BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
KHOA: TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG
BÀI TẬP NHÓM
TÀI CHÍNH CÔNG
CHỦ ĐỀ 1:
HIỆU QUẢ VÀ CÔNG BẰNG TRONG PHÂN PHỐI
Giáo viên hướng dẫn: TS. Nguyễn Hòa Nhân
Nhóm thực hiện : Nhóm 1
Lớp : K26.TNH.ĐN2
Đà Nẵng, tháng 02, năm 2014
Bài tập nhóm Tài chính công GVHD: TS. Nguyễn Hòa Nhân
DANH SÁCH NHÓM 1:
1. Nguyễn Quốc Toàn
2. Lê Thị Lan Hương
3. Phan Thị Phương Dung
4. Lê Thị Thanh Thủy
5. Hoàng Thị Thắm
6. Đỗ Lê Quỳnh Thu
7. Lô Trần Ngọc Bích
Nhóm 1 – Lớp: K26.TNH.ĐN2
Bài tập nhóm Tài chính công GVHD: TS. Nguyễn Hòa Nhân
MỤC LỤC
Nhóm 1 – Lớp: K26.TNH.ĐN2
Bài tập nhóm Tài chính công GVHD: TS. Nguyễn Hòa Nhân
1. Đặc điểm tài chính công hiện đại, bản chất và chức năng tài chính công
1.1. Đặc điểm tài chính công hiện đại
Tài chính công được xem là các hoạt động tài chính của Nhà nước và mang một số
đặc điểm cơ bản sau:
- Gắn liền với sở hữu nhà nước, quyền lực chính trị của nhà nước: Nhà nước là chủ
thể duy nhất quyết định đến quá trình tạo lập và sử dụng quỹ công đặc biệt là quỹ ngân
- Bản chất chính trị: tài chính công thể hiện quyền lực chính trị của Nhà nước là
chủ thể duy nhất quyết định đến quá trình tạo lập và sử dụng quỹ công đặc biệt là quỹ
ngân sách nhà nước. Các quyết định của nhà nước được thể chế bằng luật do cơ quan
quyền lực cao nhất phê chuẩn. Việc tạo lập và sử dụng quỹ công phụ thuộc vào quan điểm
của nhà nước và các mục tiêu kinh tế-xã hội quốc gia đặt ra trong từng thời kì.
1.3. Chức năng tài chính công
1.3.1. Chức năng tạo lập vốn
Trong nền kinh tế thị trường, vốn tiền tệ là điều kiện và tiền đề cho mọi hoạt động
kinh tế-xã hội. Thực ra, chức năng tạo lập vốn là một khâu tất yếu của quá trình phân
phối, nên khi nói về chức năng của tài chính nói chung, người ta thường không tách riêng
ra thành một chức năng. Tuy nhiên, đối với tài chính công, vấn đề tạo lập vốn có sự khác
biệt với tạo lập của các khâu tài chính khác, nó giữ vai trò quan trọng và có ý nghĩa quyết
định đối với toàn bộ quá trình phân phối, vì vậy, có thể tách ra thành một chức năng riêng
biệt.
Chủ thể của quá trình tạo lập vốn là Nhà nước. Đối tượng của quá trình này là các
nguồn tài chính trong xã hội do Nhà nước tham gia điều tiết. Đặc thù của chức năng tạo
lập vốn của tài chính công là quá trình này gắn với quyền lực chính trị của Nhà nước. Nhà
nước sử dụng quyền lực chính trị của mình để hình thành các quỹ tiền tệ của mình thông
qua việc thu các khoản có tính bắt buộc từ các chủ thể kinh tế xã hội.
1.3.2. Chức năng phân phối lại và phân bổ
Chủ thể phân phối và phân bổ là nhà nước với tư cách là người nắm giữ quyền lực
chính trị. Đối tượng phân phối và phân bổ là các nguồn tài chính công tập trung trong
Nhóm 1 – Lớp: K26.TNH.ĐN2 Trang 2
Bài tập nhóm Tài chính công GVHD: TS. Nguyễn Hòa Nhân
ngân sách Nhà nước và các quỹ tiền tệ khác của Nhà nước, cũng như thu nhập của các
pháp nhân và thể nhân trong xã hội mà nhà nước tham gia điều tiết.
