Luận văn thạc sĩ kinh tÕ
ĐÒ tài: Nâng cao chất lượng sản phẩm dÞch vụ tư vấn lập DA ĐT XD
Học viên: Vò ThÞ KiÒu Bắc; GV hướng dẫn: GVC.TS Đặng Văn Dựa
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÂY DỰNG
VŨ THỊ KIỀU BẮC
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM DỊCH VỤ TƯ VẤN
LẬP DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG
Chuyên ngành: Kinh tế xây dựng
Mã số: 60.31.09
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN: GVT.TS ĐẶNG VĂN DỰA
Hà Nội 2009
Luận văn thạc sĩ kinh tÕ
PHẦN MỞ ĐẦU
1. SỰ CẦN THIẾT CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Trong sự phát triển của xã hội, đầu tư là một vấn đề tất yếu. Những chỉ số
tăng trưởng, hệ số sử dụng vốn, chỉ số gia tăng tốc độ ĐT, số vốn ĐT hàng năm cùng
với số lượng số dự án đầu tư được nhìn nhận xem như để đánh giá mức độ tăng
trưởng của nền kinh tế. Nước ta, trung bình giai đoạn 2000-2008, tốc độ tăng trưởng
bình quân 7,5%, chỉ số ICOR 4,5%, tổng vốn đầu tư chiếm 33,5% GDP. Tính riêng
năm 2008, hệ số IOCR là xấp xỉ 7%, tổng vốn đầu tư toàn xã hội là 43,1% và mức
tăng trưởng là 6,23%. Nhìn lại số lượng dự án đầu tư xây dựng trong hơn 20 năm đổi
mới, ta thấy tốc độ XD phát triển rất mạnh với số vốn đầu tư xây dựng khổng lồ, đã
làm thay đổi bộ mặt đất nước, tạo nhiều công ăn việc làm cho người lao động, cải
thiện và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân, làm cho nền kinh tế nước
ta tăng trưởng không ngừng. Ngành xây dựng đã có những bước tiến bộ khá lớn
trong kỹ thuật, công nghệ. Nhiều cây cầu, đường giao thông, nhà máy hiện đại đã
hoàn thành với trí tuệ của đội ngũ kỹ sư, công nhân Việt Nam. Bình quân hàng năm
có trên 6000 dự án đầu tư xây dựng công trình được triển khai, trong đó dự án nhóm
A khoảng 5%, dự án nhóm B hơn 20%, nhóm C hơn 75% với quy mô đa dạng: Nhà
nghiệp, sáng tạo và trách nhiệm.
Hiện tại, chúng ta mới chú trọng tìm các giải pháp trong khâu thực hiện đầu
tư, xem các dự án đầu tư thất thoát vốn như thế nào mà chưa đánh giá đúng vai trò,
tầm quan trọng và tìm các giải pháp tháo gỡ để cải thiện tình trạng từ bước lập dự án
đầu tư, tiền đề của các quyết định đầu tư. Rất nhiều quyết định đầu tư không hợp lý,
đầu tư vào những lĩnh vực không hiệu quả làm lãng phí năng lực, nguồn lực, quá
trình thực hiện phải sửa đổi, điều chỉnh, kiểm soát đầu tư rất phức tạp, kém hiệu quả.
Trong quản lý nói chung cũng như quản lý đầu tư xây dựng nói riêng, để đạt được
hiệu quả, cần có một hướng đầu tư đúng đắn, kế hoạch hợp lý, chi tiết, tức là cần
quản lý tốt chất lượng từ khâu lập dự án đầu tư.
Dịch vụ tư vấn là một phần không thể thiếu của bất kỳ DA ĐT XD nào, vì sự
mang lại những hiệu quả to lớn về mặt kinh tế cũng như cung cấp một phương pháp
luận tiên tiến cho lý thuyết ĐT và quản lý. Để đảm bảo hiệu quả của DA ĐT thì việc
ĐÒ tài: Nâng cao chất lượng sản phẩm dÞch vụ tư vấn lập DA ĐT XD
Học viên: Vò ThÞ KiÒu Bắc; GV hướng dẫn: GVC.TS Đặng Văn Dựa
Luận văn thạc sĩ kinh tÕ
thừa nhận hiệu quả của dịch vụ tư vấn là một tất yếu khách quan, giúp các nhà lãnh
đạo, các nhà quản lý có một chính sách phù hợp để phát triển dịch vụ vấn.
