Giải pháp phát triển mạng lưới xe bus trên địa bàn Hà Nội đến năm 2020 - Pdf 12

Chuyên đề tốt nghiệp
MỤC LỤC
Nguyễn Việt Hùng KTPTA - QN
Chuyên đề tốt nghiệp
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG, BIỂU
Nguyễn Việt Hùng KTPTA - QN
Chuyên đề tốt nghiệp
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
GTCC: Giao thông công cộng.
VTHKCC: Vận tải hành khách công cộng.
GTVTCC: Giao thông vận tải công cộng.
GTVTHKCC: Giao thông vận tải hành khách công cộng.
Nguyễn Việt Hùng KTPTA - QN

Chuyên đề tốt nghiệp
PHẦN MỞ ĐẦU
Trong những năm gần đây, Hà Nội đã có những bước cải thiện đáng kể
về giao thông vận tải, đặc biệt là đã đầu tư nâng cấp, cải tạo và mở rộng mạng
lưới đường, phân luồng và điều khiển giao thông trên đường… Tuy vậy, nhìn
tổng thể thì giao thông Hà Nội vẫn còn khá yếu, phát triển chưa tương xứng
với so với yêu cầu của một đô thị hiện đại, vẫn còn lạc hậu so với các thủ đô
khác trên thế giới cũng như các nước trong khu vực.
Đặc biệt, vận tải hành khách công cộng ở Hà Nội vẫn còn chưa theo kịp
nhu cầu đi lại của người dân. Việc đi lại của người dân vẫn chủ yếu là bằng
phương tiện cá nhân do nhiều nguyên nhân khác nhau. Tình trạng này đã và
đang gây ra nạn ách tắc giao thông nghiêm trọng trên hầu như tất cả các tuyến
đường trong nội thành vào giờ cao điểm, thậm chí tại một số nút giao thông
quan trọng vẫn tắc đường ngay cả khi vào giờ thấp điểm.
Xuất phát từ vấn đề này, sau một thời gian thực tập tại Ban Nghiên cứu
phát triển Vùng - Viện chiến lược phát triển, cùng với sự giúp đỡ của các cán
bộ trong Ban Nghiên cứu phát triển Vùng và đặc biệt là của thầy giáo hướng

bảo sự liên hệ giữa các khu vực trong đô thị. Cụ thể hơn, giao thông vận tải
đô thị là hạ tầng cơ sở xã hội bao gồm hệ thống cầu cống, bến bãi… và các
phương tiện vận tải nhằm đảm bảo sự giao lưu của hành khách giữa các khu
vực trong thành phố với nhau và trong nội bộ vùng như giữa các trung tâm
thương mại, các khu du lịch cũng như các khu công nghiệp, chế suất…
Từ khái niệm trên có thể thấy rằng xây dựng và quản lý giao thông vận
tải đô thị là một lĩnh vực quan trọng của công tác xây dựng và quản lý đô thị.
Nhưng giao thông vận tải đô thị là một hệ thống với nhiều phân hệ khác
nhau, bao gồm: giao thông vận tải hành khách công cộng, giao thông cá nhân
Nguyễn Việt Hùng KTPTA - QN
2
Chuyên đề tốt nghiệp
và giao thông vận tải hàng hoá. Các bộ phận đó có mối quan hệ chặt chẽ với
nhau, tác động qua lại lẫn nhau. Trong đề tài này, em chỉ tập trung xem xét
một bộ phận riêng biệt là hệ thống giao thông vận tải hành khách bằng xe bus,
gọi tắt là hệ thống giao thông công cộng (GTCC).
Như vậy, GTCC là một bộ phận của hệ thống giao thông vận tải đô thị
nói chung, có chức năng phục vụ việc đi lại của con người trong đô thị dưới
hình thức công cộng. Cơ cấu của hệ thống GTCC đô thị bao gồm ba phần:
phân hệ giao thông động, phân hệ giao thông tĩnh và hệ thống các phương
tiện vận tải công cộng.
- Phân hệ giao thông động là hệ thống đường xá và các công trình kiến
trúc trên đường để đảm bảo sự đi lại của các phương tiện GTVTCC.
- Phân hệ giao thông tĩnh là hhệ thống các khu vực cho phương tiện
GTVTCC dừng đỗ, bao gồm các điểm dừng đỗ, các bến đầu cuối
cũng như các điểm trung chuyển.
- Hai yếu tố trên chỉ có ý nghĩa khi chúng ta có yếu tố thứ ba: hệ thống
phương tiện GTVTCC. Trong hệ thống GTVT nói chung, phương
tiện vận tải luôn là trung tâm để từ đó xác định những yếu tố tiếp theo
như đường xá, việc cung cấp nhiên liệu, bảo dưỡng sửa chữa và công

