LUẬN VĂN:
Những tác động của Quốc tế Cộng
sản đến Cách mạng Việt Nam I. phần mở đầu
yêu cầu khách quan cần tìm hiểu những tác động của quốc tế cộng sản đến cách
mạng nước ta
Trong môn học Quan hệ quốc tế, dành cho các học viên hệ Cao học Chính trị học
thuộc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí
Minh, có rất nhiều vấn đề đáng quan tâm, cần tìm hiểu sâu rộng. Song, do đặc trưng và
phương pháp tiếp cận của chuyên ngành quy định, trong Tiểu luận này, chúng tôi chỉ đề
cập đến một vấn đề quan trọng, dù đã thuộc về quá khứ, nhưng vẫn nguyên những giá trị
thời sự chính trị - xã hội, nếu đặt trong mối quan hệ mọi cuộc cách mạng trong thế giới
II. phần nội dung
Chương 1
quá trình ra đời, hoạt động và những đặc điểm
nổi bật của quốc tế cộng sản
Như chúng ta biết, cụm từ "Quốc tế Cộng sản" chính là để chỉ, biểu thị tổ chức
"Quốc tế III" - một tổ chức quốc tế của những người cộng sản trên toàn thế giới, đã tồn
tại từ năm 1919 đến năm 1943, với tư cách là "Hiệp sĩ của các dân tộc bị áp bức", giúp đỡ
phong trào công nhân quốc tế, phong trào cách mạng thế giới và trực tiếp hỗ trợ các
chính đảng vô sản ở các nước thuộc địa.
Sự ra đời của Quốc tế Cộng sản là một tất yếu khách quan, xuất phát từ yêu cầu -
lịch sử giai cấp vô sản và các dân tộc bộ áp bức trên toàn thế giới phải đoàn kết lại, tập
hợp trong một tổ chức thống nhất, để chống kẻ thù chung là giai cấp tư sản, các thế lực đế
quốc và thực dân.
Trước khi đề cập về sự xuất hiện của Quốc tế Cộng sản (tức Quốc tế III), cũng vẫn
nhắc lại đôi nét về quá khứ của cách mạng vô sản thế giới, nhất là nói về các tổ chức
cộng sản quốc tế trước Quốc tế Cộng sản. Chủ nghĩa Mác thật sự định hình vững chắc,
trở thành "bóng ma ám ảnh châu Âu và toàn nhân loại" (!) bắt đầu từ 1848, khi mà Tuy
ngôn Cộng sản của K.Mác và ăng-ghen ra đời. Sau đó không lâu để biến lý tưởng cao
đẹp của mình thành hiện thực, Mác và ăng-ghen đã nhanh chóng thành lập tổ chức Liên
minh Công nhân quốc tế, về sau được gọi là Quốc tế I, nhằm tập hợp, đoàn kết giai cấp
vô sản trên toàn thế giới, trước hết là ở châu Âu. Tổ chức này tồn tại được 8 năm, từ 1864
đến 1872. Sau Công xã Pari 1871 khoảng một năm, do bị kẻ thù đàn áp, tổ chức này đã
phải tự giải tán. Dù tồn tại không lâu, nhưng Quốc tế I đã đóng vai trò lịch sử tích cực,
tuyên truyền Học thuyết của K.Mác và ăng-ghen vào Phong trào công nhân, làm cho giai
cấp công nhân ý thức được vai trò, sứ mệnh lịch sử của mình trước vận mệnh tất yếu phải
đi lên của nhân loại. Tiếp đó sau khi K.Mác qua đời, ăng-ghen nhận thấy cần đưa Học
tế Cộng sản. Sau khi chuẩn bị kỹ về đường lối chính trị, tư tưởng và tổ chức, ngày
1/3/1919, tại Mát-xcơ-va (Nga), Lênin đã chủ trì họp, để chuẩn bị về mọi mặt cho
Chương trình làm việc của Hội nghị quốc tế những người cộng sản và công nhân trên
toàn thế giới, nhằm thành lập Quốc tế Cộng sản.
