Sinh viên: Phạm Thị Thu Hà
Lớp: K44KTNN
Giảng viên: TS. Phan Văn Hòa
Tên đề tài:
“CHÍNH SÁCH THUẾ TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG”.
I. Đặt vấn đề.
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Đất nước ta trong thời kỳ đổi mới và phát triển, cùng với việc gia tăng thu nhập
quốc dân bình quân trên đầu người, tài sản của Nhà nước, của các tổ chức kinh tế –
xã hội, và của tầng lớp dân cư không ngừng tăng lên. Tuy nhiên, việc gia tăng tài
sản trong xã hội cũng đặt ra nhiều vấn đề cho công tác quản lý. Thuế là một trong
những công cụ tài chính quan trọng không chỉ đơn thuần thực hiện nhiệm vụ huy
động nguồn thu cho ngân sách nhà nước mà còn có nhiệm vụ quan trọng điều
chỉnh quá trình vận động của nền kinh tế nói chung và tài sản nói riêng. Bên cạnh
đó, xu thế hội nhập và liên kết kinh tế luôn gắn với việc xóa bỏ hàng rào thuế quan,
cắt giảm thuế nhập khẩu, kéo theo sự thay đổi của tỷ trọng thuế gián thu trong tổng
thu ngân sách nhà nước. Để đảm bảo tỷ trọng hợp lý giữa các loại thuế, hệ thống
thuế cần tiến hành cơ cấu lại theo hướng tăng tỷ trọng thuế trực thu, giảm tỷ trọng
thuế nhập khẩu và thuế gián thu. Trong giai đoạn hiện nay ở nước ta, việc cơ cấu
lại nguồn thu từ thuế có thể thực hiện theo hướng mở rộng các hình thức thuế trực
thu như thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân, thuế tài sản và các loại
thuế đất. Trong đó, các sắc thuế về tài sản tuy đã được ban hành nhưng vẫn còn
nhiều nhược điểm và hạn chế, số thu về thuế tài sản vẫn chiếm tỷ trọng thấp trong
ngân sách nhà nước.
Hơn nữa, xuất phát từ chiến lược cải cách chung của toàn bộ hệ thống thuế,
nhằm xây dựng chính sách thuế đơn giản, dễ thực hiện, căn cứ tính thuế hiện đại,
phù hợp với tình hình kinh tế xã hội hiện nay, hạn chế lồng ghép nhiều chính sách
xã hội, làm hạn chế tính trung lập của thuế. Trong đó, việc xây dựng các chính sách
thuế về tài sản ở nước ta cũng không nằm ngoài những mục tiêu này.
Từ những lý do trên, việc đánh giá và hoàn thiện các chính sách thuế tài sản ở
Việt Nam hiện nay, nhằm đáp ứng yêu cầu cải cách hệ thống thuế trong quá trình
3. Thuế.
3.1 Khái niệm, bản chất của thuế.
Thuế là khoản đóng góp bắt buộc, được quy định thành luật của các tổ chức kinh
tế và dân cư cho nhà nước. Thuế thể hiện mối quan hệ phân phối lại thu nhập dân
cư và các tổ chức kinh tế cho nhà nước. Tính bắt buộc của thuế thể hiện ở chỗ khi
nhà nước xác định mức thuế, người nộp thuế không có quyền thắc mắc hoặc đòi
hỏi gì cả. Thuế do nhà nước ban hành và chỉ có nhà nước mới có quyền thay đổi,
ngoài ra không có ai có quyền đó. Nộp thuế là nghĩa vụ của các tổ chức kinh tế và
dân cư.
Thuế ra đời và tồn tại cùng với sự ra đời của nhà nước. Thuế là một phạm trù
kinh tế, đồng thời cũng là một phạm trù lịch sử. Nhà nước ra đời và tồn tại cần phải
có nguồn tài chính để chi tiêu, chi tiêu cho bộ máy, cho quốc phòng an ninh, chi
cho cơ sở hạ tầng, y tế, giáo dục và phúc lợi xã hội. Nguồn tài chính chỉ có thể lấy
từ việc động việc đóng góp một phần thu nhập xã hội do các tầng lớp nhân dân tạo
ra bằng hình thức thuế là chủ yếu. Thuế cũng là công cụ để nhà nước sử dụng để
phục vụ cho yêu cầu quản lý xã hội, quản lý phát triển kinh tế của đất nước, do vậy
thuế có chức năng phân phối và giám đốc.Nhà nước sử dụng thuế làm công cụ để
thực hiện các chức năng của mình, mỗi nhà nước mang bản chất giai cấp nhất định
nên thuế mang bản chất của nhà nước sinh ra nó.