một cách di chuyển mới cho mình, đó là cưỡi thú. Con vật được ưa chuộng
nhất cho tới nay vẫn là ngựa. Cũng từ đây đã bắt đầu một loại hình GTCC đầu
tiên của con người. Những cỗ xe chở được nhiều người được kéo bằng sức
ngựa đã ra đời, điển hình là xe song mã và tứ mã vào khoảng thế kỉ XVI.
Song đó mới là loại hình vận tải thô sơ nhất.Đến tận thế kỉ XIX, cùng với sự
nhảy vọt về khoa học kỹ thuật với sự ra đời của máy hơi nước cùng với những
cải tiến về cơ học và những phát minh khác… con người đã có những tiến xa
hơn về mọi mặt, kể cả trong lĩnh vực GTCC. Đến ngày nay, các loại hình
GTVTCC càng lúc càng được hiện đại hoá hơn để phục vụ cho con người.
Tác động của nó đối với xã hội loài người ngày càng lớn. Hiện nay tại các đô
thị có một số loại hình GTCC như sau:
Nguyễn Việt Hùng KTPTA - QN
4
Chuyên đề tốt nghiệp
2.1. Tàu diện:
Đây là các loại phương tiện nói chung dạng tàu chạy trên mặt đất, có sức
chuyên chở lớn, giá thành vừa phải và không gây ô nhiễm môi trường. Song
chúng đều có chugn một nhược điểm là tính cơ động thấp vì phải hoạt động
trên tuyến đường sắt cố định, gây cản trở cho các phương tiện khác và phải có
nguồn dẫn năng lượng đi kèm suốt dọc tuyến hoạt động.
2.2. Tàu điện ngầm:
Đây là loại hình vận tải hành khách có quy mô cực lớn và được xây
dựng chủ yếu dưới lòng đất. Nó có ưu điểm là tiết kiệm quỹ đất do được đặt
dưới lòng đất, tốc độ cao, sức chuyên chở lớn, độ an toàn cao. Tuy nhiên nó
có nhược điểm là việc xây dựng phụ thuộc phần lớn vào địa hình, địa chất và
đòi hỏi vốn đầu tư lớn.
2.3. Xe điện:
Là loại hình vận tải hành khách bằng ô tô sử dụng năng lượng điện, có
tính cơ động cao và không gây ô nhiễm môi trường. Nhưng lại có nhược điểm
lớn là có tốc độ thấp, quãng đường đi ngắn và không liên tục do phải thay ắc

