1
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI: “THỰC TRẠNG KẾ TOÁN CHI
PHÍ SX VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SP TẠI
CÔNG TY CỔ PHẨN ĐÁ ỐP LÁT VÀ XÂY
DỰNG HÀ TÂY.”
2
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU
5
CHƯƠNG 1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ
TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG CÁC DOANH NGHIỆP
1.5.4. Theo hình thức sổ Nhật ký chứng từ 32
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG KẾ TOÁN CHI PHÍ SX VÀ TÍNH GIÁ
THÀNH SP TẠI CÔNG TY CỔ PHẨN ĐÁ ỐP LÁT VÀ XÂY DỰNG HÀ
TÂY
34
2.1. Tổng quan về Công ty cổ phần đá ốp lát và xây dựng Hà Tây
34
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển 34
2.1.2. Đặc điểm tính chất hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty 37
2.2. Tổ chức công tác kế toán 41
2.2.1. Đặc điểm tổ chức bộ máy kế toán 41
2.2.2. Đặc điểm tổ chức chứng từ kế toán, tài khoản kế toán, sổ kế toán 43
2.3. Thực tế kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty cổ
phần đá ốp lát và xây dựng Hà Tây 48
2.3.1. Đặc điểm chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm tại Công ty cổ phần
đá ốp lát và xây dựng Hà Tây 48
2.3.2. Kế toán chi phí sản xuất 50
2.3.2.1. Kế toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp 50
2.3.2.2. Kế toán chi phí nhân công trực tiếp 57
4
2.3.2.3. Kế toán chi phí sản xuất chung 65
2.2. Phưong pháp xây dựng chi phí sản xuất sản phẩm dở dang 77
2.3. Phương pháp tính giá thành sản phẩm 78
CHƯƠNG 3. HOÀN THIỆN KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ
THÀNH SẢN PHẨM TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN ĐÁ ỐP LÁT VÀ XÂY
DỰNG HÀ TÂY
82
3.1. Đánh giá thực trạng về kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản
phẩm tại Công ty cổ phần đá ốp lát và xây dựng Hà Tây 82
Trong công tác quản lý doanh nghiệp, chi phí sản xuất và tính giá thành
sản phẩm là hai chỉ tiêu quan trọng luôn được các doanh nghiệp quan tâm.
Thông qua các số liệu mà bộ phận kế toán đã tập hợp và cung cấp cho các nhà
quản trị doanh nghiệp phân tích và đánh giá về định mức chi phí lao động, vật
tư, máy móc thiết bị, để kịp thời đưa ra các biện pháp hữu hiệu nhằm điều
chỉnh hợp lý hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Do đó, việc
đánh giá và tính toán chính xác chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là một
công việc hết sức quan trọng.
Nhận thức được vai trò và tầm quan trọng của việc xác định chi phí sản
xuất và tính giá thành sản phẩm cùng với những kiến thức đã học, qua thời
gian thực tế tại Công ty cổ phần đá ốp lát và xây dựng Hà Tây, em đã đi sâu
nghiên cứu đề tài: “Hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành
sản phẩm tại Công ty cổ phần đá ốp lát và xây dựng Hà Tây”. Trong qua
trình nghiên cứu và lý luận thực tế kết hợp với kiến thức đã học ở trường cùng
6
với sự hướng dẫn của thầy cô và sự nỗ lực của bản thân em đã hoàn thành đề
tài này.
Nội dung đề tài ngoài phần mở đầu và kết luận gồm 3 chương:
Chương 1: Lý luận chung về kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành
sản phẩm trong các doanh nghiệp.
Chương 2: Thực trạng kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sả
phẩm tại Công ty cổ phần đá ốp lát và xây dựng Hà Tây.
Chương 3: Hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản
phẩm tại Công ty cổ phần đá ốp lát và xây dựng Hà Tây.
người sản xuất.