Nhà nước ta là nhà nước của dân, do dân, vì dân nên có nhiệm vụ chăm lo đời
sống vật chất, tinh thần và hạnh phúc cho nhân dân. Ngân sách nhà nước trong đó
có nguồn thu thuế do dân đóng góp được sử dụng vào việc đầu tư phát triển kinh
tế, văn hoá, giáo dục, an ninh, quốc phòng bảo đảm ổn định chính trị, an ninh trật
tự và bảo vệ tổ quốc.
3.2 Vai trò của chính sách thuế.
Chính sách thuế là một nội dung của chính sách tài chính quốc gia, là tổng thể
các quan điểm, tư tưởng, các giải pháp và công cụ mà nhà nước sử dụng đề ra
quyết định về thu nhập và huy động nguồn thu để đảm bảo cho nhu cầu chi tiêu
của mình.
Chính sách thuế là một bộ phận không thể thiếu được trong hệ thống chính sách
Là thuế đánh vào thu nhập của người có quyền sử dụng đất khi chuyển quyền đó
cho người khác.
3.3.6. Lệ phí trước bạ.
Là khoản thu vào việc chuyển nhượng một số tài sản thuộc diện phải đăng ký
với cơ quan quản lý Nhà nước về chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản.
3.3.7. Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao.
Là thuế thu vào thu nhập hàng năm của các cá nhân.
Doanh nghiệp là ủy nhiệm thu của Nhà nước có nghĩa vụ khấu trừ tiền thuế của
cá nhân trước khi trả thu nhập, hưởng thù lao 0,5% trên số thuế thu nhập thường
xuyên.
Hàng tháng, doanh nghiệp tạm nộp cho cá nhân, cuối năm phải kê khai, quyết
toán chính thức số thuế phải nộp.
3.3.8. Thuế tài nguyên.
Là thuế thu vào các tổ chức và cá nhân khai thác tài nguyên (khoáng sản, than,
dầu mỏ, đất, cát, đá, sỏi, rừng, biển …).
Kê khai và nộp hàng tháng căn cứ sản lượng khai thác, không căn cứ sản lượng
tiêu thụ.
3.3.9. Thuế thu nhập cá nhân.
Thuế thu nhập cá nhân là: khoản tiền mà người có thu nhập phải trích nộp một
phần tiền lương hoặc từ các nguồn thu nhập khác vào ngân sách nhà nước.
3.3.10. Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu.
Thuế thu vào hàng hóa tính trên trị giá xuất khẩu, nhập khẩu qua cửa khẩu, biên
giới Việt Nam.
Mục tiêu: - Bảo hộ hàng hóa trong nước
- Kiểm soát hoạt động ngoại thương
3.3.11. Thuế giá trị gia tăng.
Là thuế tính trên khoản giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong
quá trình sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng.
Viết tắt: VAT (Value Added Tax) hoặc TVA (Tax sur la Valeur Ajoutée).
3.3.12. Thuế tiêu thụ đặc biệt Các văn bản hiện hành.
và tài sản nhà nước.
Thứ ba, tái cơ cấu hệ thống các tổ chức tín dụng mà trọng tâm là các ngân hàng
thương mại không chỉ liên quan đến bản thân các ngân hàng mà còn liên quan đến
khách hàng là doanh nghiệp. Yêu cầu đặt ra là cần có nghiên cứu để quy định,
hướng dẫn về các biện pháp xử lý nợ, xử lý khoản trích lập dự phòng rủi ro nghiệp
vụ có liên quan đến nghĩa vụ thuế của các tổ chức tín dụng khi đặt yêu cầu an toàn
hệ thống và lợi ích toàn cục nền kinh tế lên vị trí ưu tiên.
5. Chính sách thuế ở các nước có tác động như thế nào?
Trong các tranh luận về nguyên nhân gây ra suy thoái kinh tế, các vấn đề như
các qui định, quản trị doanh nghiệp và tiền lương của ban giám đốc đóng vai trò
trung tâm. Chính sách về thuế được xem là thứ yếu so với các vấn đề trên.