3.1. Tần suất hoạt động của hệ thống GTCC:
Xét theo mặt kỹ thuật thì hệ thống GTCC có công suất luồng khách lớn,
mật độ di chuyển cao. Luồng khách có sự biến động lớn theo từng thời điểm
khác nhau. Đặc điểm này đã dẫn tới sự không phù hợp giữa cung và cầu. Mức
cung là cố định (mặc dù có thể lớn) trong khi nhu cầu đi lại thì lại thay đổi
theo từng thời điểm và không cố định cho từng thời điểm nên không tránh
khỏi tình trạng dư thừa hoặc thiếu vào từng thời điểm khác nhau. Hoạt động
của các loại hình GTCC chỉ có thể diễn ra trên cự ly ngắn do phụ thuộc vào
quỹ đất với những tuyến cố định, các điểm đỗ trên tuyến và các bến đầu cuối.
Mà hệ thống GTCC lại đòi hỏi tính năng khai thác kỹ thuật khá cao, quy
mô lớn và vốn đầu tư lâu dài vì nó không chỉ đáp ứng nhu cầu của hiện tại mà
cả trong tương lai.
3.2. GTCC là một bộ phận của hệ thống cơ sở hạ tầng:
Nguyễn Việt Hùng KTPTA - QN
6
Chuyên đề tốt nghiệp
Bản thân hê thống GTCC là một bộ phận của cơ sở hậ tầng. Vì vậy nên
vốn đầu tư phát triển GTCC là đầu tư vào cơ sở hạ tầng. Việc đầu tư này đòi
hỏi một khối lượng vốn lớn và thu hồi lâu. Đặc điểm này đã làm cho việc thu
hút vốn đầu tư bị ảnh hưởng nhiều. Hơn nữa,việc đầu tư cũng không đơn giản
do phải làm sao để phân chia hợp lý nguồn vốn cho các cơ sở hạ tầng đồng bộ
để phục vụ việc vận tải như đầu tư cho các cơ sở vật chất ban đầu, phương
tiện vận tải, các công trình phục vụ có liên quan…
Ngoài ra, hệ thống GTCC còn ảnh hưởng tới sự đồng bộ trong các quy
hoạch của thành phố như xây dựng đường xá, hệ thống chiếu sáng, đèn báo
giao thông, quỹ đất của thành phố… từ đó làm thay đổi vô vàn các yếu tố
khác nữa trong không gian đô thị, tác động mạnh tới sự phát triển của đô thị.
3.3. Hệ thống GTCC mang tính xã hội hóa cao:
Một đặc điểm nữa của hệ thống GTCC là mang tính xã hội hoá cao. Việc
đầu tư cho GTCC là cung ứng cho xã hội một sản phẩm dịch vụ công cộng.

loạt các lợi ích khác như: Tiết kiệm thời gian đi lại của từng cá nhân trong xã
hội, từ đó tạo ra tổng sản phẩm xã hội, thu nhập cho từng cá nhân, tăng thời
gian dành cho học tập, giải trí và tái sản xuất sức lao động… Theo tính toán
của các nhà kinh tế, khi việc đi lại không thuận lợi, con người đã mất đi khoảng
20% giá trị thu nhập quốc dân. Và theo một thống kê khác, tiết kiệm thời gian
cũng tăng cường thời gian rảnh rỗi, mở rộng khả năng cung cấp nhân lực. Theo
đó, GTCC có khả năng cung cấp nhân lực gấp 15-20 lần so với loại hình giao
thông cá nhân. Có một hệ thống GTCC tốt cũng sẽ góp phần vào việc đảm bảo
trật tự công bằng xã hội vì nếu ách tắc giao thông xảy ra sẽ gây ra nhiều ảnh
hưởng tiêu cực đến tâm lý, chính trị, an toàn và ổn định xã hội.
Thứ hai, GTCC và hình ảnh của các loại hình GTCC cũng góp phần tăng
thêm tính hiện đại, văn minh của đô thị và làm tăng vẻ đẹp cảnh quan cho đô
thị. Hình ảnh của đường phố với sự nhộn nhịp của các phương tiện GTCC trở
nên hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài hơn vì họ đã quen với hình ảnh ở đất
nước của mình. Đặc biệt trong hoàn cảnh hiện nay của nước ta thì GTCC hiện
đại càng làm tăng thêm vai trò quốc tế của đô thị, thúc đẩy nhanh sự nghiệp
Nguyễn Việt Hùng KTPTA - QN
8
Chuyên đề tốt nghiệp
công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước.
Thêm nữa, GTCC còn góp phần bảo vệ môi trường đô thị, an toàn giao
thông và sức khỏe cho mọi người.
Nói tóm lại, GTCC không chỉ đơn thuần làm nhiệm vụ vận chuyển liên
kết giữa các khu vực trong và ngoài đô thị mà nó còn là một hoạt động mang
tính xã hội. Nhờ có GTCC mà chất lượng cuộc sống được cải thiện rõ rệt, con
người được đảm bảo hơn về sự an toàn khi tham gia giao thông cũng như
được bảo vệ tốt hơn khi ô nhiễm môi trường được hạ thấp xuống… Đồng
thời, GTCC cũng làm giảm sự cách biệt về không gian và thời gian giữa các
khu vực trong đô thị, vì thế mà người dân có thể lựa chọn cho mình nơi ở
thích hợp hơn, thuận tiện hơn, không phải giam hãm mình trong không gian