Cần chú ý phân biệt giữa 2 khái niệm: chi phí và chi tiêu. Chi phí là
biêu hiện bằng tiền của toàn bộ hao phí về lao động sống và lao động vật hóa
cần thiết cho quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh mà doanh nghiệp phải
chi ra cho một kỳ sản xuất kinh doanh. Như vậy, có thể thấy chỉ được tính là
chi phí của kỳ hạch toán những hao phí về tài sản và lao động có liên quan
đến khối lượng sản phẩm sản xuát ra trong kỳ chứ không phải mọi khoản chi
ra trong kỳ hạch toán. Trái lại, chi tiêu là sự giảm đi đơn thuần các loại vật tư,
tài sản, tiền vốn của doanh nghiệp, bất kể nó được dùng vào mục đích gì.
Tổng số chi tiêu trong kỳ của doanh nghiệp bao gồm chi tiêu cho quá trình
8
sản xuất kinh doanh (chi cho sản xuất, chế tạo sản phẩm, công tác quản lý…)
và chi tiêu cho quá trình tiêu thụ (chi vận chuyển, bốc dỡ, quảng cáo…)
Chi phí và chi tiêu là hai khái niệm khác nhau vể mặt lượng và cả về
mặt thời gian nhưng có quan hệ mật thiết với nhau. Chi tiêu là cơ sở phát sinh
chi phí, không có chi tiêu thì sẽ không có chi phí. Tổng số chi phí trong kỳ
của doanh nghiệp bao gồm toàn bộ giá trị tài sản hao phí hoặc tiêu dùng hết
cho quá trình sản xuất kinh doanh tính vào kỳ này.
Như vậy, có thể kết luận rằng: chi phí sản xuất là biểu hiện bằng tiền
của toàn bộ hao phí mà doanh nghiệp phải tiêu dùng trong một kỳ để thực
hiện quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Thực chất chi phí là sự dịch
chuyển vốn- chuyển dịch giá trị của các yếu tố sản xuất vào các đối tượng
tính giá (sản phẩm, dịch vụ, lao vụ).
1.1.2 Phân loại chi phí sản xuất
Trong quá trình kinh doanh, chi phí sản xuất có rất nhiều loại, nhiều
khoản, khác nhau cả về nội dung, tính chất, công dụng, vai trò, vị trí…. Để
thuận lợi cho công tác quản lý và hạch toán, cần thiết phải tiến hành phân loại
chi phí sản xuất. Xuất phát từ những mục đích và yêu cầu khác nhau của quản
lý, chi phí sản xuất cũng được phân loại theo những tiêu thức khác nhau. Phân
Chi phí tiền lương và các khoản phụ cấp theo lương: bao gồm tổng số
tiền lương và phụ cấp mang tính chất lương phải trả cho toàn bộ công nhân,
viên chức.
Chi phí bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn: bao gồm
phần bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn trích theo tỷ lệ quy
định trên tổng số tiền lương và phụ cấp lương phải trả công nhân viên.
10
Chi phí khấu hao TSCĐ: phản ánh tổng số khấu hao tài sản cố định
phải trích trong kỳ của tất cả TSCĐ sử dụng cho sản xuất kinh doanh trong
kỳ.
Chi phí dịch vụ mua ngoài: phản ánh toàn bộ chi phí dịch vụ mua ngoài
dùng vào sản xuất kinh doanh.
Chi phí khác bằng tiền: phản ánh toàn bộ chi phí khác bằng tiền chưa
phản ánh ở các yếu tố trên dùng vào hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ.
b. Phân loại theo khoản mục chi phí trong giá thành sản phẩm
Theo cách này, căn cứ vào ý nghĩa của chi phí trong giá thành sản
phẩm và để thuận tiện cho việc tính giá thành toàn bộ, chi phí được phân chia
theo khoản mục. Cách phân loại này dựa vào công dụng của chi phí và mức
phân bổ chi phí cho từng đối tượng. Cũng như cách phân loại theo yếu tố, số
lượng khoản mục chi phí trong giá thành sản phẩm tùy thuộc vào trình độ
nhận thức, trình độ quản lý và hạch toán ở mỗi nước, mỗi thời kỳ khác nhau.