Thông qua chức năng phân phối, tài chính công thực hiện sự phân chia nguồn lực
tài chính công giữa các chủ thể thuộc Nhà nước, các chủ thể tham gia vào các quan hệ
kinh tế với Nhà nước trong việc thực hiện các chức năng vốn có của Nhà nước, chức năng
phân phối của tài chính công nhằm mục tiêu công bằng xã hội. Tài chính công, đặc biệt
Pareto) nếu từ đó người ta không có khả năng dịch chuyển tới một trạng thái khác sao cho
một nhóm người nào đó có thể trở nên khá giả hơn, đồng thời những người còn lại ít nhất
cũng không bị thiệt hại gì. Nói một cách khác, khi đã ở trạng thái có hiệu quả Pareto,
người ta không thể cải thiện lợi ích của một nhóm người nào đó (làm cho họ trở nên khá
giả hơn) mà lại không làm thiệt hại đến những người còn lại.
Ta có thể minh hoạ định nghĩa trên bằng cách sử dụng hình 1, mô tả các giới hạn
phân bổ hàng hóa giữa các nhóm xã hội. Giả sử trong xã hội có hai nhóm người X và Y.
Đường giới hạn AB cho biết số lượng hàng hóa tối đa mà nền kinh tế có thể tạo ra được
cho một nhóm khi một số lượng hàng hóa nhất định đã được sản xuất và phân bổ cho
nhóm kia. Những điểm nằm trên đường giới hạn AB đều là những điểm hiệu quả Pareto.
Chẳng hạn, xét một điểm E bất kỳ nằm trên đường giới hạn AB. Từ E, chúng ta không thể
dành nhiều hàng hóa hơn cho X mà lại không giảm số hàng hóa dành cho Y và ngược lại.
Trong khi đó, những điểm nằm phía trong đường giới hạn lại không phải là điểm hiệu
quả. Từ một điểm như điểm F (nằm trong đường giới hạn), bằng cách dịch chuyển lên
trên hoặc sang phải hoặc vừa sang phải lẫn lên trên song chưa đi ra ngoài đường giới hạn,
ta hoàn toàn có thể cải thiện lợi ích của X (hoặc của Y) mà không buộc Y (hoặc X) phải
nghèo đi.
Nhóm 1 – Lớp: K26.TNH.ĐN2 Trang 4
Bài tập nhóm Tài chính công GVHD: TS. Nguyễn Hòa Nhân
Có thể mở rộng cách hiểu "khá giả hơn", hoặc "nghèo đi". Chẳng hạn, trong phân
bổ nguồn lực để sản xuất hai loại hàng hóa X và Y, khi sản lượng X tăng lên ta coi điều
đó tương đương với X trở nên "khá giả hơn", còn nếu sản lượng X giảm được coi tương
đương với X trở nên "nghèo đi". Với cách hiểu quy ước như vậy, ta dễ dàng thấy các
điểm nằm trên đường giới hạn khả năng sản xuất mà chúng ta đã biết từ chương 1 cũng là
những điểm hiệu quả Pareto.
Từ khái niệm hiệu quả nói trên, có thể thấy điểm hiệu quả có thể không phải là một
điểm duy nhất. Trên các đường giới hạn chúng ta vừa nêu, tồn tại cùng một lúc một loạt
điểm hiệu quả - những điểm nằm trên đường giới hạn. Mặt khác, hiệu quả và công bằng là
những khái niệm khác nhau. Xã hội có đang ở một trạng thái hiệu quả song đó có thể
không phải là trạng thái công bằng được chấp nhận. Một điểm nằm trên đường giới
thức từ lâu đã được công nhận: khi nói đến việc cung cấp hàng hóa và dịch vụ thì các hệ
thống doanh nghiệp tự do tỏ ra rất năng suất và hiệu quả.
Nhóm 1 – Lớp: K26.TNH.ĐN2 Trang 6
Bài tập nhóm Tài chính công GVHD: TS. Nguyễn Hòa Nhân
Bản chất của cạnh tranh là tất cả mọi người cùng có chung các mức giá hàng hóa –
nghĩa là mỗi người sản xuất và người mua hàng là tương đối bé so với thị trường, do đó
hành động đơn lẻ của họ không thể tác động lên giá.