Do vậy, việc nghiên cứu, tìm hiểu về dịch vụ tư vấn lập dự án đầu tư trên
phương diện khoa học và thực tiễn là rất cần thiết đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam
thời gian qua. Xuất phát từ tầm quan trọng của việc nghiên cứu nâng cao chất lượng
dịch vụ tư vấn lập dự án đầu tư xây dựng, tác giả chọn đề tài: Nâng cao chất lượng
sản phẩm dịch vụ tư vấn lập dự án đầu tư xây dựng với mong muốn từ việc làm sáng
tỏ lý luận về dịch vụ tư vấn lập dự án đầu tư xây dựng, phân tích những tồn tại, tìm
hiểu nguyên nhân từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm năng cao chất lượng sản
phẩm của dịch vụ này.
2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Hệ thống hoá và làm rõ các vấn đề cơ bản liên quan đến dịch vụ tư vấn lập dự
án đầu tư xây dựng.
Tìm ra những tồn tại, bất cập, nguyên nhân và biện pháp nâng cao chất lượng
Các phương pháp khác sử dụng trong quá trình nghiên cứu.
6. KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn bao gồm 3
chương:
Ch ương 1: Những vấn đề lý luận liên quan đến dịch vụ tư vấn lập dự án đầu tư xây
dựng - Vai trò và nội dung của dự án đầu tư xây dựng
Ch ương 2: Đánh giá tình hình thực tế về chất lượng sản phẩm dịch vụ tư vấn lập dự
án đầu tư xây dựng
Ch ư ơng 3: Một số giải pháp nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ tư vấn dự án
đầu tư xây dựng.
ĐÒ tài: Nâng cao chất lượng sản phẩm dÞch vụ tư vấn lập DA ĐT XD
Học viên: Vò ThÞ KiÒu Bắc; GV hướng dẫn: GVC.TS Đặng Văn Dựa
Luận văn thạc sĩ kinh tÕ
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN DỊCH VỤ TƯ VẤN LẬP DỰ
ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG - VAI TRÒ VÀ NỘI DUNG CỦA DỰ ÁN
ĐẦU TƯ XÂY DỰNG
1.1. DỊCH VỤ TƯ VẤN - TƯ VẤN LẬP DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG
1.1.1. Một số khái niệm
1.1.1.1. Tư vấn và dịch vụ tư vấn
a. Tư vấn
Theo nghiã rộng, với tư cách là một hoạt động hay một chức năng, tư vấn được
dùng để chỉ việc một tổ chức hay một cá nhân cung cấp lời khuyên hoặc cung cấp năng
lực giải quyết vấn đề cho người ra quyết định. Tư vấn có nhiều dạng, từ đơn giản đến
phức tạp và đề cập đến bất kỳ lĩnh vực hoạt động hay lợi ích nào của con người như sức
khoẻ, việc làm, ĐT, mua bán nhà đất, pháp lý, lập chính sách v.v..
Theo nghĩa hẹp, với tư cách là dịch vụ chuyên môn, tư vấn được dùng để chỉ việc
một tổ chức hay một cá nhân cung cấp dịch vụ cố vấn trên cơ sở hợp đồng cho khách
hàng, bán năng lực giải quyết vấn đề, hoặc tiến hành chuyển giao cho khách hàng các
thông tin, tri thức, giải pháp, kỹ năng đã được lựa chọn và xử lý thích nghi hoá cho từng
hàng là thước đo quan trọng nhất của chất lượng dịch vụ. Tuy nhiên, tư vấn là dịch vụ
“vô hình”, khách hàng chỉ có thể đánh giá được chất lượng dịch vụ sau khi nhà tư vấn đã
hoàn tất công việc. Do đó, trước khi ký hợp đồng, khách hàng luôn mong muốn xác định
cụ thể các sản phẩm đầu ra của dịch vụ tư vấn.
Sản phẩm tư vấn chỉ được định hình trong quá trình thực hiện và phụ thuộc rất
nhiều vào bản thân nhà tư vấn, do đó nó có sự rủi ro tương đối cao. Nhà tư vấn thường
cam kết với khách hàng về việc đảm bảo chất lượng sản phẩm qua việc thể hiện mình có
đủ kinh nghiệm, kỹ năng, nhân sự để tìm ra giải pháp tối ưu trong trường hợp đó. Bản
lĩnh, năng lực của nhà tư vấn thể hiện ở khả năng sẵn sàng thực hiện những công việc
phức tạp đòi hỏi sự trau dồi liên tục những kiến thức và những kỹ năng mới.
Tư vấn luôn là sự kết hợp giữa các vai trò khác nhau như: vai trò chuyên gia, góp ý,
gợi ý, vai trò trung gian hoà giải hoặc cũng có thể là vai trò phản biện. Để có thể góp ý,
khuyên giải về những vấn đề khách hàng trăn trở, đòi hỏi nhà tư vấn phải có uy tín, có
ĐÒ tài: Nâng cao chất lượng sản phẩm dÞch vụ tư vấn lập DA ĐT XD
Học viên: Vò ThÞ KiÒu Bắc; GV hướng dẫn: GVC.TS Đặng Văn Dựa
Luận văn thạc sĩ kinh tÕ
kiến thức sâu rộng và kinh nghiệm phong phú, đồng thời phải có phương pháp phân tích
vấn đề, nhằm tìm ra giải pháp hợp lý, sáng tạo trong một khoảng thời gian ngắn.
