LUẬN VĂN:
Kiểm toán chu trình hàng tồn kho trong
kiểm toán Báo cáo tài chính do công ty
Kiểm toán và Kế toán thực hiện Lời nói đầu
Hoạt động trong nền kinh tế thị trường điều quan trọng đối với nhà đầu tư, chủ doanh
nghiệp và cơ quan nhà nước về kinh tế tài chính là có được các thông tin đáng tin cậy để
đưa ra quyết định đầu tư, quyết định kinh doanh hoặc quyết định điều tiết. Với những tác
dụng thực tiễn của mình, tư vấn tài chính và kiểm toán đã trở thành một nhu cầu không thể
thiếu trong nền kinh tế thị trường. Tư vấn tài chính và kiểm toán là một điều kiện tích cực
do công ty Kiểm toán và Kế toán Hà Nội thực hiện tại công ty A.
Chương 3: Bài học kinh nghiệm và việc hoàn thiện công tác kiểm toán chu trình hàng tồn
kho trong kiểm toán Báo cáo tài chính do công ty Kiểm toán và Kế toán Hà Nội thực hiện.
Tuy nhiên kiểm toán là một lĩnh vực còn mới mẻ ở Việt Nam cả về lý luận cũng
như thực tế, đồng thời do hạn chế về kinh nghiệm và chuyên môn nên bài viết không tránh
khỏi thiêu sót em rất mong nhận được sự góp ý chỉ bảo của thầy cô giáo.
ổ chức kế toán Hàng tồn kho1.1 Nh
ững
đ
ặc
đi
ểm chung về chu trình Hàng tồn kho1.2 T
ổ chức công tác kế toán Hàng tồn kho2 Chu trình Hàng t
ồn kho với vấn
đ
ề kiểm toán2.1 Ch
ức n
ăng cơ b
ản của chu trình Hàng tồn kho2.2 M
ục tiêu kiểm toán chu t
rình Hàng t
ạt
đ
ộng kinh doanh của công ty kiểm toán
và kế toán hà nội 1.1
-
Quá trình
hình thành và phát tri
ển của công ty1.2. L
ĩnh vực kinh doanh và thị tr
ư
ờng1.3
-
Khách hàng c
ủa CPA1.4
-
2.3 Th
ực hiện K
ế hoạch kiểm toán hàng tồn kho tại công ty A2.4 K
ết thúc kiểm toán chu trình hàng tồn khoChương 3 Bài h
ọc kinh nghiệm và việc hoàn thiện công tác kiểm toán chu
trình hàng tồn kho trong kiểm toán
Báo cáo tài chính do công ty Kiểm toán và
Kế toán Hà Nội thực hiện.
1. Nh
ận xét chung và những bài học kinh nghiệm qua thực tiễn kiểm toán
chu trình hàng tồn kho trong kiểm toán Báo cáo tài chính của công ty Kiểm
toán và Kế toán
2. Nh
ững
đánh giá và
ý ki
ến
đ
ề xuất nhằm hoàn thiện công tác kiểm toán
chu trình hàng tồn kho trong kiểm toán Báo cáo tài chính
Chương 1 Cơ sở lý luận về kiểm toán chu trình Hàng tồn kho trong kiểm toán báo
cáo tài chính tại các doanh nghiệp
1 Đặc điểm của chu trình Hàng tồn kho với tổ chức kế toán Hàng tồn kho
1.1 Những đặc điểm chung về chu trình Hàng tồn kho
Hàng tồn kho là tài sản lưu động của doanh nghiệp biểu hiện dưới dạng vật chất cụ
thể dưới nhiều hình thức khác nhau, tuỳ thuộc vào đặc điểm hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp, hàng tồn kho thường bao gồm: Nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ, sản phẩm
dở dang, thành phẩm, hàng hoá. Ngoài ra còn có một số vật tư hàng hoá thuộc quyền sở
hữu của doanh nghiệp nhưng vì những lý do khác nhau nên không nằm trong kho như:
Hàng đang đi đường, hàng gửi bán…
Chu kỳ vận động của hàng tồn kho từ nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ sang sản
phẩm dở dang đến thành phẩm, hàng hoá. Quá trình vận động liên quan đến nhiều khoản
mục trên báo cáo tài chính. Đối với Bảng cân đối kế toán như: Các chỉ tiêu nguyên vật
liệu, công cụ dụng cụ, hàng đang đi đường, hàng gửi bán, chi phí sản phẩm dở dang, thành
phẩm hàng hoá, dự phòng giảm giá hàng tồn kho. Đối với báo cáo kết quả kinh doanh như
các chỉ tiêu: Chi phí nguyên vật liệu, chi phí sản xuất chung, giá vốn hàng bán…Đây là
những chỉ tiêu cơ bản để phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp về hiểu quả sản
xuất kinh doanh, triển vọng cũng như những rủi ro trong sản xuất. Vì những lý do đó mà
các chỉ tiêu này thường bị phản ánh sai lệch. Để có được những hiểu biết sâu sắc về chu
trình Hàng tồn kho, trước hết phải nắm được các đặc điểm của chu trình:
- Hàng tồn kho thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng tài sản của doanh nghiệp.