Tuy vậy, trong tháng trước Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) đã đưa ra một nghiên cứu
lý thú, nghiên cứu này đã đưa thuế trở thành vấn đề trung tâm. IMF cho rằng chính
chính sách thuế đã góp phần tạo ra bùng nổ tín dụng trước khi cuộc khủng hoảng
xảy ra.
Các chính sách thuế đã khuyến khích các công ty huy động vốn bằng cách phát
hành trái phiếu (vì lãi suất trái phiếu được xem là chi phí để khấu trừ thuế) hơn là
phát hành cổ phiếu (vì cổ tức không được xem là chi phí để khấu trừ thuế) và vì
vậy nó làm cho trái phiếu rẻ hơn, thúc đẩy người ta mua trái phiếu có các khoản
thế chấp lớn. Những vấn đề này kết hợp lại tạo nên những khoản tín dụng không
bền vững, và kết quả của nó chúng ta đã thấy ở hầu hết các quốc gia. IMF khẳng
định rằng chính chính sách thuế đã đẩy các công ty hướng vào việc huy động vốn
bằng các khoản nợ.
Vậy giải pháp trước mắt có thể là bỏ việc khầu trừ thuế đối với lãi suất hoặc cho
khấu trừ một khoản chi phí danh nghĩa đối với huy động vốn bằng cổ phiếu. Giải
pháp sau có thể có một lợi ích khác là khuyến khích các ngân hàng nắm giữ nhiều
hơn các khoản dự trữ vốn.
Nhưng vần đề thực sự được nhấn mạnh là tính trung lập của chính sách thuế.
Nếu một chính sách thuế khuyến khích các hoạt động kinh tế này hơn các hoạt
động khác thì sớm muộn gì nó cũng gây ra nhiều vấn đề. Các chính phủ không nên
giao dịch.
Hiện nay, các khoản thu nhập của nhân viên dưới dạng cổ phiếu công ty còn
không mới lạ với cơ quan thuế Việt Nam. Do vậy, trong năm 2009 cũng đã có
chính sách thuế hướng dẫn áp dụng riêng cho việc tính thuế đối với các khoản thu
nhập bằng cổ phiếu (Công văn số 14169 ngày 7/10/2009 của Bộ Tài chính).
1.2 Thuế thu nhập doanh nghiệp.
Sự thay đổi quan quan trọng và nhìn chung có lợi cho doanh nghiệp trong chính
sách thuế thu nhập doanh nghiệp là việc giảm thuế suất thuế thu nhập doanh
nghiệp từ 28% xuống 25%. Việc bãi bỏ thuế lũy tiến trên lợi nhuận từ các giao dịch
chuyển nhượng bất động sản được coi là một trong những yếu tố góp phần làm
"nóng" thị trường này. Mặc dù vậy, một số ngành nghề kinh doanh khác như khai
thác mỏ và dầu khí lại có nhiều lý do để lo ngại do thuế suất tối thiểu tăng từ 28%
lên 32%.
Từ ngày 1/1/2009, đối tượng nộp thuế thu nhập doanh nghiệp được phép giữ lại
tối đa 10% thu nhập chịu thuế hàng năm để lập quỹ phát triển và nghiên cứu
(R&D).
Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp kể từ năm 2009 thu hẹp những ưu đãi về thuế
thu nhập doanh nghiệp, nhưng lại được xem là tích cực theo hướng đơn giản hóa
các ưu đãi thuế nhằm thực hiện dễ dàng hơn. Một điều hết sức thú vị khi thuế được
đánh giá là một trong những biện pháp của Chính phủ Việt Nam trong công tác bảo
vệ mội trường khi đưa ra chính sách thuế ưu đãi vào tháng 12/2009 cho các dự án
đầu tư liên quan đến bảo vệ môi trường.
Một trong những lo ngại lớn nhất của các doanh nghiệp là việc khấu trừ chi phí
quảng cáo khuyến mại. Việc cho phép tăng mức khống chế chi phí này từ 10% lên
15% trong một số năm đầu cho doanh nghiệp mới thành lập tuy được hoan nghênh,
nhưng nhìn chung không đáp ứng được kỳ vọng của cộng đồng doanh nghiệp.