- Dịch vụ tư vấn lập DA ĐT XD là một nội dung cụ thể trong vấn đề tư vấn ĐT
XD, sản phẩm của dịch vụ tư vấn lập DA ĐT XD sản phẩm “chất xám” được thể hiện
trên các hồ sơ DA ĐT XD, đây là cơ sở của quá trình triển khai ĐT. Do đó, chất lượng
hồ sơ DA ĐT quy định chất lượng DA ĐT (hiểu theo nghĩa là quá trình ĐT).
1.1.1.2. Dự án đầu tư
DA là tập hợp các hoạt động có liên quan đến nhau nhằm đạt được một số mục tiêu
nhất định, được thực hiện trong một thời gian nhất định, dựa trên những nguồn lực xác
định.
DA ĐT là DA tạo dựng nên những năng lực mới (về lượng, về chất) trong sản xuất
sản phẩm hay tiến hành một dịch vụ nhằm đạt được một hoặc một số mục tiêu nhất định,
được thực hiện trong một thời gian nhất định, dựa trên những nguồn lực nhất định. Đó là
một tập hợp các biện pháp có căn cứ khoa học và cơ sở pháp lý được đề xuất về các mặt
tinh của những thành quả khoa học, công nghệ, tổ chức sản xuất và nghệ thuật kiến trúc
của cả một thời kỳ đang tồn tại. Sau khi XD xong và đưa vào khai thác sử dụng, các
CTXD đó lại góp phần mở ra một thời kỳ phát triển mới của đất nước.
DAĐTXD xét về mặt hình thức, là tập hợp các hồ sơ và bản vẽ thiết kế kiến trúc,
thiết kế kỹ thuật và tổ chức thi công CTXD và các tài liệu liên quan khác xác định chất
lượng công trình cần đạt được, tổng mức ĐT của DA và thời gian thực hiện DA, hiệu
quả kinh tế và hiệu quả xã hội của DA. DA ĐT XD còn có tên gọi khác là báo cáo
nghiên cứu khả thi FS (Feasibility study).
Có thể hiểu DA ĐT XD bao gồm hai nội dung là ĐT và XD với một đặc điểm
chung là yêu cầu có một diện tích đất, một địa điểm XD nhất định (bao gồm đất, khoảng
không, mặt nước, mặt biển, thềm lục địa).
Đặc điểm của một DA ĐT XD bao gồm các vấn đề sau:
a. Kế hoạch: Tính kế hoạch được thể hiện rõ qua mục đích được xác định, các mục đích
này phải được cụ thể hoá thành các mục tiêu và DA chỉ hoàn thành khi các mục tiêu cụ
thể đã đạt được.
ĐÒ tài: Nâng cao chất lượng sản phẩm dÞch vụ tư vấn lập DA ĐT XD
Học viên: Vò ThÞ KiÒu Bắc; GV hướng dẫn: GVC.TS Đặng Văn Dựa
Luận văn thạc sĩ kinh tÕ
b. Tiền: Đó là vốn bỏ ra để XD công trình, mua sắm lắp đặt máy móc thiết bị và các chi
phí ĐT DA. Nếu coi “Kế hoạch của DA” là phần tinh thần, thì tiền vốn được coi là phần
vật chất có tính quyết định đến sự thành công của DA.
c. Thời gian: Thời gian rất cần thiết để thực hiện DA, nhưng thời gian còn đồng nghĩa
với cơ hội của DA, vì vậy đây cũng là một yếu tố rất quan trọng cần được quan tâm.
d. Đất: Đất cũng là một yếu tố vật chất hết sức quan trọng. Đây là một tài nguyên đặc
biệt quý hiếm. Đất ngoài giá trị về địa chất, còn có giá trị về địa lý, kinh tế, môi trường,
xã hội, chính trị.Vì vậy, quy hoạch, khai thác và sử dụng đất cho các DA XD có những
đặc điểm và yêu cầu riêng cần phải hết sức lưu ý.
e. Sản phẩm hình thành: Sản phẩm được hình thành trong giai đoạn thực hiện ĐT của
DA là các CTXD mới, công trình được mở rộng, cải tạo, nâng cấp. Sản phẩm này mang
đặc điểm là cố định và chiếm một diện tích nhất định, và có thể đi kèm theo đó là dây
- Chất lượng DA ĐT XD
Hiểu theo nghĩa hẹp trong bước chuẩn bị ĐT là quá trình tạo lập, hình thành hồ sơ
DA ĐT XD đảm bảo tính khoa học, thực tiễn, kinh tế, làm cơ sở để triển khai ĐT hiệu
quả, thu được lợi ích tối ưu cho nhà ĐT.