- Các khoản mục hàng tồn kho thường rất đa dạng và có thể chịu ảnh hưởng lớn bởi hao
mòn vô hình và hao mòn hữu hình thông qua các biểu hiện như bị hư hỏng trong thời gian
nhất định, dễ bị lỗi thời…
- Giá trị nhập kho của hàng tồn kho thường được cộng ( hoặc trừ) các chi phí thu mua,
Trong công tác tổ chức chứng từ hàng tồn kho tuỳ thuộc vào từng loại hình kinh doanh của
doanh nghiệp để xây dựng danh mục chứng từ hàng tồn kho cho phù hợp. Song chứng từ
được sử dụng trong chu trình Hàng tồn kho thường bao gồm các loại:
- Chứng từ nhập mua vật tư, hàng hoá bao gồm: Phiếu đề nghị mua hàng; hoá đơn nhà
cung cấp; phiếu kiểm nhận hàng mua; phiếu nhập kho và thẻ kho.
- Chứng từ xuất kho cho sản xuất gồm có: Phiếu yêu cầu lĩnh vật tư; phiếu xuất kho vật tư;
vận đơn (nếu có) và thẻ kho.
Bộ phận cung ứng
P. đ
ề nghị mua
Đ
ề nghị nhập kho
Ngư
ời giao hàng
Ban ki
ểm nhận
Phi
ếu kiểm nhận
Lập phiếu nhập
kho
Cán bộ P. cung
Th
ủ kho
Ki
ểm tra và nhập
Ghi sổ và lưu
Nhân viên P.
L
ập phiếu xuất
Xuất kho
Thủ kho
Ghi sổ và lưu
ch
ứng từ
K
ế toán
Khách hàng
Đơn đ
ặt hàng
HĐ bán hàng và P.
B
ộ phận bán hàng
Gián đ
ốc, Kế toán
Phê duy
ệt hoá
đơn
Thu tiền hoặc theo
Kế toán thanh toán
Th
kế toán. Sổ kế toán là phương tiện vật chất để hệ thống hoá các số liệu kế toán trên cơ sở
các chứng từ gốc và tài liệu kế toán khác. Sổ kế toán bao gồm nhiều loại, tuỳ thuộc và yêu
cầu quản lý để tổ chức sổ kế toán cho phù hợp. Trong doanh nghiệp thường tổ chức 2 hệ
thống sổ: Sổ kế toán chi tiết và sổ kế toán tổng hợp. Theo chế độ kế toán Việt Nam đơn vị
có thể lựa chọn một hình thức kế toán trong số các hình thức sau:
+ Theo hình thức Nhật ký chung:
- Sổ kế toán tổng hợp: Nhật ký chung, sổ các các tài khoản.
- Sổ kế toán chi tiết: Sổ chi tiết nhập (xuất) vật tư, hàng hoá; Sổ chi tiết chi phí sản xuất; sổ
chi tiết bán hàng…
+ Theo hình thức Nhật ký chứng từ:
- Nhật ký chứng từ, bảng kê, sổ các các tài khoản.
- Một số sổ chi tiết khác.
+ Theo hình thức Chứng từ ghi sổ:
- Sổ kế toán tổng hợp: Sổ cái, chứng từ ghi sổ, sổ đăng ký chứng từ ghi sổ.
