36 Tạp chí Y tế Công cộng, 8.2012, Số 25 (25)
| TỔNG QUAN & NGHIÊN CỨU |
Mức độ đau mỏi vai gáy ở nhân viên văn phòng
sử dụng máy vi tính và một số yếu tố
nghề nghiệp liên quan
Trần Thò Thu Thủy (*)
Một nghiên cứu cắt ngang được thực hiện để xác đònh mức độ đau mỏi vai gáy và tìm hiểu mối liên
quan giữa một số yếu tố nghề nghiệp và chỉ số Tàn tật cổ (Neck Disability Index, NDI) trong nhân
viên văn phòng sử dụng máy vi tính tại Hà Nội.
316 đối tượng từ 5 cơ quan hoàn thành bộ câu hỏi phát vấn. Phân tích ANCOVA được thực hiện nhằm
xác đònh yếu tố nguy cơ liên quan đến mức độ đau mỏi vai gáy có kiểm soát yếu tố nhiễu.
23,1% đối tượng không bò đau gáy, 64,6% đau nhẹ, 11,7% đau trung bình và 0,6% bò đau nặng. Chỉ
số NDI trung bình của toàn mẫu là 17,2 và tăng ở nhóm có bò đau gáy (21,1). Các yếu tố liên quan
đến chỉ số NDI cao bao gồm ghế ngồi không có đệm lót, dùng chung bàn làm việc và không thoảùi
mái với góc làm việc.
Để dự phòng đau vai gáy tiến triển, nhân viên văn phòng cần lựa chọn bàn ghế phù hợp để có tư thế
ngồi thoải mái và rút ngắn thời gian làm việc liên tục với máy vi tính.
Từ khóa: Đau mỏi vai gáy, nhân viên văn phòng, chỉ số tàn tật cổ, nghề nghiệp, máy vi tính, tâm sinh
lý lao động, khoa nghiên cứu về lao động.
Level of self-reported neck pain and disability
and the association with work-related factors
among office workers using computer
Tran Thi Thu Thuy (*)
This cross-sectional survey was conducted to determine the level of neck pain and disability; and to
explore the work-related factors associated with the Neck Disability Index (NDI) score among office
workers using computer in Hanoi city.
316 participants from 5 big offices completed the self-reported questionnaires. Multiple univariate
ANCOVAs were performed to identify risk factors related to the severity of neck pain with adjustments
for confounders.
Workers reported no pain (23.1%), mild (64.6%), moderate (11.7%) and severe (0.6%) pain in the
neck. The mean NDI score of the whole sample was 17.2, and increased in the group of workers with
thời gian dài) và đặc điểm công việc sử dụng máy
tính (lặp đi lặp lại và ít thay đổi tư thế)[8].
1.2. Chứng đau vai gáy và nhân viên văn
phòng
Có nhiều nghiên cứu trên thế giới về chứng đau
vai gáy được thực hiện trong đối tượng nhân viên
văn phòng. Kết quả cho thấy tỷ lệ mới mắc chứng
đau vai gáy ở đối tượng sử dụng máy vi tính dao
động từ 23,5% (tỷ lệ 6 tháng
/>6 đến 34,4% (tỷ lệ 1 năm)[10]. Trong một nghiên
cứu tổng quan gần đây nhất, nhân viên văn phòng
sử dụng máy tính là nghề mắc chứng đau vai gáy
cao nhất trong tất cả các nghề với tỷ lệ mới mắc từ
36 đến 57,5 trên 100 người năm6. Tỷ lệ hiện mắc
chứng vai gáy ở nhân viên văn phòng trong 1 năm
thay đổi từ 45,5%4 đến 46,7% ở giáo viên 5 đến
65% ở sỹ quan quân đội làm văn phòng7.