Hiểu theo nghĩa rộng là toàn bộ chất lượng của quá trình ĐT DA, để hình thành
cơ sở vật chất và vận hành DA ĐT đạt hiệu quả.
Nếu coi DA ĐT XD bao gồm hai nội dung là ĐT và XD công trình thì chất
lượng DA ĐT XD bao gồm: (1) Việc xác định đúng nhất việc có nên ĐT hay không, nếu
có thì lập phương án, kế hoạch ĐT đảm bảo đạt được hiệu quả ĐT cao nhất, (2) phương
án XD công trình đảm bảo tính bền vững, thẩm mỹ, công năng sử dụng phù hợp với yêu
cầu của DA và các yêu cầu của xã hội (những yêu cầu bắt buộc phải tuân thủ trong Luật,
Nghị định, Quy chuẩn, tiêu chuẩn, quy định về an toàn, an ninh xã hội, an ninh, bảo vệ
môi trường, bảo tồn năng lượng, tài nguyên..)
- Chất lượng CTXD: Xét ở góc độ bản thân sản phẩm XD và người thụ hưởng
sản phẩm XD, chất lượng công trình được đặc trưng bởi các đặc tính cơ bản như: công
năng, độ tiện dụng, tuân thủ các tiêu chuẩn kỹ thuật, độ bền vững, tin cậy, tính thẩm mỹ,
an toàn trong khai thác sử dụng, tính kinh tế, tính đảm bảo về thời gian phục vụ của công
trình. Rộng hơn, chất lượng CTXD còn cần được xem xét trong quá trình hình thành sản
phẩm XD, với các vấn đề liên quan cơ bản như:
ĐÒ tài: Nâng cao chất lượng sản phẩm dÞch vụ tư vấn lập DA ĐT XD
Học viên: Vò ThÞ KiÒu Bắc; GV hướng dẫn: GVC.TS Đặng Văn Dựa
Luận văn thạc sĩ kinh tÕ
Tính kinh tế không chỉ thể hiện ở số tiền quyết toán công trình CĐT phải chi trả
mà còn thể hiện ở góc độ đảm bảo lợi nhuận có các nhà thầu thực hiện các hoạt động và
dịch vụ XD như: Lập DA, khảo sát, thiết kế, thi công XD.
Chất lượng của nguyên vật liệu, cấu kiện, chất lượng của công việc XD riêng lẻ,
của các bộ phận, hạng mục công trình.
Vấn đề môi trường: xét từ hai góc độ: tác động của DA tới các yếu tố môi trường
và tác động của các yếu tố môi trường tới quá trình hình thành DA.
1.1.2. Đặc điểm của dự án đầu tư xây dựng
vật liệu để tăng thu nhập cá nhân.
- Kỹ sư giám sát muốn hoàn thành hợp đồng giám sát một cách thuận lợi nhất.
- Hoặc lợi dụng những thông tin có được từ DA để bán thông tin về quy
hoạch, mua bán bất động sản,...
Tính đa mục tiêu của DA là một trong những nguyên nhân quan trọng gây nên
sự phức tạp trong quản lý DA XD.
1.1.2.2. Dự án đầu tư xây dựng công trình có tính duy nhất
Mỗi CTXD đều có những đặc điểm kiến trúc, kết cấu, địa điểm XD, không
gian và thời gian XD không giống nhau. đặc điểm này tạo ra tính duy nhất của DA
XD. Tính duy nhất của DA XD phản ánh tính không lặp lại của DA, gây khó khăn
không ít cho việc tiên liệu chi phí và thời gian trong quá trình thực hiện DA cũng như
cho việc tiên liệu các rủi ro có thể xảy ra đối với DA.
1.1.2.3. Dự án đầu tư xây dựng công trình chịu sự ràng buộc về thời gian và chi
phí nguồn lực
Thời gian thực hiện DA, thời điểm khởi công và kết thúc và tổng mức chi phí
cho việc thực hiện DA đã được xác định. Thường các yêu cầu về thời gian và chi phí
thực hiện DA XD là hạn hẹp vì các CĐT DA luôn muốn có những công trình chất
lượng cao nhưng chi phí thấp và được thực hiện trong một thời gian ngắn. Những
ràng buộc này thường gây sức ép đối với các nhà thầu XD trong quá trình thực hiện
DA, mặt khác nó thường mâu thuẫn với các mục tiêu kín của nhà thầu XD, vì thế
việc hoàn thành mục tiêu tổng thể (kết quả, thời gian, chi phí) của DA XD thường rất
khó khăn trong thực tế.