Một thay đổi nữa trong các quy định về Thuế thu nhập doanh nghiệp là việc yêu
cầu các cơ sở sản xuất hạch toán phụ thuộc của doanh nghiệp hoạt động tại địa bàn
tỉnh, thành phố khác đóng thuế thu nhập doanh nghiệp tại địa phương đó theo tỷ lệ
chi phí của chi nhánh phụ thuộc trên tổng chi phí của doanh nghiệp. Các quy định
134/2008/TT-BTC, ban hành vào tháng 12/2008, áp dụng từ ngày 1/1/2009. Một
trong những thay đổi quan trọng là Thông tư 134 đã bãi bỏ phương pháp nộp thuế
nhà thầu nước ngoài hỗn hợp, do vậy làm tăng chi phí và gánh nặng về mặt hành
chính cho các nhà thầu nước ngoài muốn được khấu trừ thuế GTGT đầu vào đối
với việc mua hàng hóa và dịch vụ trong nước. Tuy nhiên, đến tháng 10/2009,
Thông tư 197/2009/TT-BTC cho phép áp dụng lại phương pháp nộp thuế hỗn hợp
này.
Trong năm 2009 cũng đánh dấu sự ra đời của chính sách thuế nhà thầu nước
ngoài đối với những dịch vụ tài chính phái sinh. Sau khi tham khảo ý kiến của các
doanh nghiệp, Bộ Tài chính đã ban hành Công văn số 13637/BTC-CST vào tháng
9/2009, quy định mức thuế suất thuế nhà thầu nước ngoài 2% đối với khoản thanh
toán ròng cho các giao dịch hoán đổi lãi suất. Công văn này chưa đáp ứng được kỳ
vọng của cộng đồng doanh nghiệp, đặc biệt các ngân hàng, là được miễn thuế nhà
thầu nước ngoài nhằm góp phần phát triển thị trường tài chính trong nước và
khuyến khích doanh nghiệp trong nước tăng cường sử dụng các công cụ tài chính
phái sinh như là một công cụ mới trong việc quản lý rủi ro tín dụng. Mặc dù vậy,
Công văn đã làm rõ chính sách thuế áp dụng giúp cho ngân hàng và doanh nghiệp
hoạch định chính sách giá sản phẩm và giúp họ tuân thủ quy định về thuế.
2. Vai trò của chính sách thuế trong nền kinh tế thị trường.
2.1. Thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách Nhà nước.
Một nền tài chính quốc gia lành mạnh phải dựa chủ yếu vào nguồn thu từ nội bộ
nền kinh tế quốc dân.
Trong hệ thống đòn bẩy của cơ chế mới, thuế là công cụ quan trọng nhất để phân
phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân theo đường lối
xây dựng xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Đặc biệt trong tình hình hiện nay, nguồn thu
từ nước ngoài đã giảm nhiều, kinh tế đối ngoại đã chuyển thành quan hệ “có vay
có trả”. Trước mắt, thuế phải là công cụ để góp phần quan trọng vào giảm bội chi
ngân sách, giảm lạm phát, từng bước góp phần ổn định trật tự xã hội, chuẩn bị điều
kiện và tiền đề cho việc phát triển lâu dài. Thuế phải trở thành nguồn thu chủ yếu,
bộ phận cơ bản của một nền tài chính quốc gia lành mạnh.
thành phần kinh tế, các tầng lớp dân cư để đảm bảo công bằng xã hội. Công bằng
xã hội không có nghĩa là bình quân chủ nghĩa, đòi hỏi mọi người trong xã hội chỉ
có thể thu nhập ngang nhau. Người có thu nhập cao phải đóng thuế cao hơn người
có thu nhập thấp nhưng phải đảm bảo người có thu cao sẽ làm ăn ngày một có hiệu
quả hơn so với người có thu nhập thấp nhằm khuyến khích cải tiến quản lý, cải
tiến kỹ thuật, đầu tư vốn, đầu tư chất xám, làm ăn có thu nhập chính đáng.
3. Chức năng, nguyên tắc và những hạn chế trong sự can thiệp của chính phủ
vào nền kinh tế thị trường thông qua chính sách thuế.
3.1. Chức năng của chính phủ không phải là thay thế thị trường, mà là cải thiện
các chức năng của nền kinh tế thị trường. Hơn nữa, bất cứ quyết định nào nhằm
quy định hoặc can thiệp vào hoạt động của các lực lượng thị trường (cung và cầu)
đều phải được cân nhắc cẩn thận giữa cái hại do các quy định đó đưa ra với lợi ích
mà các can thiệp đó đem lại.