- Sổ kế toán chi tiết: Sổ chi tiết nhập (xuất) vật tư, hàng hoá; Sổ chi tiết chi phí sản xuất; sổ
chi tiết bán hàng…
1.2.4 Phương pháp tính giá và quy trình hạch toán hàng tồn kho
Các phương pháp tính giá:
Hàng ngày vật tư, hàng hoá nhập kho được kế toán ghi nhận theo giá thực tế nhưng
đơn giá các lần nhập khác nhau là khác nhau và thời điểm nhập là khác nhau. Do đó kế
toán có nhiệm vụ xác định giá thực tế vật tư, hàng hoá, thành phẩm mỗi lần xuất kho. Theo
chế độ kế toán Việt Nam hiện hành doanh nghiệp có thể sử dụng một trong các phương
pháp tính giá sau để áp dụng cho việc tính giá thực tề xuất kho cho tất cả các loại hàng tồn
kho hoặc cho riêng từng loại:
- Phương pháp tính giá thực tế đích danh
- Phương pháp giá bình quân gia quyền
- Phương pháp giá nhập trước xuất trước (FIFO)
- Phương pháp giá nhập sau xuất trước (LIFO)
Mỗi phương pháp tính giá thực tế xuất kho của vật tư , hàng hoá, đều có những ưu
như: Mua hàng, kiểm nhận hàng, nhập và lưu kho, xuất cho sản xuất và tiêu thụ. Tuỳ thuộc
vào đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị để tổ chức các phòng ban cho phù
hợp, tuy nhiên phải đảm bảo tính độc lập hoạt động của các bộ phận (hay cá nhân) nhằm
đảm bảo công tác kiểm tra, kiểm soát của các cấp quản lý đối với từng bộ phận, từng cá
nhân. Có nhiều cách thức tổ chức các phòng ban khác nhau song chung quy lại chu trình
hàng tồn kho bao gồm 3 chức năng sau.
2.1.1 Chức năng nhập mua vật tư, hàng hoá
Trong chức năng này gồm các công việc sau:
- Mua vật tư hàng hoá: Khi có nhu cầu mua hàng thì các bộ phận có liên quan sẽ lập phiếu
đề nghị mua hàng. Sau khi phiếu đề nghị mua hàng được phê chuẩn bộ phận cung ứng sẽ
lập đơn đặt hàng và gửi cho nhà cung cấp đã lựa chọn:
+ Phiếu yêu cầu mua hàng: Do bộ phận có trách nhiệm lập (như bộ phận vật tư). Phiếu
được lập theo kế hoạch sản xuất hoặc lập đột xuất.
+ Đơn đặt hàng: Căn cứ vào phiếu đề nghị mua hàng đã được phê chuẩn của Giám đốc
(hoặc người phụ trách) bộ phận mua hàng lập đơn đặt hàng để gửi cho nhà cung cấp. Mẫu
của đơn đặt hàng được thiết kế sẵn có đầy đủ các cột cần thiết nhằm hạn chế tối đa các sai
sót.
- Nhận hàng: Khi bên nhà cung cấp giao hàng bộ phận nhận hàng sẽ dựa trên đơn đặt hàng
để kiểm tra về mẫu mã, số lượng, chủng loại, quy cách, phẩm chất và thời gian giao hàng,
cuối cùng trưởng nhóm phải lập biên bản kiểm nhận hàng. Bộ phận nhận hàng phải độc lập
với bộ phận kho và bộ phận kế toán.
- Sau khi hàng được kiểm nhận bộ phận cung ứng viết phiếu nhập kho dựa trên biên bản
kiểm nhận hàng. Hàng được giao xuống kho và lưu kho. Phiếu nhập kho được lập nhiều
liên để lưu cuống, nhập kho và kế toán ghi chép sổ sách.
2.1.2 Chức năng xuất kho
Đối với một đơn vị sản xuất thì xuất kho có 2 lý do cơ bản là xuất cho nội bộ (cho
sản xuất, cho bán hàng, cho quản lý doanh nghiệp) và xuất bán.
- Xuất vật tư, hàng hoá cho nội bộ: Khi có hợp đồng sản xuất mới hoặc theo kế hoạch sản
xuất hoặc các nhu cầu vật tư trong nội bộ doanh nghiệp các bộ phận sẽ lập phiếu xin lĩnh
Mục tiêu hợp lý chung bao hàm việc xem xét, đánh giá tổng thể số tiền ghi trên các
khoản mục trên cơ sở cam kết chung về trách nhiệm của nhà quản lý và thông tin thu được
qua khảo sát thực tế ở khách thể kiểm toán. Do đó đánh giá sự hợp lý chung hướng tới khả
năng sai sót củ thể của các số tiền trên khoản mục (Theo giáo trình Kiểm toán tài chính).