ĐÒ tài: Nâng cao chất lượng sản phẩm dÞch vụ tư vấn lập DA ĐT XD
Học viên: Vò ThÞ KiÒu Bắc; GV hướng dẫn: GVC.TS Đặng Văn Dựa
Luận văn thạc sĩ kinh tÕ
1.1.2.4. Dự án đầu tư xây dựng công trình luôn tồn tại trong một môi trường
không chắc chắn (tiềm ẩn nhiều rủi ro)
DAĐTXD công trình bao gồm nhiều loại công việc dự kiến phải thực hiện
như khảo sát XD, thiết kế XD công trình, xin giấy phép XD, giải phóng mặt bằng XD
công trình, cung ứng vật tư thiết bị, thi công XD công trình, giám sát thi công XD
để có thể tồn tại, hoạt động hiệu quả và chiếm lĩnh vị trí cạnh tranh trên thị trường.
Kinh nghiệm của các nước cho thấy, với trình độ phát triển ở Việt Nam hiện
nay, khả năng tự mình phát triển còn hạn chế, do đó thường có chính sách chuyển
giao công nghệ từ nước ngoài. Các đối tác nước ngoài mặc dù rất mạnh về vốn, công
nghệ, khả năng quản lý ... nhưng rất cần tư vấn trong nước để tìm kiếm và lựa chọn
đối tác, lựa chọn công nghệ phù hợp với phương án sản phẩm - thị trường, giải quyết
các thủ tục hành chính, đàm phán về chuyển giao công nghệ, “thích nghi hoá” công
nghệ phù hợp với điều kiện Việt nam. Ngược lại, các doanh nghiệp Việt nam thiếu
kiến thức và kinh nghiệm về ĐT nước ngoài, về thông tin thị trường quốc tế, tìm
kiếm và lựa chọn đối tác, đánh giá công nghệ, lập và thẩm định DA ĐT, kỹ năng
quản lý, tiếp thị .. do đó cũng rất cần tư vấn.
Trong chuyển giao công nghệ từ nước ngoài, cả bên giao và bên nhận đều cần
đến tư vấn, sự thành công của cuộc chuyển giao công nghệ trước hết phụ thuộc vào
phương án thị trường, sản phẩm, kế hoạch sản xuất kinh doanh.
- Vai trò thúc đẩy và hữu hiệu hoá chuyển giao công nghệ luôn đi cùng với vai
trò hỗ trợ ĐT, hỗ trợ sản xuất kinh doanh cho doanh nghiệp, để doanh nghiệp ĐT
đúng hướng và hiệu quả. Trong quá trình thúc đẩy và hữu hiệu hoá chuyển giao công
nghệ, nhà tư vấn có vai trò tiên phong trong việc:
+ Nắm bắt và truyền bá các ý tưởng mới, công nghệ mới.
+ Hỗ trợ đảm bảo thông tin công nghệ, thông tin thị trường.
+ Chuyển giao kỹ năng quản lý phục vụ cạnh tranh và hiệu quả.
Ở góc độ một công ty tư vấn, lợi thế cạnh tranh của một công ty tuỳ thuộc chủ
yếu ở khả năng luôn vượt trước khách hàng về ý tưởng, cách tiếp cận, phương pháp
luận, kiến thức, kỹ năng để đưa ra được những điều mới mẻ và hiệu quả cho khách
hàng.
ĐÒ tài: Nâng cao chất lượng sản phẩm dÞch vụ tư vấn lập DA ĐT XD
Học viên: Vò ThÞ KiÒu Bắc; GV hướng dẫn: GVC.TS Đặng Văn Dựa
Luận văn thạc sĩ kinh tÕ
Như vậy, phát triển nghề tư vấn không chỉ có ý nghĩa giúp nâng cao hiệu quả
tài chính của doanh nghiệp trong một vụ chuyển giao công nghệ cụ thể, mà quan
1.1.4 Vài nét về quá trình hình thành và phát triển của nghề tư vấn
Có thể nói, nghề tư vấn xuất hiện cùng với việc xã hội loài người hình thành
giai cấp, có sự phân chia lao động, xã hội xuất hiện những người chuyên đi cho, đi
bán hoặc đổi lời khuyên lấy một thứ gì đó. Họ là những nhà thông thái, có học vấn
cao, có trí tuệ hơn người để mang đến cho người khác những lời khuyên hữu ích. Đó
có thể là những lời khuyên trong lĩnh vực thường ngày của đời sống như sức khoẻ, kỹ
thuật, kinh doanh cho những người dân thường, cũng có thể là những mưu lược, sách
lược của các mưu sỹ, quân sư giúp các tướng lĩnh, vua chúa trong chiến tranh hoặc
trong việc đạo trị dân, XD đất nước.