Kết quả cơ bản từ lý thuyết kinh tế cho biết rằng một công ty cạnh tranh tối đa hóa
lợi nhuận sản xuất sản phẩm đầu ra cho tới khi chi phí biên tế và giá bằng nhau.
Như vậy, cạnh tranh cùng với hành vi tối đa hóa của các cá nhân dẫn đến sự hiệu
quả.
Hiệu quả Pareto đòi hỏi rằng các mức giá phải có cùng tỷ lệ như chi phí biên tế, và
cạnh tranh bảo đảm thỏa mãn điều kiện này. Chi phí biên tế của một hàng hóa là chi phí
gia tăng đối với xã hội để cung cấp hàng hóa đó. Tính hiệu quả đòi hỏi rằng chi phí gia
tăng của mỗi hàng hóa được thể hiện trong giá của nó.
3.2. Sự thất bại thị trường
Bất kỳ lúc nào thị trường thất bại trong việc phân phối nguồn lực hiệu quả, các nhà
kinh tế học sẽ bao vây các nhóm nguyên nhân có thể gây ra sự thất bại này. Như ta đã nói
đến từ trước, một nền kinh tế có thể không hiệu quả theo hai nguyên nhân lớn – sức mạnh
thị trường và sự không tồn tại của các thị trường.
Sức mạnh thị trường:
Định lý phúc lợi thứ nhất chỉ đúng khi nào tất cả mọi người tiêu dùng và các công
ty là người chấp nhận các mức giá. Nếu một vài cá nhân hay công ty là những người làm
giá (người đặt giá cho hàng hóa hay họ có sức mạnh tác động lên giá), thì phân phối
nguồn lực về tổng thể sẽ không hiệu quả. Tại sao? Một công ty với sức mạnh thị trường
có thể tăng giá cao hơn mức chi phí biên tế bằng cách cung cấp ít hàng hóa đầu ra hơn
một công ty cạnh tranh có thể cung cấp. Do vậy, một trong các điều kiện cần cho hiệu quả
Pareto bị vi phạm. Điều này có nghĩa là một số lượng không đầy đủ các nguồn lực được
dành cho hàng hóa.
Hành vi làm giá có thể phát sinh trong nhiều bối cảnh khác nhau. Trường hợp nổi
trường là một ngoại tác, là trường hợp trong đó hành vi của một người tác động lên phúc
lợi của người khác theo các phương pháp ngoài thị trường hiện hành. Ví dụ, giả sử người
bạn sinh viên sống cùng phòng với bạn bắt đầu hút thuốc xì gà, làm ô nhiễm không khí và
làm cho bạn bị thiệt hại. Tại sao đây là một vấn đề hiệu quả? Người bạn cùng phòng đã
Nhóm 1 – Lớp: K26.TNH.ĐN2 Trang 8
Bài tập nhóm Tài chính công GVHD: TS. Nguyễn Hòa Nhân
tiêu dùng một loại hàng hóa khan hiếm là không khí sạch khi anh ta hút thuốc. Dù vậy,
không có tồn tại thị trường không khí sạch để buộc anh ta phải chi trả cho điều này. Do
đó, anh ta chi trả với mức giá là bằng không cho không khí sạch và đã “lạm dụng” nó. Hệ
thống giá đã thất bại trong việc cung cấp các dấu hiệu chính xác về chi phí cơ hội của
hàng hóa.
Kinh tế học phúc lợi cung cấp một khuôn khổ lý thuyết hữu ích để sy nghĩ về các
ngoại tác. Hoàn toàn giả thiết rằng chi phí biên tế có nghĩa là chi phí biên tế xã hội – nó
bao hàm trong giá trị gia tăng của tất cả nguồn lực sử dụng trong sản xuất. Trong ví dụ
hút thuốc trên, dù vậy, chi phí biên tế của anh bạn cùng phòng hút thuốc trên là bé hơn chi
phí biên tế xã hội bởi vì anh ta không phải trả tiền cho không khí sạch mà anh ta đã sử
dụng. Giá của một điếu thuốc, trong đó thể hiện chi phí biên tế cá nhân hút thuốc, không
thể hiện chính xác chi phí biên tế xã hội của nó. Do vậy, phân phối các nguồn lực là
không hiệu quả. Ngẫu nhiên, một tác động ngoại vi có thể tích cực (mang lại lợi ích) và
có thể tiêu cực. Chúng ta nghĩ về ví dụ nhà sinh học phân tử công bố một nghiên cứu về
kỹ thuật kết nối gen có thể được các công ty dược phẩm sử dụng. Trong trường hợp một
ngoại tác tích cực, số lượng của hoạt động có ích do thị trường tạo ra là nhỏ về tính không
hiệu quả.