Đối với chu trình hàng tồn kho có thể củ thể hoá mực tiêu hợp lý chung như sau: Tất cả
hàng tồn kho đều biểu hiện hợp lý trên thẻ kho và bảng cân đối kế toán; hay có thể nói:
Các số dư hàng tồn kho trên bảng cân đối kế toán và bảng liệt kê hàng tồn kho là hợp lý.
2.2.2 Mục tiêu chung khác
Trong mục tiêu chung khác bao gồm: Mục tiêu hiệu lực, mục tiêu trọn vẹn, mục
tiêu quyền và nghĩa vụ, mục tiêu định giá và phân bổ, mục tiêu chính xác cơ học và mục
tiêu phân loại và trình bày. Các mục tiêu này được củ thể hoá cho chu trình Hàng tồn kho:
- Tất cả hàng tồn kho ghi trên sổ đều tồn tại thực tế vào ngày lập Bảng cân đối kế toán
(Hiệu lực).
- Mọi hàng hoá, tài sản tồn kho đều bao hàm trong Bảng cân đối kế toán (Trọn vẹn).
- Các tài sản ghi trong mục hàng tồn kho thuộc sử hữu của đơn vị và không thuộc tài sản
thế chấp, cầm cố hoặc tạm vay (Quyền và nghĩa vụ).
- Thứ nhất: Giá trị hàng tồn kho phù hợp với hiện vật. Thứ hai: Giá cả hàng hoá được tính
theo giá thực tế. Các lần điều chỉnh giá được phản ánh đúng và hàng hoá mất giá được
điều chỉnh (Định giá và phân bổ)
- Số tổng cộng các khoản mục hàng tồn kho (Tính chính xác cơ học)
- Thứ nhất: Phân loại đúng hàng tồn kho theo các nhóm: Nguyên vật liệu, công trình dở
dang, thành phẩm và chi tiết theo quy định. Thứ hai: Thuyết trình rõ các hàng hoá cầm cố,
chuyển nhượng, tạm gửi hoặc giữ hộ (Phân loại và trình bày).
Các mục tiêu được củ thể hoá cho chu trtình kiểm toán Hàng tồn kho ở trên được
gọi là các mục tiêu kiểm toán đặc thù. Đối với mỗi chu trình kiểm toán có các mục tiêu đặc
thù riêng, tuy nhiên với mỗi cuộc kiểm toán cụ thể thì mục tiêu riêng của chu trình Hàng
tồn kho có thể là khác nhau. Vì vậy, căn cứ vào từng trường hợp củ thể mà kiểm toán viên
định ra các mục tiêu kiểm toán cụ thể.
2.3 Chứng từ kiểm toán trong chu trình Hàng tồn kho
các lý do kiểm toán, lựa chọn đội ngụ nhân viên kiểm toán và ký hợp đồng kiểm toán.
(2) Thu thập thông tin cơ sở
Sau khi đánh giá khả năng kiểm toán của khách hàng và thực hiện các công việc
chuẩn bị, kiểm toán viên bắt đầu lập kế hoạch tổng quát. Theo chuẩn mực kiểm toán Việt
nam chuẩn mực số 300 quy định kiểm toán viên cần hiểu biết về nghành nghề, công việc
kinh doanh của khách hàng, tìm hiểu hệ thống kế toán, kiểm soát nội bộ và các bên liên
quan để đánh giá rủi ro và lên kế hoạch kiểm toán. Trong giai đoạn này kiểm toán viên
thực hiện các công việc sau:
- Tìm hiểu ngành nghề và hoạt động kinh doanh của khách hàng.
- Xem xét lại kết quả kiểm toán của lần kiểm toán trước
- Tham quan nhà xưởng.
- Nhận diện các bên có liên quan.
- Dự kiến nhu cầu chuyên gia.