Xã hội ngày càng phát triển, ở bất kỳ một lĩnh vực nào của đời sống, ở đâu có
mối quan hệ cung - cầu thì ở đó xuất hiện thêm một thành phần thứ ba, đó chính là tư
vấn. Bên thứ nhất là nhà sản xuất hoặc cung cấp dịch vụ, bên thứ hai là khách hàng,
người tiêu dùng, bên thứ ba chính là nhà tư vấn, độc lập và khách quan với hai thành
phần nói trên. Tuy nhiên, trong một số trường hợp như tư vấn về sức khoẻ, pháp luật,
hôn nhân gia đình v.v.. tư vấn là người cung cấp dịch vụ trực tiếp cho khách hàng.
Ngày nay, người ta coi lao động trí óc là một hình thức lao động chất lượng
cao, chất xám trở thành một tài nguyên vô giá, từ đó có thể XD nên một nền kinh tế
tri thức, đó là nền kinh tế XD trên cơ sở sản xuất, phân phối và sử dụng thông tin.
Trên thế giới, ban đầu các nhà tư vấn xuất hiện đơn lẻ, hoạt động tự phát, về
sau, khi nền kinh tế phát triển, các yêu cầu về tư vấn cũng phát triển ngày càng nhiều,
vì vậy các nhà tư vấn đã hợp tác lại, thành lập nên các công ty tư vấn. Châu Âu đi đầu
trong sự phát triển nghề tư vấn, họ đã thành lập được “Hiệp hội tư vấn Châu Âu” tên
viết tắt là EFCA (European Federation of Consultant Asssociations) tập hợp được rất
nhiều các công ty tư vấn, các chuyên gia tư vấn đề giải quyết tất cả các yêu cầu về
dịch vụ tư vấn cho toàn xã hội.
Thế giới cũng thành lập được “Hiệp hội quốc tế các kỹ sư tư vấn”, tên viết tắt
theo tiếng Pháp là FIDIC. FIDIC đã tập hợp được rất nhiều các hiệp hội tư vấn thành
viên trên thế giới, đã soạn thảo rất nhiều tài liệu quan trọng trong tất cả các lĩnh vực,
đặc biệt là trong lĩnh vực XD. FIDIC soạn thảo các quy trình về đấu thầu, các hợp
ĐÒ tài: Nâng cao chất lượng sản phẩm dÞch vụ tư vấn lập DA ĐT XD
ĐÒ tài: Nâng cao chất lượng sản phẩm dÞch vụ tư vấn lập DA ĐT XD
Học viên: Vò ThÞ KiÒu Bắc; GV hướng dẫn: GVC.TS Đặng Văn Dựa
Luận văn thạc sĩ kinh tÕ
nghệ. Đến nay, Nhật Bản cũng coi dịch vụ tư vấn XD, đặc biệt là dịch vụ quản lý DA
như là một công cụ đắc lực để phát triển nền kinh tế.
Trong các nền kinh tế và doanh nghiệp hiện đại, dịch vụ tư vấn được sử dụng
ngày một rộng rãi, mang lại kiến thức và phương pháp luận tiên tiến, hiệu quả nhất
cho người sử dụng dịch vụ.
Trong ĐT XD, hiện nay, người ta nhìn nhận tư vấn là một phần không thể
thiếu của bất kỳ DA ĐT nào. Tư vấn XD là yếu tố không thể thiếu được trong sự
thành công của các DA ĐT XD trên thế giới, nó góp phần tháo gỡ rào cản về kinh tế,
chính trị, văn hoá, xã hội, về quy chuẩn, tiêu chuẩn XD cho việc thực thi các DA.
1.1.5 Những yêu cầu đối nghề kỹ sư tư vấn
Nghề tư vấn là một nghề nghiệp có đẳng cấp cao, chỉ sử dụng những hoạt động trí
óc hay gọi là các hoạt động chất xám để cung cấp các dịch vụ có trí tuệ. Tư vấn XD là
một nghề nghiệp được xã hội công nhận, có một vị trí quan trọng trong ngành XD và
ngày càng phát triển. Do đặc thù của tư vấn là các sản phẩm của dịch vụ tư vấn chủ yếu
là các sản phẩm mềm mang tính trí tuệ, có hàm lượng chất xám cao. Vì vậy, các kỹ sư tư
vấn ngoài năng lực chuyên môn, kinh nghiệm làm việc, bằng cấp XD, kinh tế, tài chỉnh,
luật pháp, quản lý, môi trường, địa chất v.v còn đòi hỏi những phẩm chất riêng cần có
của nhà tư vấn đó là:
* Khả năng về trí tuệ: Những kiến thức được đào tạo thường là những kiến thức
cơ bản, nhập môn. Tính đa dạng của các yêu cầu đòi hỏi trong đời sống kinh tế, xã hội
đòi hỏi người kỹ sư tư vấn phải có tự học tập, mở mang kiến thức qua quan sát, thu thập
tài liệu, tiếp cận thông tin, lựa chọn, phân tích đánh giá sự kiện. Trên cơ sở đó, với
phương pháp tư duy khoa học để có những phán đoán chuẩn xác nhất.