Khác với các Hội nghị thành lập Quốc tế I và Quốc tế II, Hội nghị thành lập Quốc
tế Cộng sản bắt đầu diễn ra vào chiều ngày 2/3/1919, lần đầu đã có đại biểu một số nước
phương Đông, đại diện cho các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa. Tham gia Đại biểu
của các đảng cộng sản và các tổ chức cách mạng của 30 nước có mặt trong Hội nghị
thành lập này, đã thông qua nhiều văn kiện quan trọng, như Cương lĩnh của Quốc tế
Cộng sản, Luận cương và Báo cáo về dân chủ tư sản và chuyên chính vô sản, Tuyên ngôn
của Quốc tế Cộng sản gửi những người vô sản toàn thế giới. Quyết định thành lập Quốc
tế Cộng sản (ngày 4/3/1919) ghi rõ: "Hội nghị cộng sản quốc tế quyết định thành lập
Quốc tế III và thông qua tên gọi là Quốc tế Cộng sản ( ). Tất cả các Đảng, các tổ chức
và các nhóm trong thời gian 8 tháng có quyền tuyên bố dứt khoát về việc tham gia vào
Quốc tế III"
Quốc tế Cộng sản đã tồn tại 24 năm 2 tháng 11 ngày (tính từ ngày thành lập
4/3/1919 đến khi tuyên bố tự giải thể vào ngày 15/5/1943) và trải qua 7 kỳ Đại hội. Đại
hội I, từ ngày 2 đến ngày 6/3/1919. Đại hội II, từ ngày 19/7 đến ngày 7/8/1920. Đại hội
III, từ ngày 22/6 đến ngày 12/7/1921. Đại hội IV, từ ngày 5/11 đến ngày 5/12/1922. Từ
Đại hội V khoảng cách giữa các kỳ Đại hội doãng xa dần. Đại hội V, từ ngày 17/6 đến
ngày 8/7/1924. Đại hội VI, từ ngày 17/7 đến 1/9/1928. Đại hội VIII, từ ngày 25/7 đến
20/8/1935. Đây là Đại hội cuối cùng.
Quốc tế III (tức Quốc tế Cộng sản) đã để lại những dấu ấn - đặc điểm nổi bật. Một
là, Quốc tế Cộng sản đã trở thành một tổ chức quốc tế rộng lớn hơn so với các tổ chức
tương tự trước nó và có sự tham gia của các tổ chức, các đảng cộng sản và công nhân ở
các nước thuộc địa và phụ thuộc vào công việc chung của phong trào cộng sản, công
nhân, phong trào giải phóng dân tộc trên toàn thế giới. Nếu trong Quốc tế I và Quốc tế II
(1928) và Đại hội VII vào năm 1935). Trong đó, Nguyễn ái Quốc và Lê Hồng Phong,
bằng tài năng của chính mình, đã nổi bật dần lên giữa chính trường chính trị vô sản thế
giới, chứng minh thêm năng lực xuất chúng trên cương vị chính trị - xã hội là các lãnh tụ
của Đảng ta. Đáng chú ý thêm là ở Đại hội VII, Đảng Cộng sản Đông Dương đã tham dự
với tư cách là một độc lập trực thuộc Quốc tế Cộng sản. Và, trong số 46 uỷ viên chính
thức được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Quốc tế Cộng sản đại diện cho 23 nước
trên thế giới; thì Lê Hồng Phong là một trong hai uỷ viên chính thức của các nước thuộc
địa (cùng với một đại biểu khác của Palextin).
Chương 2
vấn đề dân tộc và thuộc địa đặt ra trong
Quốc tế Cộng sản
Trong Quốc tế I và Quốc tế II, do tầm nhìn hạn chế, có tính lịch sử - cụ thể, chỉ
nhận ra vai trò của các Đảng Cộng sản, các tổ chức cách mạng khác ở các nước tư bản
phát triển - chính quốc, nên chưa hề có vai trò của các Đảng Cộng sản, các tổ chức cách
mạng ở các nước thuộc địa - phụ thuộc. Quốc tế Cộng sản (Quốc tế III) đã khắc phục
được nhận thức phiến diện ấy trong quá khứ và xác định đúng đắn vấn đề dân tộc, thuộc
địa; nhấn mạnh cách mạng giải phóng dân tộc là một bộ phận không thể tách rời của cách
mạng vô sản thế giới (bắt đầu từ Đại hội lần thứ II). Luận điểm này, vấn đề này có ý
nghĩa vô cùng lớn lao không chỉ đối với phong trào cách mạng giải phóng dân tộc nói
chung; mà đặc biệt có ý nghĩa thức tỉnh, định hướng đối với cách mạng Việt Nam. Qua
đó, cũng đã chỉ ra mối liên hệ tất yếu, bên trong của các bộ phận cấu thành nên cách
mạng vô sản toàn thế giới. Khách quan, còn biểu hiện và thể hiện được sức mạnh nội lực
bước đầu của cách mạng vô sản thế giới trước các thế lực thù địch của giai cấp tư sản, bắt
buộc chúng thực hiện sự áp bức, bóc lột ở đâu trên trái đất này.