có tời trên 800.000 người thiệt mạng do tai nạn giao thông. Và tại Việt Nam
là khoảng 8.000 – 12.000 vụ tai nạn giao thông làm thiệt mạng khoảng 9.000
người mỗi năm, trong đó trên 50% là tai nạn xảy ra trong đô thị. Tại các thành
phố lớn của nước ta, hàng ngày có hàng chục tai nạn xảy ra mà chiếm tren
70% là do các phương tiện giao thông cá nhân như xe máy và xe đạp. Những
điều kiện tối thiểu của phương tiện đi lại ảnh hưởng không nhỏ tới sức khỏe
của hành khách, diều này làm giảm năng suất lao động của người dân đi lại
bằng phương tiện xe bus rõ ràng. Theo kết quả nghiên cứu tại Ba Lan thì ảnh
hưởng của việc chen lấn khi đi xe bus làm năng suất lao động giảm đi khoảng
30% vào giờ làm việc đầu tiên và 10% vào giờ làm việc tiếp theo.
Thứ tư, phát triển magnj lưới xe bus cũng góp phần bảo vệ môi trường
đô thị. Do việc đô thị hóa, việc gia tăng nguy cơ ô nhiễm môi trường từ các
phương tiện giao thông cá nhân cũng tăng lên gấp nhiều lần. Công cộng hó
phương tiện đi lại là một trong số các giải pháp hữu hiệu mang tính khả thi
nhằm tối thiểu hóa việc gia tăng ô nhiễm môi trường do đột biến về lượng
phương tiện giao thông cá nhân. Do vậy, tham gia giao thông bằng phương
tiện cá nhân làm cho bầu không khí trong sạch hơn và giảm bụi cũng như
tiếng ồn cho đô thị…
Nguyễn Việt Hùng KTPTA - QN
10
Chuyên đề tốt nghiệp
Cuối cùng, phát triển mạng lưới GTCC bằng xe bus là nhân tố đảm bảo
trật tự, ổn định xã hội. Một người dân thành phố bình quân đi lại 3 – 4
lần/ngày, thậm chí cao hơn ở những cự ly ngắn. Những hành trình này diễn ra
hầu như suốt ngày đêm, biểu hiện bằng dòng hành khách và phương tiện đi lại
dày đặc trên đường phố. Do vậy, nếu GTVT bị ách tắc thì ngoài thiệt hại về
kinh tế còn gây ra những ảnh hưởng tiêu cực về mặt tâm lý của người tham
gia giao thông, đẫn tới gây ảnh hưởng về mặt trật tự an toàn xã hội và chính
trị của quốc gia. Hiệu quả của hệ thống GTCC trong lĩnh vực xã hội là hết sức
quan trọng và nhiều khi không thể tính hết được.

