A. Lời mở đầu
Công nghiệp thép là ngành công nghiệp cơ bản của Vịêt Nam trong quá
trình công nghiệp hóa và có định hướng thay thế nhập khẩu.
Sản xuất thép không thuộc loại ngành sinh lời cao,lại đòi hỏi vốn đầi tư
lớn, lâu thu hồi vốn nên kém hấp dẫn đối với các nhà đầu tư ( cả trong và
ngoài nước).Tuy nhiên sản phẩm của ngành thép có liên quan đến hầu hết các
ngành kinh tế và quốc phòng của một nước.vì thế một đất nước đã quyết tâm
Trở thành nước công nghiệp thì không thể không phát triển ngành
thép.Điều đó đòi hỏi nhà nước phảI có sự quan tâm đặc biệt đối với ngành
công nghiệp này.Nhận biết được tầm quan trọng của ngành công nghiệp thép
ở Việt Nam,em xin trình bày vấn đề: Thực trạng và một số giải pháp phát
triển ngành công nghiệp thép Việt Nam
Nội dung đề tài gồm 3 phần chính:
Phần 1:Tổng quan về ngành công nghiệp thép Việt Nam
Phần này tập trung làm rõ quá trình hình thành và phát triển của ngành
thép Việt Nam; đặc điểm của ngành thép; vai trò của ngành thép trong nền
kinh tế quốc dân và quan điểm phát triển ngành thép Việt Nam.
Phần 2: Thực trạng ngành công nghiệp thép Việt Nam
Phần này bao gồm thực trạng và triển vọng thị trường thép Việt Nam,
tình hình sản xuất thép và phân phối thép ở Việt Nam.
Phần 3: Một số giảI pháp phát triển ngành thép Việt Nam.
1
B.NỘI DUNG
Phần 1: tổng quan ngành công nghiệp thép của VIỆT NAM
I.quá trinh hình thành và phát triển ngành công nghiệp thép VIệT
NAM
Lịch sử nghảnh công nghiệp thép có thể chia làm 2 giai đoạn lớn là trước
và sau ngày đất nước thống nhất(1975).
1.1.ngành công nghiệp thép hình thành trong điều kiện đất nước bị
chia cắt
Thời kỳ này ngành thép của 2 miền được hình thành dưới 2 hệ thống với
-năm 1996_2000, ngành thép vẫn gĩư dược tốc độ tăng trưởng khá
cao,tiếp tục được đầu tư mới và đầu tư theo chiều sâu.Đã xây dựng và hoạt
động 13 dự án liên doanh ,trong đó có 12 nhà máy liên doanh cán thép& da
công chế biến sau cán.sản lượng cán thép cả nước năm 2000 đạt 1,57 triệu tấn
gấp 3 lần năm 1995 và gấp 14 lần năm 1990.Đây là thời kỳ có tốc đọ tăng
trưởng mạnh nhất.
- Hiện nay,lực lượng tham gia sản xuất & gia công chế biiến thép trong
nước rất đa dạng.Gồm nhiều thành phần kinh tế,ngoài tổng công ty thép Việt
Nam& các cơ sở quốc doanh thuộc các ngành,địa phương khác nhau,còn có
các liên doanh ,các công ty cổ phần ,công ty 100% vốn nước ngoài & các
công ty tư nhân.Sau 10 năm đổi mới và tăng trưởng,ngành thép Việt Nam đã
có công suất luyện thép lò luyện 500000 tấn/năm,công suất cán thép kể cả các
đơn vị ngoài TCT thép Việt Nam tới 2,6 triệu tấn/năm,gia công sau cán trên
500000 tán/năm.
II.Đặc điểm của ngành công nghiệp thép Việt Nam
2.1.thép là gì?
thép là loại vật liệu cơ bản ,không thẻ thiếu trong nhiều ngành công
nghiệp ,do nó có nhiều ưu điểm so với các loại vật liẹu khác như: sự kết hợp
giữa độ cứng,độ bền, dễ gia công, dễ tái sinh, có thể từ hóa & có tính kỹ thuệt
cao. Nhờ những tính năng ưu việt này,thép được sử dụng rộng rãI trong nhiều
3
ngành công nghiệp như: ô tô,thiết bị điện,đóng tàu, xây dựng, giao thông và
công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng có tuổi thọ cao.ở các nước,công nghiệp
thép được coi là bộ phận quan trọng của nền kinh tế.