Vấn đề dân tộc và thuộc địa đặt ra trong Quốc tế Cộng sản còn cho thấy đây là
một quá trình đấu tranh lâu dài, để đạt được đường lối đúng đắn. Sau khi V.I.Lênin qua
có ý nghĩa về mặt lý luận đối với Cách mạng vô sản thế giới.
Tóm lại, vấn đề dân tộc và thuộc địa đặt ra trong Quốc tế Cộng sản không chỉ có ý
nghĩa là vấn đề lý luận trong nội bộ tổ chức này; mà còn có tác dụng tích cực và thiết
thực đối với Cách mạng Việt Nam
Chương 3
những tác động tích cực của Quốc tế Cộng sản đến cách mạng Việt Nam
Quốc tế Cộng sản (Quốc tế III) đã có những đóng góp to lớn đối với tiến trình phát
triển buổi đầu của Cách mạng Việt Nam. Chí ít, sự tác động tích cực này được thể hiện
trên 5 điểm chủ yếu, chúng tôi sẽ lần lượt trình bày tiếp dưới đây.
Thứ nhất, việc Quốc tế Cộng sản xác định đúng vấn đề dân tộc - thuộc địa đã định
hướng sáng tỏ cho con đường cứu nước, giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam. Như
ở các chương trên đã phần nào đề cập, việc Quốc tế Cộng sản xác định đúng vấn đề dân
tộc, thuộc địa; bổ sung khẩu hiệu của K.Mác và F.ăng-ghen đề ra trong Tuyên ngôn của
Đảng Cộng sản "Vô sản tất cả các nước và các dân tộc bị áp bức đoàn kết lại"; thông qua
Sơ thảo lần thứ nhất Luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa do V.Lê-nin khởi
thảo và các "Điều kiện gia nhập Quốc tế Cộng sản"; coi cách mạng giải phóng dân tộc là
một bộ phận không thể tách rời của cách mạng vô sản tại Đại hội làn thứ II của Quốc tế
Cộng sản đã có một ý nghĩa to lớn đối với phong trào cách mạng toàn thế giới, đặc biệt
có ý nghĩa dẫn đường, định hướng, thức tỉnh đối với Cách mạng Việt Nam - nhất là đặt
trong bối cảnh lúc đó ở nước ta có rất nhiều xu hướng cách mạng, nhiều học thuyết cách
mạng tràn vào và thực tiễn cách mạng thì vẫn trong trạng thái "bế tắc như không có
đường ra".
Trước khi Quốc tế Cộng sản thành lập (1919), phong trào cách mạng giải phóng
dân tộc Việt Nam đã phát triển mạnh. Hàng loạt nhân sĩ, trí thức; nhiều sĩ phu phong kiến
yêu nước đã anh dũng, mưu lược tập hợp lực lượng trong nước đứng lên đấu tranh chống
Pháp; hoặc cố đi ra nước ngoài "cầu viện", tìm cách chống lại chúng và bè lũ tay sai.
hiện lâu dài, phải có những điều kiện, bước đi, biện pháp cụ thể. Quốc tế Cộng sản đã tạo
ra môi trường hoạt động quốc tế thuận lợi giúp đỡ Nguyễn ái Quốc và những người yêu
nước Việt Nam trong việc truyền bá Chủ nghĩa Mác - Lênin vào phong trào công nhân và
phong trào yêu nước, nghiên cứu khảo sát thực tế, học tập kinh nghiệm của các đảng, các
phong trào, tạo diễn đàn đấu tranh để các đảng cộng sản ở chính quốc quan tâm đúng
mức đến việc giúp đỡ cách mạng thuộc địa. Quốc tế Cộng sản đã giao nhiệm vụ cho các
Đảng Cộng sản Pháp, Trung Quốc ấn Độ, Nhật Bản, Tiệp Khắc giúp đỡ in ấn tài liệu,
chuyển tài liệu về Việt Nam. Tổ chức nhiều lớp học ở Trường Đại học phương Đông và
các lớp ở Quảng Châu để bồi dưỡng, đào tạo cán bộ cho phong trào. Chính nhờ sự giúp
đỡ của Quốc tế Cộng sản thông qua các phân bộ của mình, phong trào công nhân và
phong trào yêu nước v thông qua các phân bộ của mình, phong trào công nhân và phong
trào yêu nước Việt Nam có một bước chuyển biến căn bản từ tự phát sang tự giác, từ lẻ tẻ
rời rạc đi đến có tổ chức để thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam vào tháng 2 năm 1930,
đánh dấu một bước ngoặt lịch sử trọng đại trong lịch sử cách mạng hiện đại Việt Nam.