1.3. Tại Việt Nam
Cùng với những chính sách của Chính phủ như
tin học hóa các ngành và xây dựng chính phủ điện
tử, số lượng nhân viên sử dụng máy tính cho công
việc văn phòng ngày càng tăng lên. Số liệu thống
kê năm 2009 cho thấy 81,4% cán bộ cấp trung ương
và 55,9% cán bộ cấp tỉnh trong các cơ quan nhà
nước làm việc với máy vi tính[11]. Số lượng máy
tính cá nhân cũng tăng hàng năm[17]. Tuy nhiên tại
Việt Nam chưa có nhiều nghiên cứu về vấn đề
ergonomy trong sử dụng máy vi tính nói chung và
chưa có một nghiên cứu nào về chứng đau vai gáy
nỏi riêng. Các nghiên cứu trước đây chỉ nhắm tới
Chọn mẫu
Nghiên cứu áp dụng công thức tính cỡ mẫu của
quần thể :
P: tỷ lệ mắc chứng đau vai gáy trong nhân viên văn phòng
dự kiến là 0,45 (dựa trên kết quả nghiên cứu mới nhất
của Cagnie4.
d: Độ chính xác tuyệt đối = 0,08
Cỡ mẫu: n = 149 người.
Hệ số thiết kế cho phương pháp chọn mẫu cụm = 2.
Cỡ mẫu cần có: n = 149 x 2 = 258 người.
Với tỷ lệ không trả lời là 60% [9] cho phương
pháp phát vấn: như vậy tổng số bộ câu hỏi cần phát
đi là: N = 258*100/40 = 645 (với kỳ vọng có 258
người tham gia trả lời câu hỏi).
Với cỡ mẫu là 645, nghiên cứu viên đã chọn 5
cơ quan lớn tại Hà Nội để tổ chức phát vấn. Các cơ
quan này được chọn theo phương pháp thuận tiện,
tất cả nhân viên đáp ứng tiêu chuẩn đối tượng
nghiên cứu đều được mời tham gia trả lời câu hỏi.
5 cơ quan bao gồm: 1 trường đại học , 1 viện nghiên
cứu, 1 cơ quan quản lý nhà nước, 1 bệnh viện và 1
chi nhánh ngân hàng.
Biến số nghiên cứu
Dựa trên kết quả tổng quan tài liệu, để đạt được
các mục tiêu, nghiên cứu tiến hành thu thập các
nhóm biến số sau:
- Mức độ đau mỏi vai gáy: Nghiên cứu áp dụng
bộ Chỉ số tàn tật cổ (Neck Disability Index - NDI),
một công cụ chuẩn để đo lường mức độ đau mỏi vai
gáy đã được kiểm chứng [18]. NDI bao gồm 10 câu
Tổng cộng có 316 bộ câu hỏi hoàn chỉnh trong
cơ sở dữ liệu phân tích. Tỷ lệ phản hồi của các cơ
quan tham gia nghiên cứu dao động từ 43% - 92%
và tỷ lệ phản hồi trung bình là 67,2%.
Chỉ số NDI dao động từ 0 đến 56 với điểm trung
bình của quần thể mẫu là 17,2 (SD = 10,8). 23,1%
| TỔNG QUAN & NGHIÊN CỨU |
Tạp chí Y tế Công cộng, 8.2012, Số 25 (25) 39
đối tượng không bò đau (chỉ số NDI < 8, n = 73),
64,6% đau nhẹ (9 - 29, n = 204), 11,7% có mức đau
trung bình (30 - 48, n = 37) và 0,6% bò đau nặng
(>48, n = 2). Trong nhóm đối tượng có bò đau (NDI
> 8, n = 243), chỉ số NDI trung bình là 21,1 (SD =
8,99, trung vò 20).