Liên quan rất gần với tác động ngoại vi là trường hợp của hàng hóa công, một loại
hàng hóa có tính không loại trừ trong tiêu dùng – nghĩa là một người tiêu dùng hàng hóa
này không ngăn cản bất cứ ai khác cũng làm như thế. Một ví dụ cổ điển của hàng hóa
công là ngọn hải đăng. Khi các ngọn đèn hiệu bật sáng, tất cả các tàu bè trong cả vùng lân
cận đều được hưởng lợi. Sự thật là một người sử dụng trước các dịch vụ của ngọn hải
đăng không thể ngăn người khác đồng thời cũng làm như vậy.
Trong việc sử dụng hải đăng, người ta có thể có động lực giấu đi sở thích thực của
Hiệu quả: Tối đa hóa giá trị với nguồn lực cho trước, hay tối thiểu hóa nguồn lực
để đạt giá trị cho trước.
Công bằng: Phân phối của cải một cách hài hòa giữa các thành viên trong xã hội.
“Đánh đổi”: Để tăng tính công bằng, xã hội phải thực hiện phân phối lại thu nhập,
dẫn đến giảm động cơ làm việc, do đó giảm hiệu quả.
Nhóm 1 – Lớp: K26.TNH.ĐN2 Trang 10
Bài tập nhóm Tài chính công GVHD: TS. Nguyễn Hòa Nhân
Xã hội có thể phải đánh đổi giữa hiệu quả và công bằng. Hiệu quả ám chỉ quy mô
của chiếc bánh kinh tế, còn công bằng nói lên chiếc bánh đó được chia như thế nào.
Người ta càng cố gắng cắt chiếc bánh đó thành nhiều phần bằng nhau thì những miếng
bánh đó ngày càng nhỏ lại.
Ví dụ thực tế: Giữa 2 công ty cung cấp bia, công ty bia rượu Hà Nội và công ty bia
rượu Sài Gòn. Giữa 2 công ty có sự thoả thuận về thị trường tiêu thụ sản phẩm của mình.
Lấy Quảng Bình làm điểm giới hạn, từ Quảng Bình trở ra phía Bắc là thị trường độc
quyền bán hàng của công ty bia rượu Hà Nội, từ Quảng Bình trở vào phía Nam là thị
trường độc quyền bán hàng của công ty bia rượu Sài Gòn. Ngoài thị trường của mình ra,
công ty bia rượu Hà Nội không tiêu thụ hàng của mình ở thị trường của công ty bia rượu
Sài Gòn và ngược lại để đảm bảo quyền lợi cho cả hai.
Đối với chính phủ: mục đích của họ là tối đa hoá lợi ích xã hội, chính phủ lựa chọn
chính sách nào để đem lại lợi ích phúc lợi cho xã hội, sử dụng chính sách như thế nào để
đạt được mục đích tốt nhất, hiệu quả nhất đòi hỏi chính phủ phải đối mặt với sự đánh
đổi…
Ví dụ: để bảo trợ các nhà sản xuất ôtô trong nước phát triển, chính phủ đã đánh
thuế nhập khẩu rất cao đối với các công ty ôtô của nước ngoài, hòng nhằm giảm bớt sức
mạnh cạnh tranh về giá cả của những công ty này, nhưng những mức thuế được đánh vào
những chiếc ôtô nhập khẩu lại đựoc những nhà cung cấp ôtô nước ngoài chuyển vào giá
bán của từng chiếc ôtô khiến người tiêu dùng trong nước muốn mua những chiếc ôtô đó
phải mua với giá cao hơn ở trên thế giới rất nhiều lần.
Trong nhiều chương trình chi tiêu, luôn có sự lựa chọn (đánh đổi) giữa các mục
tiêu hiệu quả và công bằng (phân phối lại thu nhập cho những người cần thiết). Có thể