Thiếu sự giúp đỡ của Quốc tế Cộng sản hoặc trực tiếp hoặc thông qua các chi bộ của
mình Chủ nghĩa Mác - Lênin khó có thể được truyền bá vào phong trào cộng sản và công
nhân ở Đông Dương nói chung và Việt Nam nói riêng. Những tác phẩm cơ bản nhất như
"Cộng sản sơ giải", "Bệnh ấu trĩ tả khuynh", "Hai sách lược của Đảng Công nhân Nga
trong cách mạng dân chủ tư sản", "Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản" khó có thể vượt qua
hàng rào kiểm soát của Chủ nghĩa thực dân Pháp. Nhờ có việc thâm nhập lý luận Mác -
Lênin vào phong trào công nhân và phong trào yêu nước, Cách mạng Việt Nam đã có
bước nhảy vọt về chất tạo ra những tiền đề cho việc chuẩn bị thành lập đảng mác-xít,
lãnh đạo cuộc cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam.
Thứ ba, Quốc tế Cộng sản đã tạo môi trường, điều kiện cho Nguyễn ái Quốc học
tập, nghiên cứu Chủ nghĩa Mác - Lênin, khảo sát thực tế để xây dựng và hoàn thiện lý
luận về con đường Cách mạng Việt Nam
Nhờ hoạt động thực tiễn trong phong trào cộng sản, công nhân quốc tế và trong
- Trong 10 năm đầu thành lập Đảng, các chức vụ chủ chốt trong Đảng như Tổng
Bí thư, Bí thư các Xứ uỷ, Tỉnh uỷ hầu hết là do cán bộ được đào luyện từ Quốc tế Cộng
sản đảm đương. Chính vì vậy các chủ trương của Quốc tế Cộng sản được thực hiện có
hiệu quả ở Đông Dương. Nhờ đó cho dù lịch sử có những biến động, những đổi thay ở
mỗi giai đoạn cụ thể có thể khác nhau tác động đến sự cần thiết phải có sự điều chỉnh về
đường lối nhưng nhìn chung đường lối chiến lược và sách lược mà Đảng ta đề ra ngay từ
thời kỳ xây dựng Đảng là đúng đắn và chính xác. Điều đó có được chỉ có thể cắt nghĩa do
sự trưởng thành của cán bộ đảng viên Việt Nam được đào tạo trách nhiệm cao trong
Quốc tế Cộng sản. Nhiều đồng chí trở thành cán bộ giảng dạy lý luận của Quốc tế Cộng
sản. Theo số liệu mới nhát, chỉ trong thời gian 10 năm tồn tại của Trường Lao động Cộng
sản Phương Đông (1921-1931), Quốc tế Cộng sản đã đào tạo cho Đảng ta gần 100 cán bộ
mà đại đa số các đồng chí này khi về nước nắm giữ các cương vị lãnh đạo chủ chốt của
Đảng, lãnh đạo phong trào cách mạng từ cấp trung ương đến các Xứ uỷ, Thành uỷ, Tỉnh
uỷ.
Thứ năm, Quốc tế Cộng sản đã chỉ đạo, uốn nắn và biểu dương kịp thời đối với
Đảng ta trong quá trình lãnh đạo cách mạng
Trong thời kỳ tồn tại của mình, Quốc tế Cộng sản thường xuyên chỉ đạo, uốn nắn
kịp thời những vấn đề thuộc về đường lối, những vấn đề về chiến lược và chỉ đạo chiến
lược dễ dẫn đến "tả" hoặc hữu khuynh trong thực hiện - một điều khó tránh khỏi với một
Đảng còn non trẻ. Quốc tế Cộng sản đã đúng đắn khi phê bình sự công kích lẫn nhau của
các tổ chức cộng sản và có chỉ thị cho Đảng về sự cần thiết phải hợp nhất Đảng theo
đúng nguyên tắc của Quốc tế Cộng sản. Quốc tế Cộng sản cũng phê bình những biểu hiện
"tả" khuynh trong Xô-viết Nghệ An và Xô-viết Hà Tĩnh cùng với một vài biểu hiện hữu
khuynh, cầu an, dao động sau thất bại của phong trào. Với thái độ Bôn-sơ-vích và tính
nhân đạo cộng sản, thái độ phê bình và chỉ trích, của Quốc tế Cộng sản là có tình có lý.