Theo quy định hiện hành tại Việt Nam hiện nay, giá thành sản phẩm
bao gồm 5 khoản mục chi phí:
Chi phí nguyên,vật liệu trực tiếp: phản ánh toàn bộ chi phí về nguyên,
vật liệu chính, phụ, nhiên liệu…tham gia trực tiếp vào việc sản xuất, chế tạo
sản phẩm hay thực hiện lao vụ, dịch vụ.
Chi phí nhân công trực tiếp: gồm tiền lương, phụ cấp lương và các
khoản trích cho các quỹ BHXH, BHYT, KPCĐ theo tỷ lệ với tiền lương phát
sinh.
thành
= Chi phí sản
xuất dở
dang dầu
kỳ
+
Chi phí sán xuất phát
sinh trong kỳ( đã trừ
các khoản thu hồi ghi
giảm chi phí)
- Chi phí sản
xuất dở
dang cuối
kỳ
Chi phí sản
xuất dở dang đầu kỳ
Chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ
Tổng giá thành sản phẩm
Chi phi sản xuât dở dang
cuối kỳ
A
B
C
D
- Giá thành kế hoạch: giá thành được xác định trước khi bước vào kinh
doanh trên cơ sở giá thành thực tế kỳ trước và các định mức, các dự toán chi
phí của kỳ kế hoạch.
- Giá thành định mức: cũng như giá thành kế hoạch, giá thành định
mức cũng được xác định trước khi bắt đầu sản xuất sản phẩm. Tuy nhiene
khác với giá thành kế hoạch được xây dựng trên cơ sở các định mức bình
quân tiên tiến và không biến đổi trong suốt cả kỳ kế hoạch, giá thành định
mức lại được xây dựng trên cơ sở các định mức chi phí hiện hành tại từng
thời điểm nhất định trong kỳ kế hoạch (thường là ngày đầu tháng nên giá
thành định mức luôn thay đổi phù hợp với sự thay đổi của các định mức chi
phí đạt được trong quá trình sản xuât sản phẩm.
- Giá thành thực tế: giá thành thực tế là chỉ tiêu được xác định sau khi
kết thúc quá trình sản xuất sản phẩm trên cơ sở các chi phí phát sinh trong quá
trình sản xuất sản phẩm.
Theo phạm vi phát sinh chi phí, giá thành được chia thành giá thành
sản xuất và giá thành tiêu thụ:
- Giá thành sản xuất (giá thành công xưởng) là chỉ tiêu phản ánh tất cả
những chi phí phát sinh liên quan đến việc sản xuất, chế tạo sản phẩm trong
phạm vi phân xưởng, bộ phận sản xuât, bao gồm chi phí nguyên vật liệu trực
tiếp, nhân công trực tiếp và chi phi sản xuất chung.
- Giá thành tiêu thụ (giá thành toàn bộ) là chỉ tiêu phản ánh toàn bộ các
khoản chi phí phát sinh liên quan đến việc sản xuất, tiêu thụ sản phẩm (chi phí
sản xuất, quản lý và bán hàng. Do vậy, giá thành tiêu thụ còn gọi là giá thành
đầy đủ hay giá thành toàn bộ và được tính theo công thức:
14
1.3. Kế toán chi phí sản xuất trong các doanh nghiệp
1.3.1. Trình tự hạch toán chi tiết chi phí sản xuất và tính giá thành sản
phẩm
Để phục vụ cho việc tính giá thành sản phẩm được chính xác, nhanh
+Chi phí quản
lý doanh
nghiệp +Chi phí tiêu thụ
sản phẩm
15
dang cuối kỳ cùng với các bảng kê khai khối lượng sản phẩm, dịch vụ hoàn
thành trong kỳ.