3.1.1 Phân bổ nguồn lực nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế.
Mục tiêu kinh tế trọng tâm của chính phủ là hỗ trợ việc phân bổ nguồn lực nhằm
năng cao hiệu quả kinh tế đạt mức như xã hội mong muốn. Giải quyết vấn đề này
chính là chính phủ đã tập trung trả lời cho câu hỏi cái gì và như thế nào trong đời
sống kinh tế. Chính sách kinh tế ở các nước khác nhau sẽ không giống nhau, tùy
thuộc vào phong tục tập quán và tư tưởng chính trị của nước đó. Biểu hiện của việc
thực hiện chức năng này là việc chính phủ đứng ra cung cấp các loại hàng hóa
công cộng, điều tiết các luồng đầu tư vào các ngành, các vùng theo quy hoạch
chung, khắc phục các thất bại của thị trường như độc quyền, ngoại ứng hay thông
tin không chính xác.
Cải cách thuế còn phải làm tăng tính hiệu quả trong việc phân bổ nguồn lực vốn
có tính hữu hạn của nền kinh tế. Do một chính sách thuế bất kỳ sẽ làm thay đổi
hành vi của các thực thể trong nền kinh tế, nên việc cải cách thuế sẽ giúp điều
chỉnh lại các khuynh hướng tiết kiệm và đầu tư của nền kinh tế, khuyến khích khởi
nghiệp và tinh thần doanh nhân.
Thông qua các chính sách thuế, chính phủ có thể tạo ra các động cơ khuyến
khích có tính kinh tế để khu vực tư nhân phân bổ vốn và các ngành nghề và lĩnh
bộ phận người giàu lên nhanh chóng nhưng lại tạo ra một tầng lớp người nghèo
mới. Thế nhưng, có một thực tế là không phải người nào giàu nhất cũng đang đóng
thuế nhiều nhất nhưng lại có những nhóm người nghèo lại phải gánh những khoản
thuế quá mức so với thu nhập và nhu cầu tối thiểu cho cuộc sống của họ. Cải cách
cơ chế tiền lương theo hướng minh bạch, chẳng hạn như giảm các khoản phụ cấp
không qua lương, cũng sẽ góp phần làm tăng tính hiệu quả cho công cuộc cải cách
thuế hướng đến mục tiêu công bằng hơn và hiệu quả hơn.
Chức năng phân phối lại thu nhập của thuế là sự huy động một bộ phận thu nhập
quốc dân dưới hình thức tiền tệ vào ngân sách Nhà nước. Phần lớn thuế đánh trên
hàng hóa và thu nhập. Người có thu nhập cao và sử dụng nhiều hàng hóa, dịch vụ
là người nộp thuế nhiều hơn. Số tiền này sau đó lại được Nhà nước chi nhằm thực
hiện chính sách kinh tế-xã hội, tạo ra tính công bằng tương đối cho xã hội.
3.1.3 Ổn định hóa kinh tế vĩ mô.
Ngày nay, khi khoa học kinh tế đã phát triển mạnh, loài người đã có nhận thức
đầy đủ hơn về nguyên nhân gây ra lạm phát, thất nghiệp và các bất ổn định kinh tế
khác, cũng như khả năng can thiệp chủ động của chính phủ để khắc phục các hiện
tượng đó. Vì thế, chính phủ hiện nay có trách nhiệm không để tái diễn các cuộc suy
thoái hoặc khủng hoảng trầm trọng như những năm 30 nữa. Công cụ để chính phủ
thực hiện chức năng này là chính sách tài khóa, tiền tệ và sự giám sát chặt chẽ thị
trường tài chính. Ngoài ra chính phủ còn tập chung vào việc hoạch định các chính
sách thúc đẩy tăng trưởng dài hạn.
Việc tăng cường vai trò kinh tế - xã hội của Nhà nước dẫn đến tốc độ chi tiêu
của Nhà nước ngày càng tăng lên và hậu qủa tất yếu là đòi hỏi Nhà nước phải mở
rộng quỹ tài chính Nhà nước, hình thành chủ yếu từ việc thu thuế. Nhu cầu về
nguồn tài chính càng lớn thì Nhà nước cần phải tăng cường các chức năng của thuế
để tác động một cách có hiệu quả đến nền kinh tế quốc dân. Chính phủ sử dụng để
kích thích hoặc kìm hãm tốc độ tăng trưởng, tăng cường hoặc làm yếu đi sự tích
lũy tiết kiệm, mở rộng hoặc thu hẹp nhu cầu có khả năng thanh toán của dân cư,
đẩy nhanh hoặc làm chậm lại chu kỳ khủng hoảng kinh tế, Nhà nước đã thực hiện
điều tiết các hoạt động kinh tế - xã hội trong phạm vi quốc gia.