(3) Thu thập thông tin về nghĩa vụ pháp lý của khách hàng như xem xét: Giấy phép
kinh doanh, điều lệ công ty, biên bản các cuộc họp hội đồng quản trị và ban Giám đốc,
xem xét các hợp đồng, các cam kết quan trọng…
(4) Sử dụng các thủ tục phân tích
Theo chuẩn mực kiểm toán Việt nam chuẩn mực số 520 quy định: "Kiểm toán viên
phải thực hiện các thủ tục phân tích khi lập kế hoạch kiểm toán và giai đoạn soát xét tổng
thể báo cáo tài chính". Sau khi có các bằng chứng về tình hình hoạt động kinh doanh của
khách hàng thông qua thu thập thông tin cơ sở và thông tin về nghĩa vụ pháp lý của khách
hàng, kiểm toán viên sử dụng các thủ tục phân tích để hộ trợ cho việc lập kế hoạch. Qua
việc sử dụng thủ tục phân tích có thể cho phép kiểm toán viên nắm bắt tình hình hoạt động
kinh doanh của năm nay so với năm trước và xu hướng biến động của các thông tin tài
chính. Trong kiểm toán chu trình hàng tồn kho, việc sử dụng các thủ tục phân tích là rất
cần thiết. Sự biến động của các số liệu Hàng tồn kho có thể dễ dàng phát hiện thông qua sử
dụng thủ tục phân tích. Một số thủ tục phân tích được sử dụng trong kiểm toán Hàng tồn
kho như:
- Phân tích ngang (phân tích xu hướng):
+ So sánh số dư hàng tồn kho trên doanh thu hoặc số dư hàng tồn kho trên giá vốn hàng
bán của năm nay so với năm trước.
+ Xác định tỷ trọng của sản phẩm dở dang trên tổng số hàng tồn kho để so sánh năm nay
với năm trước.
+ Kiểm toán viên có thể so sánh tỷ trọng của hàng tồn kho trên tổng tài sản lưu động giữa
kỳ này và các kỳ trước để xem có sự biến động lớn nào không.
T
ỷ trọng hàng
tồn kho trong
tài sản lưu động
=
Tr
ị giá hàng tồn khoTổng tài sản lưu động
+ So sánh hệ số quay vòng hàng tồn kho với các kỳ trước: Thủ tục này được áp dụng đối
với khoản mục hàng hoá và thành phẩm tồn kho. Nếu được áp dụng nhằm mục đích phát
hiện những hàng tồn kho cũ kỹ và lạc hậu hoặc phát hiện những bất thường trong kinh
doanh liên quan đến hàng tồn kho.
S
ố vòng
luân chuyển
=
Giá v
ư hàng t
ồn kho cuối kỳ2
Sau đó so sánh số vòng luân chuyển hàng tồn kho của kỳ này với các kỳ trước, nếu
hệ số đó quá nhỏ so với 1 thì chỉ tiêu đó có sự bất thường. Nhưng cũng có trường hợp hệ
số so sánh đó ≈ 1 và ổn định nhiều kỳ thì cũng không hẳn là tốt, trường hợp này kiểm toán
viên phải so sánh số quay vòng hàng tồn kho của doanh nghiệp với hệ số quay vòng hàng
tồn kho bình quân của nghành để có thể kết luận.
(5) Đánh giá tính trọng yếu và rủi ro
Trọng yếu là khái niệm về quy mô và bản chất của các sai phạm (kể cả bỏ sót) của
các thông tin tài chính hoặc là đơn lẻ, hoặc là từng nhóm mà trong bối cảnh cụ thể nếu dựa
vào các thông tin này để xét đoán thì không thể chính xác hoặc sẽ rút ra những kết luận sai
lầm. (Theo Giáo trình Kiểm toán tài chính)
Căn cứ vào các thông tin thu thập được ở trên kiểm toán viên ước lượng mức sai
phạm cho phép (mức trọng yếu) cho các khoản mục. Việc phân bổ sẽ được thực hiện theo
2 chiều hướng mà các sai phạm có thể xẩy ra là khai tăng hoặc khai giảm số dư khoản
mục. Việc phân bổ này phụ thuộc phần lớn vào kinh nghiệm của kiểm toán viên nên mang
tính chất chủ quan.