2.2.Quy trình sản xuất thép
Quy trình sản xuất thép hoàn chỉnh được thực hiện thông qua 6 công
đoạn cơ bản: (1) thiêu kết, (2) luyện cốc, (3) luyện gang, (4) luyện thép, (5)
đúc thép, (6) cán thép.Ba công đoạn đầu tiên của quy trình sản xuất thép
thường tạo ra những sản phẩm tương đối đồng nhất.Từ công đoạn thứ tư trở
đi, các sản phẩm sẽ bắt đầu được phân nhánh theo 2 nhóm chủ yếu là các sản
lượng sản phẩm thép còn có thể làm cho các nhà sản xuất mất uy tín trên thị
trường.Nhiều sản phẩm thép trước khi được đưa vào sử dụng đòi hỏi phảI trảI
qua những giai đoạn gia công đặc biệt.Vì vậy,quá trình lưu thông thép chỉ có
thể tạo ra giá trị gia tăng nếu nó giúp người sản xuất & người tiêu dùng dự
trữ, bảo quản sản phẩm hợp lý,cắt giảm được chi phí vận chuyển tiêu dùng
thép thuận tiện và có chất lượng đản bảo.
III.Vai trò của ngành công nghiệp thép trong nền kinh tế quốc dân
- Nhu cầu sắt thép luôn tăng hàng năm theo hàm số mũ công nghiệp hóa
và phát triển kinh tế.Vì vậy, phát triển ngành thép nội địa sẽ cho phép các
quốc gia tiết kiệm được ngoại tệ từ việc cắt giảm nhập khẩu và cảI thiện được
các cân thanh toán.
- Phát triển ngành công nghiệp thép sẽ góp phần hình thành và thúc đẩy
phát triển các ngành công nghiệp khác mà thép là loại nguyên liệu chủ yếu
của các ngành này.
- Phát triển công nghịêp thép cho phép khai thác và sử dụng triệt để các
tiềm năng sản xuất thép trong nước.
- Tạo cơ hội việc làm bằng cách thúc đẩy phát triển các ngành có liên
quan đến công nghiệp gang thép như giao thông vận tảI, sữa chữa & bảo
dưỡng, các lĩnh vực kỹ thuật liên quan.
5
IV.Quan điiểm phát triển ngành thép Viêt Nam giai đoạn
2007_2015, có xét đến năm 2025
Theo điều 1 của quyết định số 145/2007/QĐ-TTG ngày 04/9/2007 của
thủ tướng chính phủ đã đưa ra quan điểm:
•phát triển ngành thép Việt Nam phù hợp với quy hoạch tổng thể phát
triển kinh tế – xã hội và ngành côn nghiệp của cả nước,quy hoạch phảt triển
kinh tế - xã hội các địa phương và lộ trình hội nhập của Việt Nam.
•Xây dựng và phát triển ngành thép Việt Nam thành một ngành công
nghiệp quan trọng,bảo đảm phát triển ổn định và bền vững, giảm thiểu sự mất
cân đối giữa sản xuất gang, phôI thép với sản xuất thép thành tấm, giữa sản
Mặc dù nhu cầu thép không chắc chắn và khó dự đoán.nhưng nhiều
chuyên gia trên lĩnh vực thép tin tưởng rằng có những cơ sở xác đáng về một
triển vọng tăng trưởng cao của nhu cầu thép ở Việt Nam trong thời gian
tới.Từ những lý do:Thứ nhất,mức tiêu dùng thép bình quân đàu người hàng
năm ở Việt Nam vẫn thấp so với ở nhiều nước………..Thứ hai,tốc độ tăng
trưởng kinh tế sẽ tiếp tục ở mức cao,cơ cấu kinh tế sẽ tiếp tục chuyển dịch
theo hướng công nghiệp, các ngành công nghiệp và xây dựng sẽ tiếp tục đạt
tốc độ tăng trưởng cao ở mức khoảng 10_10,5% năm và sẽ chiếm khoảng
7
40_41% GDP vào năm 2010.Thứ ba,hệ thống cơ sở hạ tầng sẽ tiếp tục được
ưu tiên đầu tư phát triển. Hệ thống mạng lưới phân phối điện, hệ thống đường
sắt,cầu vượt, các cơ sở đóng và sữa chữa tàu thủy tiếp tục được đầu tư theo
hướng đồng bộ hó và hiện đại hóa.Thứ tư, nguồn gỗ có thể khai thác đang
ngày càng bị cạn kiệt dần, và người tiêu duùng bắt đầu có xu hướng sử dụng
các vật làm bằng kim loại thay cho gỗ.