3.1. Mức độ đau mỏi vai gáy và yêu cầu
công việc (YC)
Kết quả trong bảng 1 cho thấy, chỉ số NDI trung
bình thấp hơn trong các nhóm làm việc trên 40 giờ/
tuần, dùng máy tính trên 6 giờ/ ngày, ngồi tại nơi
làm việc trên 2 giờ mới nghỉ giải lao và làm việc với
máy tính liên tục trên 2 giờ mới chuyển sang công
việc không cần máy tính. Tuy nhiên, các nhóm có
số giờ làm việc ngoài giờ trung bình lớn hơn 4
giờ/ngày và nhóm hoàn toàn làm việc với máy tính
có chỉ số NDI tương đối cao hơn nhóm đối chứng
(25,5 so với 20,67 và 23,02 so với 20,74). Chỉ số
NDI trong nhóm dùng bàn phím nhiều hơn 6
giờ/ngày hơi cao hơn so với nhóm dùng bàn phím
dưới 6 giờ/ngày (21,83 so với 20,85).
Chỉ có một mối liên quan có ý nghóa thống kê
khi yếu tố nhiễu được đưa vào phân tích, mối liên
quan này không còn ý nghóa thống kê.
4. Bàn luận
4.1. Mức độ đau mỏi vai gáy
Kết quả nghiên cứu cho thấy phần lớn nhân
viên văn phòng mới bò đau vai gáy nhẹ (64,6%),
một số ít bò ở mức trung bình (11,7%) và nặng
(0,6%). Kết quả này cũng phù hợp với nghiên cứu
của Johnston và cs[9].
Chỉ số NDI trung bình của toàn mẫu nghiên cứu
(17,2) cao hơn so với nghiên cứu trên quần thể nữ
nhân viên văn phòng (15,5)[9] và cộng đồng chung
(10,6)[9]. Tuy nhiên, trong nhóm đối tượng bò đau
mỏi vai gáy (NDI > 8, n = 243), chỉ số NDI trung
bình bằng 21,1 (SD = 8,99), kết quả này tương tự với
một số nghiên cứu đã được thực hiện trước đây
[9,20].
Bảng 1. Kết quả phân tích ANCOVA về sự khác biệt
giữa chỉ số NDI trung bình trong các
nhóm nguy cơ khác nhau liên quan đến
yêu cầu công việc
a Kiểm soát biến tuổi và NA
b Kiểm soát các biến tuổi, giới, NA, BMI, vận động thể lực,
stress, tần suất bò đau vai gáy trong 1 năm qua, hút thuốc
lá, tiền sử bò chấn thương cổ, số con dưới 5 tuổi, tiền sử
loãng xương, trình độ học vấn và hôn nhân.
* p < 0,05.
** p < 0,01
40 Tạp chí Y tế Công cộng, 8.2012, Số 25 (25)
| TRAO ĐỔI - CHIA SẺ KINH NGHIỆM |
hình đặt bên trái/phải). Điều này phù hợp với các
nghiên cứu trước đó cho thấy nguy cơ bò đau vai gáy
có thể liên quan đến việc màn hình máy tính đặt
thấp hơn tầm mắt[14] và đặt ở vò trí bên chứ không
phải trước mặt[15]. Tuy nhiên trong nghiên cứu này
thì mối quan hệ này không có ý nghóa thống kê.
Điều kiện ghế ngồi
Kết quả cho thấy nhân viên văn phòng khi đánh
máy tay không song song với sàn, ngồi ghế không
điều chỉnh được độ cao, ghế không có đệm lót và
không đủ không gian để chân thoải mái dưới bàn bò
đau vai gáy nặng hơn (điểm NDI cao hơn) (Bảng 2).
Chỉ có một mối liên quan có ý nghóa thống kê
giữa mức độ đau mỏi vai gáy và việc sử dụng ghế
không có đệm lót. Điều kiện ghế ngồi không thoải
mái và không gian để chân chật hẹp có thể gây ra
tư thế ngồi khó chòu cho chi dưới, ảnh hưởng đến
toàn bộ hệ cơ xương cột sống bao gồm cả cổ, dẫn
đến đau mỏi vai gáy[4].