đảm bảo cho mọi hoạt động kinh tế được diễn ra liên tục, nó đáp ứng nhu cầu
đầu vào của quá trình sản xuất và đảm bảo đầu ra cho người tiêu dùng. Phát
triển mạng lưới giao thông luôn có mối quan hệ chặt chẽ với phát triển sản
xuất vì sản xuất càng phát triển thì quá trình trao đổi hàng hóa càng diễn ra
mạnh mẽ và liên tục.
Mặt khác, tại các nơi có điều kiện giao thông phát triển thuận lợi thì sẽ
có sức hút mạnh mẽ cho các ngành kinh tế có khả năng phát triển.
Yếu tố kinh tế xã hội còn ảnh hưởng trực tiếp đến hình thức phát triển
của hệ thống giao thông. Các khu dân cư phát triển cùng với các cụm công
nghiệp với quy mô lớn luôn đòi hỏi phải có một hệ thống giao thông phù
hợp. Tuy nhiên mỗi lĩnh vực kinh tế lại đòi hỏi một hệ thống giao thông phát
triển với các mức độ khác nhau. Đối với ngành công nghiệp nặng trước hết
đòi hỏi có hệ thống giao thông vận tải có năng lực vận chuyển lớn, vì vậy có
mối quan hệ chặt chẽ với các đầu mới giao thông quan trọng. Ngược lại, các
ngành công nghiệp nhẹ như may mặc, dệt, chế biến lương thực… thì nhu cầu
về giao thông vận tải không lớn lắm song cũng rất cần thiết. Tuy có những
mối liên hệ khác nhau tùy từng lĩnh vực song việc đòi hỏi phải có một mạng
lưới giao thông là hết sức quan trọng.
Với xuất phát điểm chưa cao như hiện nay của nền inh tế, vốn đầu tư
cho mạng lưới giao thông còn hạn chế thì việc phát triển mạng lưới giao
Nguyễn Việt Hùng KTPTA - QN
12
Chuyên đề tốt nghiệp
thông như thế nào cho phù hợp lại là một bài toán không dễ có lời giải, đòi
hỏi phải có những bước phát triển thích hợp cho từng thời kì. Thời kì đầu nên
tận dụng các tiềm năng sẵn có để phát triển nhưng đến giai đoạn sau thì phải
dần hiện đại hóa mạng lưới giao thông.
1.3. Yếu tố tiến bộ khoa học kỹ thuật:
Khoa học kỹ thuật là động lực quan trọng thúc đẩy quá trình phát triển,
đồng thời làm giảm bớt những ảnh hưởng của các yếu tố khác tác động tới

sự hướng dẫn, tổ chức và chuyển giao công nghệ thì hoàn toàn có thể khơi
dậy các nguồn lực trong nhân dân để xây dựng các công trình giao thông thiết
yếu nhằm phục vụ cho đời sống và sinh hoạt của nhân dân.
1.6. Yếu tố trong quan hệ quốc tế:
Trong bối cảnh mở cửa nền kinh tế như hiện nay, đặc biệt là xu hướng
khu vực hóa và toàn cầu hóa đang diễn ra mạnh mẽ và tác động mạnh tới qua
trình phát triển và phân bố hệ thống giao thông của mỗi quốc gia. Phát triển
giao thông tại một quốc gia không chỉ ảnh hưởng tới sự lưu thông trong quốc
gia đó mà còn ảnh hưởng tới sự lưu thông của nhiều quốc gia khác. Nhìn
chung, sự phát triển mạng lưới giao thông phát triển từ thấp đến cao, từ thô sơ
đến hiện đại tùy theo sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia và mỗi thành phố.
Hệ thống giao thông phải có sự thống nhất và phù hợp với mạng lưới giao
thông của khu vực và thế giới để đáp ứng nhu cầu về giao lưu hàng hóa giữa
các quốc gia và trong khu vực.
2. Một số nhân tố ảnh hưởng tới sự phát triển của mạng lưới xe bus
ở Hà Nội:
2.1. Quá trình đô thị hóa:
Sự đô thị hóa các khu dân cư và hàng loạt các hoạt động kinh tế xã hội
trong vùng đô thị đã kéo theo hàng loạt các vấn đề khác. Việc tăng nhanh dân
số ở các đô thị làm cho nhu cầu đi lại của người dân tăng cao. Những nhu cầu
này làm đã đòi hỏi phải có một hệ thống GTCC đủ năng lực để đáp ứng nhu
cầu của con người về đi lại, từ đó thúc đẩy sự phát triển của mạng lưới xe bus.
Nguyễn Việt Hùng KTPTA - QN
14
Chuyên đề tốt nghiệp
Mặt khác, sự mở rộng quy mô đô thị đòi hỏi sự liên thông giữa các khu vực
của đô thị nên sự phát triển mạng lưới GTCC là cần thiết để đáp ứng việc giao
lưu giữa các khu vực.
2.2. Sự phát triển phương tiện giao thông cá nhân:
Do đời sống ngày một nâng cao, sự phát triển của các phương tiện