Theo chuẩn mực kiểm toán số 320 tính trọng yếu cần được xem xét qua các bước:
- Ước lượng ban đầu về tính trọng yếu: kiểm toán viên ước tính một mức sai phạm
có thể chấp nhận trên toàn bộ phạm vi Báo cáo tài chính. Ví dụ Một bảng cân đối kế toán
được ước lượng quy mô sai phạm cho phép là 100.000 $ trên quy mô tổng thể là tổng tài
sản là 5.000.000 $
- Phân bổ ước lượng ban đầu về tính trọng yếu ở trên cho các khoản mục trong đó
có các khoản mục thuộc chu trình hàng tồn kho, đối với khoản mục số dư nguyên vật liệu
mức trọng yếu được phân bổ là 5.000 $ và tổng số dư nguyên vật liệu trên bảng cân đối kế
toán là 161.290 $.
cách có thể chấp nhận được". Khi tìm hiểu cơ cấu kiểm soát nội bộ của khách hàng về
hàng tồn kho kiểm toán viên tìm hiểu các vấn đề:
Môi trường kiểm soát đối với hàng tồn kho: kiểm toán viên cần thu thập các thông tin
như:
- Xem xét quan điểm của Ban giám đốc về việc quản lý hàng tồn kho theo mô hình nào
(tập trung hay không tập trung).
- Xem xét cơ cấu nhân sự như thế nào, có phù hợp với yêu cầu thực tế quản lý hàng tồn
kho hay không. Việc tổ chức các bộ phận chức năng, các cá nhân trong bộ phân đó có đáp
ứng được tiêu thức quản lý hàng tồn kho không mất mát, hư hỏng, độ vỡ… Các bộ phận
trực thuộc Ban giám đốc có đủ chức năng để thực hiện công tác nhập - xuất - lưu kho và
quản lý quá trình này trên chứng từ, sổ sách hay không.
- Xem xét tính trung thực của người bảo về hàng tồn kho và người ghi chép, người kiểm
tra, kiểm soát hàng tồn kho trên sổ sách có đủ trình độ và tư chất không.
- Xem xét công ty khách hàng có chịu sự phụ thuộc các đơn vị khác về cung cấp vật tư,
hàng hoá và tiêu thụ sản phẩm hàng hoá không.
Hệ thống kế toán:
- Hệ thống chứng từ gốc sử dụng trong chu trình Hàng tồn kho có đầy đủ và chứng từ sổ
sách về hàng tồn kho có được lưu trữ bảo quản một cách hợp lý không.
- Công việc ghi chép nghiệp vụ nhập, xuất kho vật tư, thành phẩm, hàng hoá như thế nào
được phân công cho ai, người đó có đảm nhiệm các công việc khác có liên quan không (kế
toán thanh toán …).
- Các quy chế của phòng kế toán có khả năng kiểm soát được không nếu tồn tại nghiệp vụ
không có thực mà vẫn ghi sổ hoặc các nghiệp vụ nhập xuất kho đã pháp sinh đều được ghi
sổ đúng đắn.
Các thủ tục kiểm soát:
- Xem xét công ty khách hàng có xây dựng hệ thống quy chế kiểm soát về hàng tồn kho
không?
- Các quy chế có phù hợp không và có đầy đủ không? Điều này được thể hiện các thủ tục
này được xây dựng có dựa trên các nguyên tắc của thủ tục kiểm soát: Nguyên tắc bất kiêm
xuất kho.
- Các chứng từ nhập xuất kho, hoá đơn bán hàng có được đánh số thứ tự trước và được
ghi chép có đúng đắn không.
- …
Phương pháp để nhận diên các hoạt động kiểm soát chủ yếu là do kiểm toán viên quyết
định tuỳ thuộc vào đặc điểm của khách hàng để có thể thu thập thông tin một cách chính
xác nhất. Trong thực tế thường được tiến hành bằng các phương pháp như: Phỏng vấn,
quan sát thực tế, kiểm tra chứng từ, sổ sách hoặc có thể kiểm tra một số nghiệp vụ từ đầu
đến cuối.
Nhận diện và đánh giá các nhược điểm của hệ thống kiểm soát nội bộ: Nhược điểm thể
hiện ở các quá trình kiểm soát được xem như là sự vắng mặt các hoạt động kiểm soát, mà
hoạt động kiểm soát đó thiếu đi sẽ có thể làm gia tăng khả năng sai phạm trên Báo cáo tài
chính. Trong chu trình Hàng tồn kho các hoạt động vắng mặt như: sự phê chuẩn trước khi
nghiệp vụ hàng tồn kho phát sinh, chứng từ gốc về hàng tồn kho tự thiết kế và không phù
hợp với quy định của Bộ tài chinh như phiếu nhập kho thiếu cột đơn giá, thành tiền… là
các quá trình kiểm soát có khả năng làm gia tăng các sai phạm trong chu trình hàng tồn
kho.