Với những nhận định trên cùng xu hướng tăng trưởng nhu cầu thép được
quan sát trong những năm qua,nhiêù nhà chuyên môn dự đoán nhu cầu thép
thành phẩm của Việt Nam dự kiến:
Bảng 1: Chính phủ và hiệp hội thép Việt Nam dự báo nhu cầu thép thành
phẩm của Việt Nam dự kiến từ năm 2010_2025:
Triệu tấn/năm 2010 2015 2020 2025
Chính phủ 10_11 15_16 20_21 24_25
Hiệp hộ thép 10 15 20
Nguồn: Theo quyết định số 145/ 2007/ QĐ_TTG ngày 4/9/2007 của thủ
tướng chính phủ phê duyệt quy hoạch phát triển ngành Thép Việt Nam giai
đoạn 2007-2015,có xét đến năm 2025.
1.2.Vấn đề thu hút dự án đầu tư vào ngành công nghiệp thép ở Việt
Nam
Với tốc độ tăng trưởng cao của nhu cầu thép cùng những thay đổi căn
bản trong chính sách thương nhân và chính sách thu hút vốn đầu tư nước
đoàn Lion Group_Vinashin công suất dự kiến 4,5 triệu tấn/năm.
Thị trường Việt Nam đang có nhiều cơ sở để thu hút các tập đoàn thép
lớn thế giới là do: Mức tiêu thụ thép đang tăng; môI trường đầu tư được cảI
thiện rõ rệt sau khi Việt Nam gia nhập WTO & GDP tăng trưởng ổn định;
Việt Nam có lợi thế về nhân công,ổ định chính trị ,đặc biệt là những cam kết
về chính sách của chính phủ cũng như thiện chí hợp tác của những doanh
nghiệp Việt Nam.Việc thu hút được nhiều nhà đầu tư mang lại nhiều thuận lợi
9
cho Việt Nam: Có nhiều liên hợp thép mạnh ở trong nước giúp chủ động
trong ngành công nghiệp này;Đáp ứng tối đa nhu cầu về sản phẩm thép của
nền kinh tế và tăng cường xuất khẩu.Nhưng bên cạnh đó cũng có nhiều bất
lợi: Khả năng dư thừa thép trong nước là cực lớn,tổng công suất của các nhà
máyđã được cấp phép lên tới trên 50 triệu tấn/năm trong khi theo dự báo của
hiệp hội thép Việt Nam, nhu cầu thép của Việt Nam chỉ đạt khoảng 10-11
triệu tấn vào năm 2010; công nghiệp thép là một ngành quan trọng mà sản
phẩm có liên quan đến hầu hết các ngành kinh tế & quốc phòng của đất
nước.Nếu toàn bộ liên hợp là vốn FDI của nước ngoài sẽ làm vai trò củ nước
chủ nhà Việt Nam trong ngành công nghiệp này sẽ không có.Nếu dự án 100%
vốn nước ngoài thì Việt Nam chỉ có thể theo dõi việc thực hiện dự án ở 2 lĩnh
vực công nghệ và tác động môI trường.Nhưng ở 2 lĩnh vực này nếu Việt Nam
không trực tiếp tham gia dự án thì những thông tin nêu trong dự án hoàn toàn
không có đủ cơ sở để giám sát;Số lượng dự án đầu tư là quá nhiều,có một số
dự án được chấp nhận dễ dãI, đối tác không lựa chọn. Đó là những đối tác
chẳng có kinh nghiệm hoặc thứ bậc gì về thép,nhiều dự án được ký nhưng
không triển khai vì thiếu vốn.Những thu hút đầu tư của Việt Nam thì biến
thành lời nhuận của những anh cơ hội.Còn hậu quả thì ta gánh chịu ,họ dữ đát
đai lâu trong khi hàng ngàn hộ lao động nông nghiệp mất đất,dự án khác
muốn vào không được.Ngoài ra còn có việc bán dự án cho đối tác khác để ăn
chênh lệch.