Không chỉ ở nước ta mà tại các thành phố lớn trên thế giới đã xem xét
một cách kĩ lưỡng việc lập kế hoạch ưu tiên xe bus để xác định vị trí thích
hợp cũng như phạm vi sử dụng xe bus ở các khu vực trong thành phố hay toàn
bộ thành phố.
Để thiết lập tuyến xe bus hoạt động. trước hết người ta xem xét việ thực
hiên kế hoạch điều tra và khỏa sát chính xác nhu cầu đi lại của hành khách,
các khả năng ưu tiên cho xe bú, các tuyến đường ưu tiên cùng với những
thuận lợi về cơ chế chính sách cho hoạt động của xe bus. Vào đầu thập kỉ 70,
một hệ thống ưu tiên xe bus đã được thực nghiệm tại một số thành phố trên
thế giới. Tại các nước phát triển tiên tiến, người ta đã dành đường ưu tiên cho
xe bus hoạt động và ưu tiên cho xe bus được đi qua các nút giao thông đồng
mức trước các loại phương tiện vận tải khác. Còn tại một số nước đang phát
triển, tuy cơ sở hạ tầng còn yếu kém, phạm vi hoạt động của xe bus còn hạn
chế và thường là ở đường hẹp và đường 2 chiều nhưng nhờ có sự ưu tiên nên
xe bus đã vận chuyển hành khách công cộng một cách có hiệu quả.
Tại một số thành phố phát triển cao trên thế giới như ở Hàn Quốc và
Trung Quốc, xe bus chuyên chở chiếm từ 40 – 50% số lượng phương tiện
giao thông trên đường. Điều này chứng tỏ xe bus là phương tiện chủ lực,
nhanh chóng và có hiệu quả nhất trong việc vận tải hành khách công cộng ở
các nước này. Việc này là điều có sức thuyết phục nhất cho các quyết định
dành đường ưu tiên cho xe bus hoạt động. Khi chương trình được đưa vào
thực hiện, tại Seul đã có trên 137 km đường dành riêng cho 38 tuyến xe bus
Nguyễn Việt Hùng KTPTA - QN
16
Chuyên đề tốt nghiệp
hoạt động. Và trên khắp các tuyến đường đều có sự hoạt động của xe bus, đặc
biệt là vào các giờ cao điểm. Thấy được ích lợi của việc ưu tiên xe bus, Seul
đã chủ động mở thêm các tuyến đường ưu tiên cho xe bus làm tăng hiệu quả
sử dụng xe bus lên 37,1% vào giờ cao điểm buổi sáng và 14,1% và giờ cao
điểm buổi chiều. Hơn nữa, tốc độ của xe bus trên đường ưu tiên đã tăng lên

