Phân tích thâm hụt cán cân thương mại của Việt Nam giai đoạn hiện nay - Pdf 12

Phân tích thâm hụt cán cân thương mại của Việt Nam
giai đoạn hiện nay
ThS. Nguyễn Thị Hiền
1
Trong mấy năm gần đây, nền kinh tế nước ta đã trải qua những
thăng trầm do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu cũng
như xuất phát từ nội tại của nền kinh tế: tăng trưởng cao nhưng chưa ổn
định, lạm phát tăng cao (năm 2008) và đặc biệt hơn nữa đó là tình trạng
thâm hụt cán cân vãng lai bắt nguồn từ thâm hụt cán cân thương mại ngày
càng gia tăng. Bên cạnh đó, do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính
toàn cầu và hiện trạng môi trường đầu tư của Việt Nam chưa được cải
thiện như mong đợi, dòng vốn đầu tư trực tiếp và gián tiếp nước ngoài
vào Việt Nam chưa tăng trưởng vững chắc. Hiện trạng này chắc chắn sẽ
gây sức ép không nhỏ đến cán cân thanh toán quốc tế về khả năng chống
đỡ các cú sốc bên ngoài và tính bền vững của nền kinh tế khi dự trữ ngoại
hối của Việt Nam có xu hướng thu hẹp. Từ thực trạng trên, bài viết này
với mong muốn làm rõ đâu là nguyên nhân sâu xa tác động đến trạng thái
của cán cân vãng lai và sức chịu đựng thâm hụt của nó đối với cán cân
thanh toán quốc tế để từ đó đưa ra giải pháp cải thiện.
Diễn biến cán cân vãng lai
Cán cân thanh toán quốc tế Việt Nam được theo dõi và ghi nhận
theo Sổ tay Cán cân thanh toán quốc tế của IMF (IMF’s Balance of
Payments Manual 5- 1993). Là một bộ phận chính yếu trong cán cân
thanh toán quốc tế, cán cân vãng lai ghi nhận các giao dịch thương mại
quốc tế về hàng hóa và dịch vụ, thu nhập và chuyển giao ròng từ nước
ngoài. Kể từ năm 1989, khi nền kinh tế bắt đầu có những chuyển đổi quan
trọng, tình trạng thâm hụt cán cân vãng lai của Việt Nam giảm nhanh.
Sau năm 1993, Việt Nam bắt đầu tìm kiếm các nguồn tài trợ từ nhiều
nước và cán cân vãng lai bắt đầu thâm hụt trở lại với mức độ ngày càng
lớn cho đến năm 1996, khi mức thâm hụt lên tới 9,9% so với GDP. Mức
thâm hụt được co hẹp trở lại trong hai năm 1997 - 1998 và đạt thặng dư

13,67% so với GDP vào năm 2008. Thêm vào đó, theo các chuyên gia
kinh tế
1
, nguồn gốc sâu xa của tình trạng trên đó chính là năng lực xuất
khẩu của hàng hóa Việt Nam khi chưa thực sự tham gia vào chuỗi cung
ứng của khu vực cũng như trên thế giới. Giá trị gia tăng trong nhóm hàng
xuất khẩu thấp và chỉ tập trung vào một số mặt hàng chủ lực chính nên rất
dễ bị tổn thương khi có các cú “shock” từ bên ngoài. Trong khi đó, nhu
cầu nhập khẩu để chế biến hàng xuất khẩu, phục vụ xây dựng cơ sở hạ
tầng, trong những năm qua tùng nhanh đáng kể.
Tình trạng thâm hụt cán cân vãng lai được bù đắp đáng kể bởi nguồn
thu nhập từ chuyển giao vốn vãng lai (viện trợ và kiều hối) và các giao
dịch kinh tế khác thuộc cán cân vốn và tài chính. Biểu đồ 1 ở trên cho
thấy, lượng kiều hối chuyển về Việt Nam và các dòng vốn chảy vào Việt
Nam đóng vai trò quan trọng để bù đắp thiếu hụt của cán cân vãng lai
trong thời gian qua, đặc biệt là trong hai năm 2007 - 2008. Tuy nhiên, do
tác động của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008, lượng kiều
hối chuyển về nước có phần giảm sút mạnh thời gian qua tạo nên sức ép
thâm hụt đối với cán cân vãng lai cũng như cán cân thanh toán quốc tế
của Việt Nam. Nguồn vốn đầu tư nước ngoài trực tiếp, đầu tư gián tiếp và
vay nợ nước ngoài dài hạn, ổn định cũng là những hình thức được sử
dụng để bù đắp cho sự thiếu hụt cán cân thương mại, cán cân vãng lai và
có vai trò quyết định đến khả năng chịu đựng thâm hụt cán cân vãng lai
trong thời gian qua. Đặc biệt là vai trò của nguồn vốn hỗ trợ chính thức
ODA và FDI trong việc bù đắp thâm hụt cán cân vãng lai và cải thiện dự
trữ ngoại hối. Tỷ trọng nguồn vốn vay ODA hằng năm luôn chiếm tới 73
đến 78% trong tổng nợ nước ngoài của Chính phủ Việt Nam.
Nguyên nhân thâm hụt cán cân vãng lai
Có thể nói, nguyên nhân sâu xa của tình trạng thâm hụt cán cân vãng
lai đều xuất phát từ sự mất cân đối, chênh lệch giữa tiết kiệm và đầu tư