Nếu thiếu quy hoạch và kiểm soát đầu tư thì nhiều dự án luyện thép có
Nam,các sản phẩm của các công đoạn trước như gang và quặng thiêu kết chỉ
chiếm tỷ trọng không đáng kể do ngành sản xuất thép Việt Nam chủ yếu tập
trung ở công đoạn cán thép.Trong khi đó do nhu cầu sử dụng thép ở Việt Nam
trong những năm qua chỉ ở mức độ thấp,nên khối lượng thép phế thảI có thể
thu mua trong nước cũng tương đối khan hiếm.Trong giai đoạn 1998-2002
11
nhu cầu phôI thép tăng trưởng khá nhanh đạt mức bình quân hàng năm
khoảng 19% và từ năm 2002 đang có xu hướng tăng ngày càng nhanh.
Bảng 3:Thị trường phôI thép
Đơn vị: 1000 tấn
1998 1999 2000 2001 2002 B/quân
g/doạn
98-02
Nhu cầu phôI
thép
1352 1546 1690 2125 2707
Khối lượng sản
xuất trong nước
526 548 590 425 501
Tỷ lệ sản xuất
trong nước
38.93% 35.47% 34.91% 19.98% 18.51% 29.56%
Khối lượng
nhập khẩu
826 997 1100 1700 2206
Tỷ lệ nhập khẩu 61.07% 64.53% 65.09% 80.02% 81.49% 70.44%
Nguồn: cơ sở số liệu được cung cấp bởi VSC, VSA, NEU-JICA
Tuy nhiên sản lượng phôI thép sản xuất trong nước chỉ đạt ở mức rất
thấp và không có xu hướng gia tăng rõ rệt.Vì vậy nhu cầu phôI thép chủ yếu
được đáp ứng bằng nguồn nhập khẩu và có xu hướng ngày càng phụ thuộc
là giá nguyên liệu nhập khẩu tăng.Phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu nhập
khẩu,phụ thuộc vào chính sách thuế nhập khẩu của các nước, phụ thuộc vào
chính sách thuế trong nước…đẫ khiến các nhà sản xuất thép trong nước luôn
luôn trong tình trạng “ vừa sản xuất vừa trong chừng”.Cụ thể sau khi Trung
Quốc có những thay đổi trong chính sách thuế như thoáI thu thuế VAT,giảm
thuế xuất khẩu… dẫn đến giá thép nhập khẩu vào Việt Nam rẻ một cách “bất
ngờ”.Đứng bên cạnh một nước có tiềm lớn về sản xuất thép ( trên 300 tr
tấn/năm) và cũng là thị trường chính cung cấp phôI thép cho Việt Nam nên
nguồn thép Việt Nam ( có nguồn lực sản xuất trên 3 tr tấn/năm) hoàn toàn bị
động.
13
Điển hình năm 2007,6 tháng cuối năm giá thép trong nước tăng với tốc
độ chóng mặt từ lớn hơn 8 triệu đồng/tấn thép cuộn hồi tháng 6 đạt năng 10
triệu đồng/tấn vào đầu tháng 8.Đây là mức giá cao từ trước tới nay và tăng
khoảng gần 2 triệu đồng /tấn so với cùng kỳ năm 2006.Nguyên nhân chính
theo hiệp hội thép là giá nguyên liệu nhập khẩu tăng, phụ thuộc vào nguồn
nguyên liệu nhập khẩu,phụ thuộc vào chính sách thuế nhập khẩu của các
nước, phụ thuộc vào chính sách thuế trong nước đã khiến các nhà sản xuất
thép trong nước luôn trong tình trạng “ vừa sản xuất_vừa trong chừng”.Cụ thể
sau khi Trung Quốc có những thay đổi về chính sách thuế như thoáI thu
VAT,giảm thuế xuất khẩu…dẫn đến giá thép nhập vào Việt Nam rẻ một cách
“ bất ngờ”.Đứng bên cạnh một nước có tiềm lực lớn về sản xuất thép vốn lớn
hơn 300 triệu tấn /năm và cũng là thị trường chính cung cấp phôI thép cho
Việt Nam nên nguồn thép Việt Nam ( có năng lực sản xuất khoảng hơn 3 triệu
tấn/năm) hoàn toàn bị động
II.tình hình sản xuất thép ở Việt Nam
2.1 Quy mô sản xuất thép
Thép được coi là ngành sản xuất nguyên liệu chủ yếu cho nhiều ngành
công nghiệp khác ở Việt Nam. Truớc năm 1990, nhà nứơc độc quyền sản xuất
và buôn bán thép, trong bối cảnh đó ngành thép phát triển rất chậm. Sau năm