cấp nên các công ty nhà nước này còn ỷ lại, dựa dẫm vào sự bù lỗ từ ngân
sách nhà nước nên chưa phát huy hết năng lực vận tải của mình.
Nhưng khi có sự tham gia của khối tư nhân vào việc vận tải hành khách
công cộng thì hầu hết các công ty tư nhân này đều phát huy vai trò vận tải của
xe bus và ít khi bị lỗ. Các công ty tư nhân này phải đóng thuế cho nhà nước
trên lợi nhuận thu được và tiền này dùng để nang cấp và cải tiến cũng như xây
dựng mới cơ sở hạ tầng giao thông vận tải.
Dưới đây là một số mô hình tổ chức quản lý vận tải hành khách công
cộng trên thế giới:
+ Mô hình tổng công ty: Đây là mô hình được áp dụng tại Trung Quốc và
một số nước XHCN trước đây. Theo mô hình này thì toàn bộ hệ thống
VTHKCC của một thành phố đều nằm trong một công ty, dưới cấp quản lý đó
là các đơn vị thành viên là doanh nghiệp nhà nước. Số lượng thành viên do số
lượng các hinh thức vận tải va quy mô, phạm vi hoạt động của từng phương
thức vận tải quyết định. Như vậy, với mô hình này thì chỉ có nhà nước là độc
quyền trong hoạt động VTHKCC và chỉ áp dụng trong điều kiện nhà nước đủ
khả năng tài chính để sản xuất và cung ứng dịch vụ VTHKCC.
+ Mô hình quản lý cơ quan nhà nước: Đặc điểm lớn nhất của mô hình
này là nhất thiết phải có một cơ quan quản lý nhà nước chịu trách nhiêm
chung cho việc VTHKCC trong thành phố. Cơ quan này chỉ đơn thuần thực
hiện chức năng quản lý nhà nước về VTHKCC thông qua việc cấp giấy phép
vận chuyển cho các đơn vị và cá nhân tham gia VTHKCC để điều phối, điều
tiết chung. Cơ quan này không thực hiện chức năng phối hợp giữa các đơn vị,
Nguyễn Việt Hùng KTPTA - QN
18
Chuyên đề tốt nghiệp
cá nhân tham gia vào quá trình VTHKCC.
+ Mô hình cổ phần: Trong mô hình này, công ty cổ phần VTHKCC sẽ
thực hiện chức năng quản lý sản xuất kinh doanh tới từng thành viên. CÒn
chính quyền thành phố chỉ thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với

thành phần khác được chính phủ quy định. Tại Braxin và một số nước khác
tại châu Âu, những viên chức làm việc cho nhà nước được nhận vé xe bus từ
công ty làm việc của họ. Việc này nhằm khuyến khích người dân sử dụng xe
bus làm phương tiện đi lại chính trong thành phố. Việc trả tiền vé xe bus do
công ty đảm nhiệm, các công nhân viên chức chỉ phải chi trả khoảng 1/10 giá
trị của vé xe bus đó.
Nhìn chung, công tác tổ chức vận tải hành khách công cộng ở các nước
trên thế giới là cấn đề được tất cả các chính phủ quan tâm. Để phát triển mạng
lưới VTHKCC bằng xe bus, người ta đưa ra cơ chế và chính sách nhằm tổ
chức mạng lưới xe bus có đủ khả năng đáp ứng hầu hết nhu cầu đi lại của cư
dân thành phố. Tại một số thành phố, người ta khuyến khích sử dụng xe bus
và hạn chế sử dụng các phương tiện cá nhân tham gia giao thông bằng các
biện pháp như: xét tiêu chuẩn người và phương tiện cá nhân tham gia giao
thông,nâng mức phi bến đỗ, dành quyền ưu tiên cho xe bus hoạt động, bao
cấp và trợ giá cho việc hoạt động của doanh nghiệp VTHKCC cũng như
người sử dụng phương tiện GTCC… Tất cả các biên pháp này đều nhằm mục
đích đẩy mạnh sự phát triển của công tác VTHKCC, giảm mật độ lưu thông
trên đường, tránh ách tắc, giảm thiểu tai nạn và bảo vệ môi trường đô thị.
2. Bài học rút ra về phát triển mạng lưới xe bus tại Hà Nội trong
những năm qua:
2.1. Cần phải có sự kết hợp giữa sủ dụng đất quy hoạch(quy hoạch
phát triển mạng lưới giao thông) và quy hoạch mạng lưới xe
bus:
Thực tế tại nhiều đô thị trên thế giới nói chung và tại nước ta nói riêng
đã chỉ ra rằng: cần phải có sự kết hợp hài hòa giữa quy hoạch sử dụng đất cho
Nguyễn Việt Hùng KTPTA - QN
20
Chuyên đề tốt nghiệp
GTVT đô thị và quy hoạch mạng lưới xe bus sao cho phù hợp ngay từ khi lập
kế hoạch phát triển đô thị, trong đó phải đảm bảo một diện tích thỏa đáng cho


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status