Đánh giá rủi ro kiểm soát: Khi các quá trình kiểm soát hiện đang thực hiện tại công ty
và sự vắng mặt các quá trình kiểm soát cần thiết, kiểm toán viên đối chiếu với các mục tiêu
đã đề ra ở trên để đánh giá rủi ro kiểm soát.
Trên đây là quy trình tiến hành đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ trong chu trình
hàng tồn kho. Tuy nhiên khi tiến hành một cuộc kiểm toán chu trình Hàng tồn kho trong
kiểm toán Báo cáo tài chính thì kiểm toán viên có thể không cần thực hiện hết các quá
trình diện ra như trên hoặc thứ tự phải tuân thủ như trên mà phụ thuộc và đặc trưng của
khách hàng để tăng thêm các thủ tục kiểm toán hoặc giảm bớt các thủ tục kiểm toán không
cần thiết với khách hàng đó, điều này sẽ được trình bày củ thể trong phần 2.2.2 ở chương 2
khi xem xét công ty Kiểm toán và Kế toán Hà Nội tiến hành kiểm toán chu trình Hàng tồn
kho của khách hàng A.
(7) Thiết kế các trắc nghiệm kiểm toán
Xác định thời gian thực hiện và kết thúc trắc nghiệm đó.
3.2 Thực hiện kiểm toán chu trình hàng tồn kho
Thực hiện kế hoạch kiểm toán là quá trình thực hiện đồng bộ các công việc đã thiết
kế trong kế hoạch kiểm toán, củ thể là thực hiện các công việc được thiết kế trong 3 loại
trắc nghiệm kiểm toán ở phần trên. trong giai đoạn này, tính nghệ thuật trong tổ chức bao
trùm suốt quá trình. Mặc dù vậy tính khoa học trong tổ chức vẫn đòi hỏi thực hành kiểm
toán phải tôn trọng những nguyên tắc cơ bản sau:
Thứ nhất: Kiểm toán phải tuyệt đối tuân thủ quy trình kiểm toán đã xây dựng, trong mọi
trường hợp kiểm toán viên không được tự ý thay đổi quy trình.
Thứ 2: Trong quá trình kiểm toán, kiểm toán viên phải thường xuyên ghi chép những phát
giác, những nhận định cho kết luận kiểm toán và loại trừ những ấn tượng, nhận xét ban đầu
không chính xác về nghiệp vụ, các sự kiện thuộc đối tượng kiểm toán.
Thứ 3: Định kỳ tổng hợp kết quả kiểm toán để nhận rõ mức độ thực hiện so với khối lượng
công việc chung thường là trên các bảng kê chênh lệch và bảng kê xác minh.
Thứ 4: Mọi điều chỉnh về nội dung, phạm vi, trình tự kiểm toán… đều phải có ý kiến
thống nhất của người phụ trách chung công việc kiểm toán, người ký thư mời và hợp đồng
kiểm toán. Mức độ pháp lý của những điều chỉnh này phải tương ứng với tính pháp lý
trong hợp đồng kiểm toán.
Thực hiện kế hoạch kiểm toán là quá trình sử dụng các trắc nghiệm vào xác minh
các thông tin tài chính. Trình tự kết hợp giữa các trắc nghiệm trước hết phụ thuộc vào kết
quả đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ của kiểm toán viên. Nếu có thể dựa vào hệ thống
kiểm soát nội bộ, kiểm toán viên phải xem xét mức độ tin cậy của hệ thống để sử dụng quy
mô các loại trắc nghiệm công việc cho phù hợp. Đánh giá ban đầu (đánh giá ở phần trên)
về hệ thống kiểm soát nội bộ là có hiệu lực thì kiểm toán viên sẽ tiếp tục thực hiện trắc
nghiệm đạt yêu cầu. Với kết quả thu được là hệ thống kiểm soát này có hiệu lực thì kiểm
toán viên sẽ sử dụng một số ít các trắc nghiệm độ vững chãi để xác minh những sai sót có
thể có. Nếu kết quả cho thấy hệ thống kiểm soát nội bộ không có hiệu lực ngay từ đánh giá
ban đầu hoặc sau khi sử dụng các trắc nghiệm đạt yêu cầu thì kiểm toán viên sẽ áp dụng
các trắc nghiệm độ vững chãi với quy mô lớn. Quy mô trình tự và các kết hợp cụ thể của