3.2.2 Nguyên tắc tương hợp: trong các cách thức can thiệp của chính phủ, cần lựa
chọn một cách thức tương hợp với thị trường hoặc ít gây méo mó thị trường.
Ví dụ: việc chậm trễ đánh thuế nhà và đánh thuế đất quá thấp là nguyên nhân
chúng ta đang túng trong giải quyết bài toán phát triển hạ tầng và dịch vụ công
cộng, cũng là nguyên nhân của tình trạng hàng trăm biệt thự, nhà đất để không như
hiện nay, gây lãng phí và làm méo mó thị trường bất động sản. Chính sách thuế
trước hết phải góp phần điều chỉnh được thị trường bất động sản hoạt động minh
bạch, phát triển bền vững và điều chỉnh quá trình phát triển đô thị chứ không phải
chỉ tính mỗi việc là đóng góp vào ngân sách nhà nước bao nhiêu tiền mỗi năm. Để
làm được điều đó trong cơ chế thị trường, trước hết là công cụ thuế, sau đó mới
đến công cụ quy hoạch và công cụ hành chính. Đây là một điểm mà các nước khác
đã thừa kinh nghiệm. Nước ta cũng có nói tới nhưng thực tế thu của ta không
“động chạm” được vào chức năng điều tiết. Chúng ta luôn lấy lý do thu nhập của
dân còn thấp nên khó tăng tỉ suất thuế nhà đất. Thu nhập thấp chủ yếu tại khu vực
nông thôn và miền núi, vậy hãy miễn thuế nhà đất cho khu vực nông thôn (kém
phát triển) và miền núi. Khu vực đô thị nhiều tiện lợi và hấp dẫn phải thu ở mức
cao, tương xứng với giá trị nhà đất tại đó. Đó cũng là lẽ công bằng cần xác lập.
3.3. Những hạn chế của chính phủ khi can thiệp vào nền kinh tế thị trường.
Từ những năm 1970, các nhà kinh tế học trên thế giới đã nghiên cứu và đưa ra
những hạn chế gây nên thất bại trên thị trường:
- Thông tin hạn chế: Những hậu quả của nhiều hành động là rất phức tạp và khó
thấy trước. Khi chính phủ liên bang áp dụng chương trình đổi mới thành thị, chính
phủ đã không thấy trước được rằng các chương trình đó có thể dẫn đến giảm cung
nhà ở cho người nghèo. Tương tự như vậy, chính phủ không dự đoán được sự tăng
bất ngờ chi tiêu cho chăm sóc sức khỏe khi thực hiện chương trình chăm sóc y tế.
- Kiểm soát hạn chế đối với những phản ứng của tư nhân: Chính phủ chỉ có sự
kiểm soát hạn chế đối với những kết quả hành động của mình, đặc biệt trong phạm
vi nền dân chủ như là nền dân chủ của chúng ta (*VF: Ở đây ý tác giả nói tới Hoa
Kỳ). Khi thành phố New York thông qua văn bản luật pháp về kiểm soát tiền thuê
nhà của thành phố mình, những người đề ra văn bản này đã bỏ qua một thực tế là
chọn trong số những hành động đó qua quá trình chính trị cũng có thể gây thêm
những khó khăn. Hành động của chính phủ có ảnh hưởng đến nhiều người, nhưng
lại chỉ do một nhóm ít người quyết định, đó là những người đại diện đã được bầu
ra. Những người ra quyết định phải tìm hiểu ý thích của những cử tri của mình và
phải tìm ra cách gì đó để hòa giải hoặc lựa chọn cho những ý thích trái ngược
nhau.
Người ta thường cho là chính phủ hoạt động không nhất quán. Trong quá trình
chính trị của chúng ta là một quá trình trong đó những người được bầu ra để phục
vụ công chúng đôi khi có động cơ hành động vì lợi ích của cá nhóm lợi ích đặc
biệt. Do đó, thất bại của các chính khách trong việc thực hiện công việc dường như
vì lợi ích của công chúng, không chỉ là hậu quả của lòng tham hay ác ý của một số
chính khách thất thường, mà đó là hậu quả không thể tránh khỏi của những công
trình về thể chế chính trị trong xã hội dân chủ.