Quốc tế Cộng sản vẫn biểu dương mặt tốt và thấy rõ cả những sai lầm khó tránh khỏi của
mt Đảng còn trẻ tuổi. Thái độ này giúp cho những người cộng sản Việt Nam đứng vững
những người Cộng sản Đông Dương hiểu rõ đường lối của Quốc tế Cộng sản cùng những
phương pháp hoạt động khôn khéo để tập hợp lại thợ thuyền làm đội tiền phong cho cách
mạng Đông Dương. Sự hy sinh của Tổng Bí thư Trần Phú được Quốc tế Cộng sản đánh
giá là một tổn thất to lớn không gì bù đắp được của giai cấp vô sản Đông Dương mà còn
là một tổn thất nặng nề của phong trào cộng sản quốc tế.
Chính sự ủng hộ mạnh mẽ, sự đồng tình biểu dương Đảng Cộng sản Đông Dương
của Quốc tế Cộng sản mà nhiều Đảng, nhiều phong trào trên thế giới biết đến Đông
Dương, Việt Nam, kính trọng hoạt động của Đảng ta và Nguyễn ái Quốc. Quốc tế Cộng
sản đã công nhận Đảng Cộng sản Đông Dương trở thành đội tiền phong của giai cấp vô
sản Đông Dương đi theo đường lối của Quốc tế Cộng sản, trực tiếp lãnh đạo thợ thuyền,
dân cày và lao động nghèo khổ xứ Đông Dương, kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa
đế quốc. Đó là biểu hiện của Đảng Bôn-sơ-vích, Quốc tế Cộng sản công nhận Đảng Cộng
sản Đông Dương là một bộ phận chính thức của Quốc tế Cộng sản tại Đại hội VII và bầu
đồng chí Lê Hồng Phong là uỷ viên chính thức và là một trong hai uỷ viên Ban Chấp
hành Quốc tế Cộng sản là người các nước thuộc địa.
Chương 4
một số hạn chế trong mối quan hệ giữa quốc tế
cộng sản với cách mạng Việt Nam
Mặc dù có những ảnh hưởng tích cực, quan trọng như đã nêu rõ ở chương 3, trong
quá trình tồn tại hoạt động và chỉ đạo của mình, Quốc tế Cộng sản cũng có một số ảnh
hưởng không thật tốt, thậm chí đôi khi là kìm hãm đối với Cách mạng Việt Nam. Đó là
những biểu hiện giáo điều trong đánh giá về giai cấp tư sản nói chung và giai cấp tư sản
dân tộc ở các thuộc địa nói riêng của Quốc tế Cộng sản ở Đại hội lần thứ VI (1928). Đây
thực chất là đường lối giai cấp chống giai cấp, tuyệt đối hoá đấu tranh giai cấp tồn lưu
trong tư duy chính trị lúc bấy giờ của Quốc tế Cộng sản.
Từ chỗ nhận định về sự phản bội của giai cấp tư sản trên phạm vi toàn thế giới,
gia trong cuộc kịch chiến với đế quốc Pháp. Và, do đó, đã mở đường cho mọi thắng lợi
của cách mạng nước ta.
Quốc tế Cộng sản tuy có nêu trong Cương lĩnh của mình, trong các chương trình
nghị sự rằng đặt vấn đề cách mạng thuộc địa là một trọng tâm; nhưng trên thực tế, chưa
coi trọng đúng mức mặt công tác này. Các Cương lĩnh, các chương trình còn nằm trên
giấy trong khi các phân bộ thuộc các nước chính quốc ít quan tâm giúp đỡ thuộc địa. Một
trong nhiều nguyên nhân là Quốc tế Cộng sản cho rằng cách mạng vô sản chính quốc
thắng lợi trước, mới giúp được cho cách mạng thuộc địa thắng lợi. Rõ ràng, Quốc tế
Cộng sản mới chỉ thấy mối liên hệ một chiều, sự chi phối của cách mạng vô sản chính
quốc đến cách mạng thuộc địa; mà chưa thấy mối quan hệ biện chứng, chiều ngược lại,
mà Nguyễn ái Quốc đã dự báo và vận dụng thành công. Tư tưởng này đã làm cho không
ít đảng cộng sản, công nhân ở các nước thụ động, ỷ lại, trông chờ vào Quốc tế Cộng sản.