* Khả năng hiểu biết về con người: Đối tượng dịch vụ của ngành tư vấn XD là đa
dạng, họ có thể có chuyên môn về XD, về lĩnh vực mà họ có ý định ĐT, có thể không, họ
mang theo những nhu cầu, ý tưởng và mong muốn rất đa dạng. Để tiếp cận, trao đổi và
thực hiện dịch vụ đạt hiệu quả, đòi hỏi người kỹ sư tư vấn phải có khả năng giao tiếp,
đặc biệt dễ dẫn tới việc sa ngã trước những cám dỗ vật chất của thị trường, vi phạm về
chuyên môn, luật pháp.
Các công ty cũng như từng kỹ sư tư vấn phải thường xuyên học hỏi, tổng kết kinh
nghiệm, tích luỹ kiến thức, thu thập thông tin qua các DA ĐT cũng như từ nhiều nguồn
ĐÒ tài: Nâng cao chất lượng sản phẩm dÞch vụ tư vấn lập DA ĐT XD
Học viên: Vò ThÞ KiÒu Bắc; GV hướng dẫn: GVC.TS Đặng Văn Dựa
Luận văn thạc sĩ kinh tÕ
thông tin, kiến thức khác nhau để có tư liệu. Ngành tư vấn trong nước và quốc tế luôn
xuất hiện các vấn đề mới, kiến thức mới, lý thuyết mới, công nghệ mới, đòi hỏi việc phải
thường xuyên đào tạo trong đó tự đào tạo là tốt nhất.
Vai trò của các nhà lãnh đạo trong việc sử dụng và đào tạo nhân tài cũng là yếu tố
hết sức quan trọng để có được các nhà tư vấn giỏi, tạo điều kiện để họ tồn tại, phát triển
không phải chỉ là song hành mà là đi trước sự phát triển của kinh tế đất nước.
ĐÒ tài: Nâng cao chất lượng sản phẩm dÞch vụ tư vấn lập DA ĐT XD
Học viên: Vò ThÞ KiÒu Bắc; GV hướng dẫn: GVC.TS Đặng Văn Dựa
Luận văn thạc sĩ kinh tÕ
1.2. VAI TRÒ CỦA DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG
1.2.1 Quy trình hình thành và thực hiện dự án đầu tư xây dựng
Hình 1.1. Quy trình hình thành và thực hiện DAĐTXD
Mỗi DA ĐT XD đều có thời điểm bắt đầu và kết thúc, vòng đời của DA (project
life cycle) bao gồm nhiều giai đoạn phát triển: Từ ý tưởng đến việc triển khai nhằm đạt
được kết quả và đến khi kết thúc DA.
Thông thường, vòng đời của DA có thể được chinh thành các giai đoạn:
1.2.1.1 Giai đoạn trước đầu tư
Đây là giai đoạn trước khi có DA, thường là không xác định được khoảng thời
gian và không tính vào thời gian quản lý DA, tuy nhiên, giai đoạn này có vai trò hết sức
quan trọng, nó là thời kỳ làm xuất hiện các nguyên nhân hành thành DA, hình thành các
ý tưởng ĐT, những hạt giống cho sự phát triển kinh tế, xã hội. Sự thai nghén các DA ĐT
ĐÒ tài: Nâng cao chất lượng sản phẩm dÞch vụ tư vấn lập DA ĐT XD
Học viên: Vò ThÞ KiÒu Bắc; GV hướng dẫn: GVC.TS Đặng Văn Dựa
nào đó.