Mối liên quan giữa điều kiện ghế ngồi và hậu
quả sức khỏe có thể bò ảnh hưởng bởi tần suất nghỉ
Bảng 2. Kết quả phân tích ANCOVA về sự khác
biệt giữa chỉ số NDI trung bình trong các
nhóm nguy cơ khác nhau liên quan đến Tổ
chức nơi làm việc và một số yếu tố khác
a Kiểm soát biến tuổi và NA
b Kiểm soát các biến tuổi, giới, NA, BMI, vận động thể lực,
stress, tần suất bò đau vai gáy trong 1 năm qua, hút thuốc
lá, tiền sử bò chấn thương cổ, số con dưới 5 tuổi, tiền sử
loãng xương, trình độ học vấn và hôn nhân.
tâm lý có thể ảnh hưởng đến "cảm giác" thoải mái.
Trong nghiên cứu này, stress, NA và một số điều
kiện sức khỏe đã được kiểm soát khi phân tích.
Chứng đau mỏi vai gáy đã trở nên phổ biến
trong nhân viên văn phòng sử dụng máy vi tính tại
Việt Nam, trong đó phần lớn đối tượng đang ở giai
đoạn đau nhẹ, chỉ có một số ít bò đau nặng. Mức độ
đau mỏi vai gáy có liên quan đến điều kiện ghế ngồi
không có đệm lót hỗ trợ đùi, sử dụng chung bàn làm
việc và đánh giá cá nhân về mức độ thoải mái của
góc làm việc. Các kết quả này đại diện nhất cho các
cơ quan văn phòng lớn với cường độ công việc lớn
và mức độ sử dụng máy vi tính để làm việc cao.
Nhân viên văn phòng sử dụng máy vi tính có
thể tự sử dụng NDI để xác đònh mức độ đau mỏi vai
gáy của bản thân, qua đó kòp thời điều chỉnh thời
gian và tư thế làm việc với máy vi tính. Các biện
pháp cải thiện đơn giản bao gồm lựa chọn ghế ngồi
và bàn làm việc thoải mái, phù hợp với vóc dáng
cơ thể và hạn chế sử dụng máy vi tính liên tục trong
nhiều giờ.
Các cơ quan yêu cầu làm việc nhiều với máy vi
tính cần xem xét đến các yếu tố ergonomy và ý
kiến của nhân viên khi trang bò máy tính và các
thiết bò văn phòng cũng như tổ chức công việc.
42 Tạp chí Y tế Công cộng, 8.2012, Số 25 (25)
| TỔNG QUAN & NGHIÊN CỨU |
Tài liệu tham khảo
1. Agho, A.O., Price, J.L., Mueller, C.W., (1992).
Discriminant validity of measures of job satisfaction,
479.
8. Hagberg, M, Rempel, D (1997). Chapter 58. Work-
related Disorders and the operation of computer VDT's. In
Helander M, Landauer T.K. Prabhu P. (eds). Handbook of
Human-computer Interaction. Second edition. Elsevier
Science B.V.
9. Johnston, V, Souvlis, T, Jimmieson, L.N, Jull, G (2008),
Associations between individual and workplace risk factors
for self-reported neck pain and disability among female
office workers. Applied Ergonomics; 39:171-182.
10. Korhonen, T., Ketola, R., Toivonen, R., Luukkonen, R.,
Hakkanen, M., Viinkari-Juntara, A.J., (2003). Work related
and individual predictors for incident neck pain among
of?ce employees working with video display units.
Occupational and Environmental Medicine, 60:475-482.
11. National Steering Committee on ICT (NSCICT) and
Ministry of Information and Communication (MIC) (2010).
The White book 2010. Vietnam Information and
Communication Technology. Information and
Communications Publishing House.
12. Payne, R.L., Morrison, D., (2002). The differential
effects of negative affectivity on measures of well-being
versus job satisfaction and organizational commitment.
Anxiety Stress Coping 15:231-244.
13. Sillanp##, J, Huikko, S, Nyberg, M, Kivi, P, Laippala, P,
Uitti, J (2003), Effect of work with visual display units on
musculo-skeletal disorders in the office environment.
Occupational Medicine, 53:443-451.
14. Straker, L, Burgess-Limerick, R, Pollock, C, Maslen, B,
(2009). The influence of desk and display design on posture