1.3.2. Trình tự hạch toán tổng hợp chi phí sản xuất
Chi phí sản xuất của doanh nghiệp bao gồm nhiều loại với tính chất và
nội dung khác nhau, phương pháp hạch toán và tính nhập chi phí vào giá
thành sản phẩm cũng khác nhau. Khi phát sinh, trước hết chi phí sản xuất
được biểu hiện theo yếu tố chi phí rồi mới được biểu hiện thành các khoản
mục giá thành sản phẩm.
Việc tập hợp chi phí sản xuất phải được tiến hành theo một trình tự hợp
lý, khoa học thì mới có thể tính giá thành sản phẩm một cách chính xác, kịp
thời được. Trình tự này phụ thuộc vào đặc điểm sản xuất kinh doanh của từng
doanh nghiệp, từng ngành nghề, vào mối quan hệ giữa các hoạt động sản xuất
kinh doanh trong doanh nghiệp và phụ thuộc vào trình độ công tác quản lý và
không thể tổ chức hạch toán riêng biệt được thì phải phân bổ cho các đối
tượng theo tiêu thức phù hợp như theo định mức tiêu hao, theo hệ số, theo số
lượng, theo trọng lượng. Công thức phân bổ như sau:
Chi phí NVLTT phân
bổ cho từng đối tượng
(hoặc sản phẩm)
= Tổng tiêu thức phân
bổ của từng đối tượng
(hoặc sản phẩm)
+ Tỷ lệ (hệ số)
phân bổ Tỷ lệ (hệ số)
phân bổ
= Tổng chi phí NVLTT cần phân bổ
Tổng tiêu thức phân bổ của tất cả các đối tượng
17
Chi phí NVL trực tiếp bao gồm giá trị nguyên vật liệu đã xuất dùng
(4) Cuối kỳ kết chuyển chi phí nguyên vật liệu trực tiếp để tính giá thành.
1.3.2.2. Kế toán chi phí nhân công trực tiếp
Chi phí nhân công trực tiếp là những khoản thù lao lao động phải trả
cho lao động trực tiếp sản xuất sản phẩm, lao vụ, dịch vụ và các khoản trích
cho các quỹ BHXH, BHYT, KFCĐ trên tiền lương, phụ cấp lương phải trả
lao động trực tiếp theo tỷ lệ 19%.
a. Tài khoản sủ dụng:
Để theo dõi khoản mục chi phí nhân công trực tiếp, kế toán sử dụng TK
622 “ Chi phí nhân công trực tiếp”.
b. Trình tự hạch toán:
Trình tự hạch toán được thể hiện qua sơ đồ sau:
Sơ đồ 2: Kế toán chi phí nhân công trực tiếp theo phương pháp KKTX
Chú thích:
TK 334
TK 335
TK 338
TK 622
TK 154
(1)
(2)
(3)
(4)
19
(1) Tính ra tiền lương, phụ cấp lương, tiền ăn ca phải trả cho lao động trực
tiếp sản xuất sản phẩm, thực hiện dịch vụ.
(2) Trích trước tiền lương nghỉ phép theo kế hoạch sản xuất của lao động trực
tiếp.
(3) Trích BHXH, BHYT, KPCĐ trên tiền lương, phụ cấp lương phải trả lao
Trình tự hạch toán được thể hiện qua sơ đồ sau:
Sơ đồ 3: Kế toán chi phí trả trước theo phương pháp KKTX Chú thích:
(1) Giá trị công cụ dụng cụ xuất kho sử dụng thuộc loại phân bổ từ 2 lần trở
lên.
(2) Tổng chi phí sửa chữa lớn TSCĐ ngoài kế hoạch.
(3) Các chi phí trả trước khác phát sinh.
(4) Phân bổ chi phí trả trước.