năm gần đây do chênh lệch tốc độ lạm phát của Việt Nam so với Mỹ và
các nước đối tác thương mại chính đã góp phần làm giảm sức cạnh tranh
về giá hàng hóa Việt Nam trên thị trường thế giới. Thực tế này một phần
lý giải tình trạng thâm hụt cán cân thương mại của Việt Nam trong thời
gian qua trở nên lớn hơn (biểu đồ 2).
Biểu đồ 2: Tỷ giá thực song phương, đa phương và tỷ lệ xuất khẩu so với
nhập khẩu (X/M) của Việt Nam trong thời gian qua
Nguồn: Tác giả tính toán dựa trên số liệu của CEIC Database
Thứ hai, hiện tượng tăng trưởng nóng của thị trường chứng khoán
Việt Nam trong thời gian 2007 làm cho luồng tiền đầu tư gián tiếp chảy
vào Việt Nam. Sự biến động này là do chênh lệch lãi suất của trái phiếu
chính phủ Việt Nam với trái phiếu chính phủ các nước khác. Vì vậy,
luồng tiền này vô hình chung làm cho nhu cầu đầu tư và tiêu dùng của
Việt Nam tăng lên, trong khi xu hướng tiết kiệm của người Việt Nam
đang giảm rõ nét. Ngoài ra, kể từ khi Việt Nam gia nhập WTO, dòng vốn
đầu tư trực tiếp FDI chảy vào Việt Nam, đặc biệt là các dự án đầu tư bất
động sản khi liên quan đến nhập khẩu mà không tạo ra giá trị gia tăng
xuất khẩu trực tiếp, cũng đã góp phần làm cho tình trạng thâm hụt cán
cân vãng lai, cán cân thương mại trở nên nghiêm trọng trong thời gian
qua.
Thứ ba, vấn đề thâm hụt ngân sách nhà nước cũng thường đi kèm
với thâm hụt cán cân vãng lai. Cũng như Mỹ, tình trạng thâm hụt cán cân
vãng lai của Việt Nam có phần xuất phát từ nguyên nhân thâm hụt ngân
sách nhà nước. Thâm hụt ngân sách cao (năm 2009: 6,9% GDP) cộng với
nợ công (và nợ công có bảo đảm) tăng lên 45% so với GDP là minh
chứng cho sự thâm hụt cán cân vãng lai ngày càng gia tăng của Việt Nam
(biểu đồ 3).
Biểu đồ 3. Mức thâm hụt ngân sách nhà nước so với GDP trong thời
gian qua
Nguồn: IMF Country Report No 09/110, Tham vấn điều IV của IMF,