Những người chỉ trích sự can thiệp của chính phủ vào nền kinh tế cho rằng, bốn
lý do làm cho chính phủ thất bại đã đủ tầm quan trọng để chính phủ phải thận trọng
trong việc cứu chữa cái gọi là tính phi hiệu quả của thị trường. Nhưng nếu có
người không đồng ý với kết luận đó, thì việc công nhận bốn hạn chế đó trong hành
động của chính phủ vẫn là tiền đề để xây dựng các chính sách thành công của
chính phủ.
4. Những trở ngại của cải cách thuế.
Việc cải cách thuế chắc chắn sẽ gặp nhiều trở ngại do nó đụng chạm đến lợi ích
của nhiều nhóm dân cư khác nhau. Thật không dễ để lấy thêm một phần lợi ích của
ai đó mà không gây nên sự phản ứng hay chống đối. Các quyết tâm chính trị là
quan trọng nhưng điều quan trọng hơn là phải dành được sự ủng hộ về mặt xã hội
trên cơ sở những lợi ích có tính rõ ràng hơn hay có thể nhìn thấy trước mà việc cải
cách thuế mang lại. Các giới hạn về mặt nguồn lực như thông tin, con người, tài
chính hay công nghệ cũng sẽ làm ảnh hưởng đến tiến trình cải cách thuế theo
hướng kìm hãm hay thúc đẩy.
Một trở ngại quan trọng mang tính tâm lý là mặc cảm “không thể thay đổi”. Khi
khó khăn mới chỉ khởi phát thì người ta vẫn còn lạc quan, nhưng chính sự lạc quan
tiêu chí để đánh giá khả năng tạo nguồn thu thuế ròng. Chẳng hạn, nếu so với nền
kinh tế người ta thường sử dụng các chỉ tiêu: tỷ số thuế, độ nổi thuế, độ co giãn của
thuế, và tính ổn định của thuế; nếu so với tiềm năng: năng lực thuế, nỗ lực thuế;
nếu so với hiệu quả hành chính: tỷ lệ thu, chi phí của tỷ lệ thu, thu nợ thuế. Bên
cạnh đó, một chính sách thuế mới cũng phải trên cơ sở đơn giản hóa, từ vấn đề quy
trình thủ tục đến công tác quản lý, tuân thủ và thực thi thuế.
Một số kinh nghiệm cho thấy, chiến lược cải cách thuế cần phải tính toán, cân
nhắc một cách thận trọng và cụ thể. Các cuộc cải cách vội vã thường dẫn đến thất
bại, gây khó khăn hơn cho những đợt cải cách trong tương lai. Các thành công
bước đầu mặc dù ở một quy mô nhỏ nhưng tăng được doanh thu cũng sẽ tạo cơ sở
cho việc mở rộng phạm vi cải cách thuế và làm tăng cơ hội thành công. Tăng tối đa
khả năng thu tại nguồn, tức thiết kế một quai thuế vững chắc, sẽ đảm bảo hạn chế
tối thiểu tình trạng thất thoát nguồn thu, tăng thuyết phục cho các trách nhiệm giải
trình.
III. Kết luận.
Nói chung, trong nền kinh tế có sự điều tiết của chính phủ, thuế ngày càng trở
lên là một công cụ quan trọng nhằm thể hiện vai trò điều chỉnh kinh tế của chính
phủ. Chính sách thuế hợp lý tạo ra một nguồn thu chủ yếu cho phần ngân sách tác
động điều chỉnh mạnh mẽ các hoạt động mục tiêu tăng trưởng kinh tế. Nhưng
trong quá trình thực thi chính sách thuế thì chúng ta chưa đạt được những kết quả
như mong muốn nhưng cũng đã đạt được những kết quả bước đầu đáng khích lệ.
Để khắc phục tình trạng khó khăn trong việc thực hiện mục tiêu tăng trưởng
kinh tế, thì chúng ta cần quan tâm nhiều hơn đến việc cải cách chính sách thuế cho
phù hợp với điều kiện của đất nước nói chung và các doanh nghiệp nói riêng. Hơn
nửa mỗi người tham gia nghĩa vụ nộp thuế và thu thuế cần hiểu rõ, hiểu đúng mục
tiêu tăng trưởng kinh tế để thực hiện nghĩa vụ của mình đảm bảo vai trò theo đúng
chức năng mà nó mang theo.
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1. www.gdt.gov.vn/