Trong bối cảnh đấu tranh bảo vệ Học thuyết Mác - Lênin, sau thắng lợi của Cách
mạng tháng Mười Nga, Quốc tế Cộng sản ra đời là một tổ chức quốc tế giúp cho các đảng
cộng sản các phong trào cách mạng là cần thiết. Nhưng là một tổ chức chính trị của các
đảng, do áp dụng cơ chế tập trung dân chủ một cách máy móc, trong khi phong trào cộng
sản, công nhân quốc tế có những diễn biến không giống nhau, việc nắm thông tin, hiểu
biết thực tiễn còn có nơi, có lúc bất cập nên không tránh khỏi có lúc cứng nhắc, chưa sát
thực tế. Đối với Đảng Cộng sản Việt Nam và phong trào cách mạng Việt Nam cũng có
những biểu hiện khó tránh khỏi này. Việc Quốc tế Cộng sản chỉ thị đổi tên Đảng Cộng
sản Việt Nam thành Đảng Cộng sản Đông Dương, việc quyết định cử một số cán bộ vào
các chức vụ lãnh đạo trong cơ quan lãnh đạo của Đảng và việc phê bình Nguyễn ái Quốc
thời gian từ 1931-1938 có thể xem như là những hạn chế ảnh hưởng nhất định đến phong
trào cách mạng Đông Dương. Những hạn chế của Quốc tế Cộng sản với Cách mạng Việt
Nam là điều dễ hiểu và có những hoàn cảnh lịch sử cụ thể cần phải gắn vào bối cảnh lịch
sử để có sự đánh giá cho đúng đắn.
mạng Việt Nam không chỉ có ý nghĩa khảo đính lại lịch trình phát triển của cách mạng
thế giới, Cách mạng Việt Nam; mà còn cho phép rút ra nhiều bài học quý, những kinh
nghiệm đáng tham khảo, để uốn nắn đường hướng phát triển Cách mạng Việt Nam trong
tương lai. Đó là: Phải có sự độc lập - sáng tạo khi tiếp thu một cách có chọn lọc, phù hợp
với thực tiễn xã hội Việt Nam. Trước những luận điểm về đánh giá giai cấp, thực lực, lực
lượng của cách mạng; thì cũng cần phải có tầm nhìn chiến lược, cân nhắc thấu đáo và
tỉnh táo khắc phục nhanh khuyết điểm, lệch lạc, nếu đã lỡ nhận thức lệch lạc, giáo điều.
Mặt khác, trong Đổi mới, đất nước ta ngày càng hội nhập sâu rộng hơn vào môi trường
kinh tế và chính trị quốc tế; do vậy, từ trong mối quan hệ đang đề cập, chúng ta còn có
thể nhận ra những mặt mạnh và mặt yếu trong quá trình mới mẻ này. Nghĩa là, phải thận
trọng khi tiếp thu cái mới, bởi cái mới chưa hẳn đã tốt. Song, khi đã chắc chắn là tốt, thì
phải nhanh chóng vận dụng, chớp bắt thời cơ, nâng cao sức mạnh và tính hiệu quả. Đây
là vấn đề phương pháp luận - nhận thức có ý nghĩa thời sự - chính trị hiện nay đối với sự
phát triển nhanh và bền vững của đất nước ta
Vậy là, tuy vấn đề "Những tác động của Quốc tế Cộng sản đến Cách mạng Việt
Nam" không hẳn là một chuyên luận hoàn toàn mới; nhưng bằng quá trình tìm hiểu -
nghiên cứu nghiêm túc; chúng ta đã nâng cao thêm đáng kể những nhận thức về mối quan
hệ lịch sử - chính trị này.
Trong bối cảnh mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng ta - Đảng Cộng sản Việt Nam -
đất nước ta đang nỗ lực vươn lên trên con đường xây dựng CNXH, nhanh chóng công
nghiệp hoá, hiện đại hoá, "đưa nước ta sớm ra khỏi tình trạng kém phát triển" như Văn
kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X (2006) đã xác định; thì chuyên luận này càng
có ý nghĩa sâu sắc và thiết thực, nhất là về mặt nhận thức luận đối với học viên hệ Cao
học Chính trị học đang gắn bó hằng ngày với thực tiễn Đổi mới của Cách mạng Việt
Nam.