Lê nin… Cuộc cách mạng ấy có thể thành công
trước khi giai cấp công nhân ở chính quốc giành được chính quyền. Đó là tư tưởng
16
đứng đắn của Nguyễn Ái Quốc về khả năng cách mạng giải phóng dân tộc có thể
giành thắng lợi trước cách mạng vô sản ở chính quốc .
Bằng cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, Đảng ta đã đóng góp về mặt thực tiễn ,
kinh nghiệm cho phong trào công sản và công nhân quốc tế. Đảng ta đã lãnh đạo
nhân dân nêu một mẫu mực về tổ chức và tinh thần quật khởi của một dân tộc anh
hùng. Trong quá trình cách mạng Đảng đã giải quyết thành công mối quan hệ dân
tộc và giai cấp. Hai nhiệm vụ chống đế quốc và chống phong kiến phải song song
với nhau. Đảng ta đã nhạy bén nhận thức được điều đó , ngay từ khi thành lập
Đảng xác định muốn thắng lợi thì phải dung đạo đức cách mạng chứ không phải
chỉ đấu tranh bằng nghị trường . Bạo lực cách mạng ở đây được hiểu là kết hợp
đấu tranh vũ trang với đấu tranh chính trị.
3.Bài học kinh nghiệm.
Trong mối quan hệ khăng khít giữa cách mạng Việt Nam và Quốc tế Cộng sản có
mối quan hệ hai chiều. Quốc tế Cộng sản đóng vai trò quan trọng đối với cách
mạng Việt Nam và ngược lại nhờ quá trình hoạt động thưc tiễn nhờ lý luận sáng
tạo mà cách mạng Việt Nam có những những đóng góp to lớn đối với Quốc tế
Cộng sản. Từ mối quan hệ đó có thể rút ra những bài học như sau:
a.Phải vận dụng một cách sang tạo chủ nghĩa Mác-Lê nin vào điều kiện cụ thể của
Việt Nam.
Thực tiễn cách mạng nước ta chỉ ra rằng nếu áp dụng lý luận cách mạng một cách
máy móc, giáo điều thì sẽ gặp nhiều khó khăn và dẫn đến sai lầm , hoặc có thể bị
thất bại.
Sau khi thành lập Đảng, do áp dụng một cách giáo điều quan điểm "tả" khuynh
chủ nhân dân và trong cách mạng xã hội chủ nghĩa cũng vậy, chúng ta khôg thể
thực hiện cách mạng thành công nếu không có quan hệ quốc tế.
Trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, Đảng ta đã có mối quan hệ chặt chẽ
với cách mạng thế giới. Khi chưa có Đảng, ảnh hưởng của cách mạng Tháng Mười
của Quốc tế Cộng sản đã tác động trực tiếp đến những người yêu nước Việt Nam.
Từ khi Đảng ta ra đời đén năm 1943, Đảng ta là một bộ phận của Quốc tế Cộng
sản, chịu sự lãnh đạo trực tiếp, cũng như sự ủng hộ, giúp đỡ của tổ chức cách mạng
18
quốc tế này. Thời kỳ cao trào cách mạng 1930 - 1931, cách mạng nước ta tạm thời
thoái trào. Nếu không có sự giúp đỡ trực tiếp của Quốc tế Cộng sản, của các đảng
cộng sản anh em về mọi phương diện thì cách mạng nước ta khó có thể khôi phục
nhanh chóng như vậy được.
Cách mạng Tháng Tám thành công còn có một nguyên nhân khách quan vô
cùng quan trong là chiến thắng của Liên Xô và phe dân chủ đối với bọn phát xít và
quân phiệt. Hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ của nhân dân ta giành
thắng lợi một phần vì được ủng hộ tinh thần, vật chất vô cùng lớn lao của quốc tế.
Ngày nay mục tiêu cách mạng của nước ta đặt ra là phải xây dựng thành công
chủ nghĩa xã hội thì cách mnagj nước ta cần có mối quan hệ quốc tế rộng rãi.
Trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hôi, chúng ta cần có mối quan hệ đa
phương hóa, đa dạng hóa. Trong mối quan hệ đó, chúng ta có điều kiện học tập
kinh nghiệm của các nước, có điều kiện sử duungj điều kiện sử dụng các thnahf
quả của cách mnagj khoa học - kĩ thuật vào công cuộc xây dựng đất nước
c. Công tác đào tạo, giáo dục đội ngũ cán bộ là một nhiệm vụ quan trọng.
Quốc tế Cộng sản đã đào tạo cho Việt Nam một đội ngũ cán bộ nắm được
nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin và biết vận dụng vào điều kiện cụ thể
của Việt Nam. Đội ngũ cán bộ đó lại được tôi luyện trong cuộc đấu tranh vô cùng
gian khổ, có phẩm chất đạo đực cách mạng, sẵn sàng hy sinh vì độc lập tự do của
dân tộc.
Ngày nay khi Đảng ta đang lãnh đạo thục hiện công cuộc công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước thì vấn đề đào tạo, giáo dục cán bộ ngày càng quan trọng. Những