khẩu; nợ gốc/xuất khẩu và tỷ lệ nhập khẩu/xuất khẩu. Mô hình này chỉ ra
rằng, nếu tỷ lệ nợ/xuất khẩu có xu hướng tăng theo theo gian, tín hiệu này
cho thấy quốc gia đó đều ở trong tình trạng nợ và thâm hụt cán cân thanh
toán không bền vững, nguy hiểm. Ngược lại, khi chỉ số này theo chiều
hướng giảm xuống, sẽ là tín hiệu tốt về khả năng trả nợ nước ngoài của
quốc gia đó. Ở góc độ bài viết này tập trung phân tích theo cách tiếp cận
thứ hai.
• Mức thâm hụt cán cân vãng lai so với GDP (biểu đồ 4)
Biểu đồ 4. Mức thâm hụt cán cân vãng lai, cán cân thương mại của Việt
nam (1991-2009)
Nguồn: Tác giả tổng hợp từ số liệu của CEIC Database
Biểu đồ 2 ở trên cho thấy, bước sang năm 2002 trở đi, tình trạng
thâm hụt cán cân vãng lai lại tiếp tục tiếp diễn. Tuy nhiên, mức thâm hụt
có xu hướng giảm dần và ở mức không đáng kể cho đến năm 2006. Đáng
chú ý, trong 3 năm trở lại đây (2007 - 2009), khi nền kinh tế Việt Nam
hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế thế giới, thâm hụt cán cân vãng lai tăng
đột biến, đạt mức kỉ lục là 10,3% năm 2008 và cán cân này thâm hụt lên
tới 9,2 tỷ USD. Đây là mức thâm hụt cao nhất trong hơn 10 năm trở lại
đây, được coi là đáng báo động vì theo chuẩn mực quốc tế (khả năng chịu
đựng của cán cân vãng lai nằm trong khoảng 5% GDP). Tương tự, cán
cân thương mại Việt Nam trong thời gian qua cũng ở mức 14-15% so với
GDP trong khi mức chuẩn mực quốc tế là 10%. Thâm hụt lớn về thương
mại và cán cân vãng lai trong những năm gần đây chắc chắn sẽ ảnh
hưởng đến khả năng bền vững của nền kinh tế, đặc biệt sẽ tạo nên áp lực
giảm giá đồng nội tệ.
* Thâm hụt cán cân vãng lai và khả năng trả nợ của nền kinh tế
Xét theo tiêu chí này, có thể thấy, chỉ số nợ nước ngoài so với GDP
của Việt Nam có xu hướng ổn định giao động từ 30 đến 35%. Năm 2008,
chỉ số này có xu hướng cải thiện hơn so với năm 2007 và ở mức 29,8%.
Nếu xét theo chuẩn mực quốc tế, ngưỡng an toàn 40% thì đây là mức khá

Công thương 9/2009
Dự trữ ngoại hối tương đương với số tháng nhập khẩu
4.1
Tổng dự trữ ngoại hối
Tóm lại, kết quả phân tích tình trạng thâm hụt và khả năng chịu
đựng thâm hụt của cán cân vãng lai ở trên cho thấy, thâm hụt cán cân
vãng lai của Việt Nam bắt nguồn từ thâm hụt cán cân thương mại.
Nguyên nhân sâu xa của thực trạng này là do năng lực sản xuất hàng xuất
khẩu Việt Nam còn quá thấp so với khu vực, trong khi đó nhu cầu nhập
khẩu để chế biến xuất khẩu với giá trị gia tăng thấp, nhu cầu nhập khẩu
cho xây dựng cơ sở hạ tầng (tăng theo FDI) làm cho tăng trưởng nhập
khẩu Việt Nam luôn vượt quá tốc độ tăng trưởng xuất khẩu. Nguồn bù
đắp thâm hụt cán cân vãng lai chủ yếu từ chuyển giao vốn vãng lai, đầu
tư nước ngoài (FDI, FPI) và vay nợ nước ngoài. Trong ngắn hạn, tình
trạng thâm hụt cán cân vãng lai của Việt Nam sẽ gây sức ép đến cán cân
thanh toán và dự trữ ngoại hối. Để cải thiện tình trạng thâm hụt cán cân
vãng lai bắt nguồn từ thâm hụt cán cân thương mại, Việt Nam cần có
nhiều biện pháp đồng bộ nhằm nâng cao năng lực sản xuất và cạnh tranh
đối với hàng xuất khẩu Việt Nam. Để thực hiện được mục tiêu này, các
chính sách về tỷ giá, chính sách phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ, tái
cơ cấu ngành sản xuất, chính sách khuyến khích đầu tư có chọn lọc cần
được rà soát lại theo hướng nâng cao sức cạnh tranh của hàng hóa xuất
khẩu Việt Nam trên cả 2 phương diện về giá cả và chất lượng, thương
hiệu. Có như vậy, Việt Nam mới có khả năng cải thiện cán cân thương
mại, cán cấn vãng lai, từ đó giảm sức ép đối với cán cân thanh toán và dự
trữ ngoại hối của Việt Nam trong dài hạn.
1
Paul Baker, Vietnam’s Balance of Payments: Short and Medium Term Perspectives and suggested
economic policy measures, Tài liệu hội thảo phân tích thâm hụt cán cân thương mại của Việt Nam
và những quy định về cán cân thanh toán quốc tế của WTO, Bộ Công thương, tháng 9/2009


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status