Các nguyên nhân hình thành DA có thể là chủ quan, khách quan ngẫu nhiên, nếu
xuất phát từ lý do chính đáng, các kế hoạch ĐT được XD tốt, đảm bảo chất lượng sẽ đáp
ứng được các yêu cầu và thúc đẩy sự phát triển của xã hội. Ngược lại, với những lý do
không chính đáng, ĐT không được nghiên cứu kỹ lưỡng, các DA có thể gây ra những
thất thoát, lãng phí lớn về tiền bạc, thời gian, công sức, tài nguyên, gây thiệt hại về kinh
tế, xã hội, môi trường sinh thái. Do vậy, việc nghiên cứu DA phải được thực hiện đảm
bảo cho việc loại bỏ các DA kém hiệu quả, lập kế hoạch ĐT hợp lý. Nhà nước cần cải
thiện môi trường ĐT bằng các chính sách khuyến khích ĐT, ưu tiên ĐT, XD các cơ sở
hạ tầng kỹ thuật: đường sá, điện, nước, thông tin liên lạc.. để thu hút các nhà ĐT XD các
DA phù hợp và có hiệu quả. Các bộ, ngành, địa phương cũng cần tạo ra một môi trường
ĐT thông thoáng, hấp dẫn cho địa phương, tạo điều kiện cho các DA ĐT thuận lợi, hiệu
quả cao, góp phần phát triển đất nước.
DA ĐT phải được XD dựa trên quy hoạch phát triển kinh tế xã hội, quy hoạch
ngành và quy hoạch XD đảm bảo tính khoa học, định hướng và thực tiễn đã được cơ
quan chức năng phê duyệt, công bố.
ĐÒ tài: Nâng cao chất lượng sản phẩm dÞch vụ tư vấn lập DA ĐT XD
Học viên: Vò ThÞ KiÒu Bắc; GV hướng dẫn: GVC.TS Đặng Văn Dựa
Luận văn thạc sĩ kinh tÕ
1.2.1.2. Giai đoạn chuẩn bị đầu tư.
Giai đoạn chuẩn bị thực hiện ĐT lại bao gồm giai đoạn hình thành DA và giai
đoạn nghiên cứu phát triển. Lập DA ĐT chỉ là một phần việc của quá trình chuẩn bị ĐT
hay đó chính là việc kết nối, chuyển tiếp giữa giai đoạn hình thành DA với giai đoạn
nghiên cứu phát triển, bao gồm các nội dung: Lập báo cáo ĐT, lập DA ĐT, lập báo cáo
kinh tế kỹ thuật tuỳ theo quy mô, loại DA ứng với quy định hiện hành của nhà nước.
- Giai đoạn hình thành DA: với các công việc chính: XD ý tưởng ban đầu, xác
định quy mô và mục tiêu, đánh giá các khả năng, tính khả thi của DA (khả năng ĐT),
xác định các nhân tố và cơ sở thực hiện DA.
- Giai đoạn nghiên cứu phát triển: XD DA, kế hoạch thực hiện và chuẩn bị nguồn
lực, kế hoạch tài chính và khả năng kêu gọi ĐT, xác định yêu cầu chất lượng, phê duyệt
Đây là giai đoạn cuối cùng của DA ĐT, thực chất của giai đoạn này là đưa công
trình đã được XD, lắp đặt xong vào vận hành, khai thác. Tức là thực hiện tổ chức sản
xuất kinh doanh.
1.2.2 Vai trò của dự án đầu tư
Hoạt động ĐT là hoạt động bỏ vốn vào một lĩnh vực sản xuất, kinh doanh hay
dịch vụ nhằm thu được lợi nhuận, các hoạt động này chịu sự tác động của nhiều yếu tố từ
môi trường ĐT như chính trị, kinh tế - xã hội ... Mặt khác, hoạt động ĐT là các hoạt
động cho tương lai, do đó, nó chứa đựng bên trong rất nhiều yếu tố bất định, yếu tố rủi
ro, không chắc chắn, đó chính là các yếu tố làm cho DA có khả năng thất bại. Các nhà
ĐT có thể lựa chọn hình thức ĐT gián tiếp thông qua các cơ quan kinh doanh tiền tệ,
mặc dù lãi suất thu được thấp hơn hình thức ĐT trực tiếp. Vì vậy, trong hoạt động ĐT,
việc phân tích và đánh giá đầy đủ trên nhiều khía cạnh khác nhau, trên cơ sở thu nhận
đầy đủ các thông tin về hoạt động kinh tế sẽ tiến hành ĐT, về hoạt động chính trị, xã hội,
thiên nhiên, môi trường trong quá khứ, hiện tại và tương lai là việc làm hết sức quan
trọng. Sự thành công hay thất bại của một DA ĐT được quyết định từ việc phân tích có
chính xác hay không, thực chất của việc phân tích này chính là lập DA ĐT. Có thể nói,
DA ĐT được soạn thảo tốt là cơ sở vững chắc cho việc thực hiện các công cuộc ĐT đạt
hiệu quả kinh tế - xã hội mong muốn.
- Đối với CĐT:
ĐÒ tài: Nâng cao chất lượng sản phẩm dÞch vụ tư vấn lập DA ĐT XD
Học viên: Vò ThÞ KiÒu Bắc; GV hướng dẫn: GVC.TS Đặng Văn Dựa