TK 153
TK 2413
TK 111,112,331
(3a)
(3b)
TK 133
TK 142,242
TK 627,641,642,635
(4)
(1)
(2)
21
1.3.2.4. Kế toán chi phí phải trả
Chi phí phải trả (hay chi phí trích trước ) là những chi phí thực tế chưa
phát sinh nhưng do tính chất của chi phí hoặc do yêu cầu của quản lý nợ được
tính vào chi phí hoạt động của kỳ hạch toán. Kế toán tiến hành trích trước chi
phí khi khoản chi phí phải trả này có liên quan đến nhiều kỳ kế toán (từ 2 niên
độ trở lên).Thuộc loại chi phí này bao gồm:
(1) Trích trước tiền lương nghỉ phép của lao động trực tiếp theo kế hoạch.
(2) Trích trước chi phí sửa chữa lớn TSCĐ và chi phí về ngừng sản xuất theo
kế hoạch.
(3) Trích trước chi phí bảo hành sản phẩm và sửa chữa lớn TSCĐ của bộ phận
bán hàng và quản lý.
(4) Ghi nhận lãi tiền vay
(5) Tiền lương phép thực tế phải trả lao động trực tiếp, kế toán ghi:
(6) Kết chuyển tổng chi phí sửa chữa lớn TSCĐ theo kế hoạch
(7) Các chi phí phải trả khác thực tế phát sinh.
1.3.2.5. Kế toán chi phi sản xuất chung
“ Chi phí sản xuất chung là những chi phí phát sinh ở phạm vi phân
xưởng mà chưa được phản ánh vào hai khoản mục chi phí nguyên vật liệu
trực tiếp và chi phí nhân công trực tiếp ở trên.”
a. Tài khoản sử dụng
Để theo dõi chi phí sản xuất chung, kế toán sử dụng TK 627 “Chi phí
sản xuất chung”.
b. Trình tự hạch toán
Chú thích:
(1) Giá trị nguyên vật liệu sử dụng gián tiếp cho phân xưởng sản xuất
(2) Công cụ dụng cụ xuất kho cho sản xuất thuộc loại phân bổ một lần.
(3) Phân bổ chi phí trả trước, trích trước chi phí phải trả vào chi phí SXC.
(4) Tiền lương và các khoản trích theo lương của nhân viên phân xưởng.
(5) Khấu hao TSCĐ của bộ phận sản xuất.
(6) Chi phí dịch vụ mua ngoài, chi phí bằng tiền khác.
(7) Các khoản thu hồi ghi giảm chi phí sản xuất chung.
(8) Kết chuyển chi phí sản xuất chung để tính giá thành.
23
(9) Kết chuyển chi phí sản xuất chung sang TK giá vốn trong truờng hợp hoạt
động dưới mức công suất bình thường.
thức phân bổ chi phí sản xuất chung thường sử dụng là phân bổ theo chi phí
NVL trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, phân bổ theo định mức,…v.v
1.3.2.6. Tổng hợp chi phí sản xuất
Sau khi tập hợp các chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ vào các khoản
mục chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp và chi phí
sản xuất chung kế toán tiến hành kết chuyển toàn bộ chi phí sản xuất phát sinh
trong kỳ vào bên Nợ TK 154 “Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang” để chuẩn
bị cho công tác tính giá thành sản phẩm. TK 154 dùng để tổng hợp chi phí sản
xuất phát sinh trong kỳ và tính ra tổng giá thành sản phẩm, dịch vụ hoàn
thành trong kỳ.
Tài khoản này được mở chi tiết theo từng ngành sản xuất, từng nơi phát sinh
chi phí, từng sản phẩm, nhóm sản phẩm…
Kế toán tổng hợp chi phí sản xuất thể hiện qua sơ đồ sau:
Sơ đồ 6: Kế toán tập hợp chi phí sản xuất theo Phương pháp KKTX
Chú thích:
(1) Kết chuyển chi phí NVL trực tiếp.
TK 627
TK 622
TK 621 TK 154
TK 1381
TK 155
TK 157
TK 632
(1)
(2)
(3)
(4)
(5)
(6)
phẩm trong từng doanh nghiệp cụ thể, tùy thuộc vào đối tượng hạch toán chi